đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nhằm thực thi có hiệu quả Luật Cạnh tranh - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Nhìn lại hai mươi năm đổi mới kể từ năm 1986, chúng ta đã đạt được
những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử trên cả hai mặt lí luận và
thực tiễn. “Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, Đảng ta chủ trương giải
quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đây là một hướng chiến lược thể hiện bản chất ưu
việt của chế độ ta. Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành
mạnh hoá xã hội, thể hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ để
phát triển sản xuất, thực hiện bình đẳng trong quan hệ xã hội, khuyến khích nhân
dân làm giàu hợp pháp” [1, tr.33]. Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được,
chúng ta vẫn còn những yếu kém và khuyết điểm, không ít vấn đề bức xúc nảy
sinh chưa được giải quyết, đặc biệt “trong những năm qua tình hình tội phạm
diễn biến phức tạp, nhiều vụ án xảy ra với tính chất, hậu quả rất nghiêm trọng,
đặc biệt nghiêm trọng” [10, tr.1].
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước ta có nhiệm vụ bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước cũng như của nhân dân. Với vai trò là
nền tảng kinh tế xã hội của quốc gia, chế độ sở hữu là một trong những vấn đề
trọng yếu được Nhà nước bảo vệ bằng mọi biện pháp trong đó biện pháp pháp lý
hình sự thể hiện kiên quyết nhất ý chí quyền lực Nhà nước trong xử lý các hành
vi xâm phạm tới chế độ sở hữu. Trong số các tội xâm phạm sở hữu, tội trộm cắp
tài sản là tội xâm phạm trực tiếp tới quyền sở hữu tài sản, nó xảy ra khá phổ
biến. Ở mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước đều có những quy định về tội trộm
cắp tài sản và biện pháp xử lý nhằm đấu tranh loại bỏ tội phạm khỏi đời sống xã
hội. Những năm gần đây tội trộm cắp tài sản diễn biến phức tạp gây hậu quả
ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Riêng
“thành phố Hà Nội trong năm 2006 đã thụ lý xét xử 1555 vụ trộm cắp tài sản,
2016 bị cáo, chiếm 26,9%, gây thiệt hại 17.362.096.769 đồng” [10, tr.4]. Nhờ sự
phối hợp chặt chẽ của các cơ quan bảo vệ pháp luật, hoạt động xét xử của ngành
toà án từng bước được nâng cao, số lượng các bản án bị huỷ đã giảm, song bên
cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại khuyết điểm mà một trong những nguyên nhân là
các cơ quan bảo vệ pháp luật không đánh giá đúng bản chất của hành vi phạm

tội trộm cắp tài sản qua các giai đoạn để thấy được sự phát triển của các quy
định về tội trộm cắp tài sản, đồng thời có so sánh quy định pháp luật về tội trộm
cắp tài sản với các quy định khác của BLHS để thấy được những điểm hợp lý và
chưa hợp lý trong các quy định đó.
Khoá luận có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn, những kết quả
nghiên cứu của khoá luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác
nghiên cứu khoa học pháp luật hình sự, đồng thời có thể phục vụ thiết thực cho
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Để nghiên cứu toàn diện về tội trộm cắp tài sản, ngoài phần mở đầu, kết
luận và danh mục tài liệu tham khảo, tác giả đã chia khoá luận làm hai chương.
Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của tác giả, trong quá
trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, với tinh thần học hỏi cầu tiến
tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn. Qua đây, tác
giả muốn bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến thầy giáo hướng dẫn đã giúp đỡ tác
giả, cảm ơn bạn bè đã luôn ủng hộ để tác giả có thể hoàn thành tốt khoá luận
này.
Xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I
LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP
TÀI SẢN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY VÀ DẤU HIỆU PHÁP LÝ
CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999
1. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản từ năm 1945
đến nay
Tội trộm cắp tài sản là một trong những tội phạm xuất hiện từ rất sớm và
khá phổ biến. Từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà ra đời, để bảo vệ tài sản là nền tảng vật chất của xã hội, ở
mỗi giai đoạn Nhà nước đều ban hành các quy định về tội trộm cắp tài sản nhằm
đấu tranh loại bỏ tội phạm khỏi đời sống xã hội.
1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi ban hành

của công dân làm ra, của cải thu nhập một cách hợp pháp hoặc để dành được
như tiền bạc, xe cộ, nhà cửa... và những đồ dùng riêng khác”.
Điều 7 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN quy định tội
trộm cắp tài sản XHCN như sau:
“1. Kẻ nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ sáu tháng
đến năm năm. 2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a. Có tính chất
chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b. Có tổ chức; c. Có móc ngoặc; d.
Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; e. Trộm cắp tài sản với số lượng lớn hoặc
tài sản có giá trị đặc biệt; f. Dùng tài sản trộm cắp được vào việc kinh doanh,
bóc lột, đầu cơ, hoặc vào những việc phạm tội khác thì bị phạt tù từ ba tháng đến
hai năm. 3. Phạm tội trong trường hợp số tài sản bị xâm phạm rất lớn hoặc có
nhiều tình tiết nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt
tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình”.
Trong thời kì này, Nhà nước cũng chú trọng bảo vệ tài sản riêng của công
dân, Điều 6 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân quy
định tội trộm cắp tài sản riêng của công dân như sau: “1. Kẻ nào trộm cắp tài
sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm. 2. Phạm tội thuộc
những trường hợp sau: a. Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm;
b. Có tổ chức; c. Dùng thủ đoạn xảo quyệt; d. Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời
sống của người bị thiệt hại hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ
hai năm đến mười năm. 3. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm” [6, tr.713].
Hai bản Pháp lệnh trên thể hiện nguyên tắc cơ bản của Nhà nước ta là:
kiên quyết bảo vệ tài sản XHCN, coi tài sản XHCN là thiêng liêng và bất khả
xâm phạm; quán triệt nguyên tắc: Nhà nước bảo hộ tài sản riêng của công dân,
chống mọi hành vi xâm phạm, bất kì ai có hành vi xâm phạm đến tài sản của
Nhà nước và tài sản riêng của công dân đều phải được phát hiện kịp thời và xử
lý nghiêm minh. Đồng thời Pháp lệnh cũng thể hiện nguyên tắc xử lý người
phạm tội là: nghiêm trị bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn tái phạm, bọn phạm
tội có tổ chức, bọn lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, xử lý nhẹ hoặc

tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
Điều 155 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản của công dân như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không
giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm. 2. Phạm tội
thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm:
a. Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b. Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy
hiểm, hành hung để tẩu thoát; c. Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu
quả nghiêm trọng khác; d. Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội trong trường hợp
đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm”.
BLHS 1985 đã trở thành một cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xử lý
người phạm tội, song vẫn còn sự phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản XHCN và
tội trộm cắp tài sản của công dân, theo đó người phạm tội trộm cắp tài sản
XHCN bị xử lý nghiêm khắc hơn người phạm tội trộm cắp tài sản của công dân,
điều đó thể hiện đường lối xử lý của Nhà nước ta đối với người phạm tội trộm
cắp tài sản. Qua bốn lần sửa đổi bổ sung, BLHS 1985 không còn là một chỉnh
thể thống nhất cần có một BLHS mới thay thế, vì vậy BLHS 1999 đã ra đời thay
thế BLHS 1985 trên cơ sở có kế thừa và phát triển cho phù hợp với điều kiện xã
hội.
1.3. Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999
Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hướng XHCN, các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật đòi hỏi
phải xem xét rà soát lại một cách toàn diện các tội phạm về kinh tế, về sở hữu để
có những sửa đổi bổ sung thích hợp cả về mặt dấu hiệu pháp lý cũng như chính
sách xử lý nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
trong giai đoạn mới. Ngày 21-12-1999 Quốc hội khoá X đã thông qua BLHS
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (Bộ luật có hiệu lực từ
ngày 1-7-2000). Bộ luật có quy định rất cụ thể về nhóm tội xâm phạm sở hữu
nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng. Điều 138 BLHS 1999 quy định tội
trộm cắp tài sản như sau:

Ở mỗi giai đoạn lập pháp hình sự, Nhà nước đều ban hành các quy định
về tội trộm cắp tài sản và đường lối xử lý người phạm tội, song các văn bản
pháp luật đều không đưa ra khái niệm về tội trộm cắp tài sản, như vậy cần tìm
hiểu thế nào là tội trộm cắp tài sản.
Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, trộm cắp tài sản
được hiểu là “hành vi lén lút bí mật đối với người quản lý tài sản để chiếm đoạt
tài sản”. Cũng có cách hiểu trộm cắp tài sản là “hành vi lén lút chiếm đoạt tài
sản của người khác” [11, tr.196]. Như vậy trộm cắp tài sản là hành vi chiếm
đoạt tài sản, tính chất của hành vi là lén lút bí mật và đối tượng là tài sản đang
có người quản lý.
Trên cơ sở khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS: “Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do
người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý...”, có
thể đưa ra khái niệm về tội trộm cắp tài sản như sau: Tội trộm cắp tài sản là
hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản được
pháp luật bảo vệ.
Trên đây là khái niệm chung nhất về tội trộm cắp tài sản, để hiểu được
tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản cần nghiên cứu về các
dấu hiệu pháp lý của nó. Tội phạm là thể thống nhất của bốn yếu tố: khách thể,
mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể. Tội trộm cắp tài sản cũng bao gồm bốn
yếu tố cơ bản trên, trước hết cần nghiên cứu về khách thể của tội phạm.
2.1. Khách thể của tội trộm cắp tài sản
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
và bị tội phạm xâm hại. Bất kì tội phạm nào cũng đều xâm hại đến một hoặc một
số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ bằng cách gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó. Những đối tượng được
xác định cần bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật hình sự bao gồm: “Độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp

khi có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, dù tài sản đó có thuộc quyền
sở hữu hợp pháp của chủ tài sản hay không thì vẫn là trộm cắp tài sản.
Khi nghiên cứu khách thể của tội phạm không thể không tìm hiểu đối
tượng tác động của tội phạm vì mỗi tội phạm đều xâm hại tới khách thể nhất
định thông qua việc tác động đến một đối tượng cụ thể. Là quan hệ xã hội nên
khách thể của tội phạm được cấu thành bởi ba bộ phận là chủ thể của quan hệ xã
hội (con người), đối tượng của quan hệ xã hội (các vật, hiện tượng tồn tại khách
quan), nội dung của quan hệ xã hội (sự hoạt động bình thường của các chủ thể).
Khách thể của tội phạm không tách rời các bộ phận cấu thành, vì vậy khi xâm
hại tới khách thể thì hành vi phạm tội phải tác động đến các bộ phận cấu thành
nên khách thể làm biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận đó. Các bộ
phận cấu thành nên khách thể bị hành vi phạm tội tác động nhằm gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể bảo vệ của luật hình sự gọi là đối tượng
tác động của tội phạm. Đối với tội trộm cắp tài sản, hành vi phạm tội là hành vi
chiếm đoạt tài sản của người khác, đó là sự dịch chuyển một cách trái pháp luật
tài sản của người khác thành tài sản của mình làm biến đổi tình trạng bình
thường của tài sản. Vì vậy đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản,
nhưng không phải mọi tài sản đều có thể trở thành đối tượng tác động của tội
trộm cắp tài sản, để trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản thì tài
sản đó phải có những đặc điểm nhất định. Trước hết tài sản đó phải là tài sản của
người khác, đang có sự quản lý. Hành vi lấy đi tài sản của mình, do mình quản
lý hoặc tài sản không còn nằm trong sự quản lý của chủ tài sản như tài sản bị bỏ
quên, đánh rơi, tài sản vô chủ, hoặc tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu
thì không phải là hành vi trộm cắp tài sản mà có thể cấu thành tội khác như tội
chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141 BLHS). Tài sản là đối tượng tác động của
tội trộm cắp tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể có giá trị và giá
trị sử dụng, Điều 163 BLDS 2005 quy định: “Tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá và các quyền tài sản”.
“Vật” có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản nếu nó
nằm trong sự chiếm hữu của con người, “tiền” bao gồm tiền Việt Nam và tiền

đúng đối tượng tác động của tội phạm.
Để tìm hiểu về những biểu hiện bên ngoài của tội trộm cắp tài sản cần
nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm với những dấu hiệu pháp lý của nó.
2.2. Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài của tội
phạm bao gồm: Hành vi (khách quan) nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm
cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy
hiểm; cũng như những biểu hiện bên ngoài khác liên quan đến việc thực hiện tội
phạm như: công cụ phương tiện, địa điểm, thời gian phạm tội...
Biểu hiện thứ nhất thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi phạm
tội. BLHS quy định tội phạm phải được thể hiện bằng hành vi, theo đó hành vi
khách quan của tội phạm là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới
khách quan được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển, có tính nguy hiểm cho xã
hội và được quy định trong BLHS. Theo cách hiểu truyền thống từ xưa đến nay
cũng như thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, hành vi khách quan của tội
trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. “Chiếm
đoạt” dưới góc độ pháp lý là việc cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài
sản của người khác thành tài sản của mình, làm cho chủ tài sản không có khả
năng thực hiện được quyền chủ sở hữu đối với tài sản đó trên thực tế mặc dù về
mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất đi quyền sở hữu tài sản của mình.
Hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản phải có tính chất lén lút (được
thực hiện bằng thủ đoạn lén lút). “Lén lút” được hiểu là hành vi cố ý giấu diếm,
vụng trộm không để lộ ra do có ý gian [15, tr.467]. “Lén lút” chiếm đoạt tài sản
trong tội trộm cắp tài sản là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm
bất minh, vụng trộm, giấu diếm không để lộ ra cho người khác biết nhằm chiếm
đoạt tài sản của người khác, nó có đặc điểm khách quan là “lén lút” và ý thức
chủ quan của người phạm tội cũng là “lén lút”. Hành vi chiếm đoạt được coi là
“lén lút” nếu được thực hiện bằng hình thức có khả năng không cho phép chủ
tài sản biết khi hành vi này xảy ra, ví dụ: lợi dụng lúc chủ nhà đi vắng, người
phạm tội đã đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản; ý thức chủ quan của người phạm

hoặc người có trách nhiệm đối với tài sản (gọi là người quản lý tài sản). Chủ sở
hữu tài sản theo quy định của pháp luật dân sự là người có đầy đủ ba quyền
năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản, những quyền
năng này được pháp luật ghi nhận bảo vệ và không bị giới hạn, gián đoạn. Đối
với người quản lý tài sản, trước hết “quản lý” được hiểu là trông coi giữ gìn
theo những yêu cầu nhất định (Theo Từ điển tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học,
Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003). Như vậy, người quản lý tài sản là người đang
nắm giữ, trông coi, bảo vệ tài sản nhưng không phải chủ sở hữu và không có
quyền định đoạt tài sản đó; người quản lý tài sản có thể là người trực tiếp quản
lý tài sản khi tài sản đang nằm trong sự chi phối trực tiếp của họ hoặc là người
quản lý gián tiếp khi họ không trực tiếp nắm giữ tài sản nhưng do tính chất công
việc nên họ có trách nhiệm trông coi bảo vệ tài sản (ví dụ: tiền của cơ quan do
thủ quỹ trực tiếp quản lý nhưng hết giờ làm việc bảo vệ có trách nhiệm trông coi
số tài sản đó) hoặc khi tài sản đó là của cơ quan nhà nước nhưng để ở nơi công
cộng phục vụ sinh hoạt chung như: công tơ điện do người trông coi trạm biến áp
quản lý nhưng được đặt ở các cột điện bên đường. Người quản lý tài sản cũng có
thể là người quản lý trong trường hợp bình thường khi được chủ sở hữu giao
quản lý tài sản thông qua hợp đồng trông giữ tài sản, hoặc là người quản lý tài
sản trong trường hợp đặc biệt khi có sự kiện pháp lý xảy ra sẽ phát sinh trách
nhiệm quản lý tài sản (thực tế thường là trường hợp người đó tự nguyện đứng ra
trông coi quản lý tài sản cho chủ sở hữu, ví dụ: khi chủ nhà đi vắng thì nhà bị
cháy, hàng xóm đã dập đám cháy và bảo vệ tài sản cho chủ nhà chờ khi chủ nhà
về sẽ giao lại tài sản, hoặc khi chủ sở hữu không có điều kiện bảo vệ tài sản của
mình, ví dụ: A và B đang đi xe trên đường thì bị tai nạn, A ngất đi còn B vẫn
tỉnh táo, khi đó phát sinh trách nhiệm quản lý tài sản của B đối với tài sản của
A).
Trong những trường hợp trên, bất kể đó là chủ sở hữu hay người quản lý
tài sản, người quản lý trực tiếp hay gián tiếp, người quản lý trong trường hợp
bình thường hay trường hợp đặc biệt thì người phạm tội muốn chiếm đoạt tài sản
đều phải “lén lút” với những người này.

trăm nghìn đồng trở lên- trong trường hợp thông thường), dựa vào mức giá trị tài
sản bị chiếm đoạt điều luật đã phân chia thành các khung hình phạt tương ứng
với các mức độ hậu quả đó.
Nội dung biểu hiện thứ ba thuộc mặt khách quan của tội phạm là mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Theo nguyên
tắc của luật hình sự Việt Nam: một người chỉ phải chịu TNHS về hậu quả nguy
hiểm cho xã hội do chính hành vi của họ gây ra, tức là giữa hành vi phạm tội và
hậu quả có mối quan hệ nhân quả với nhau. Luật hình sự Việt Nam không quy
định thế nào là mối quan hệ nhân quả, nhưng dựa vào cặp phạm trù nhân - quả
của phép biện chứng duy vật có thể xác định được mối quan hệ nhân quả đó là
hành vi nguy hiểm cho xã hội phải có trước, là nguyên nhân gây nên hậu quả
nguy hiểm cho xã hội; đồng thời hậu quả đó chính là kết quả của hành vi nguy
hiểm cho xã hội. Đối với tội trộm cắp tài sản, hậu quả thiệt hại về tài sản (mất tài
sản) chính là kết quả của hành vi trộm cắp tài sản.
Khi nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm không thể không tìm hiểu
về mặt chủ quan của tội phạm bởi lẽ tội phạm là sự thống nhất giữa mặt khách
quan và mặt chủ quan, giữa những biểu hiện bên ngoài và hoạt động tâm lý bên
trong.
2.3. Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội
phạm bao gồm: lỗi của người phạm tội, mục đích phạm tội, động cơ phạm tội;
trong đó lỗi là yếu tố được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm.
Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý...”. Nguyên tắc lỗi là nguyên tắc cơ bản trong luật
hình sự Việt Nam, một người chỉ phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm cho xã
hội khi họ có lỗi trong khi thực hiện hành vi đó. Người thực hiện hành vi bị coi
là có lỗi nếu họ có sự tự do lựa chọn thực hiện hành vi đó trong khi họ có đủ
điều kiện lựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Do vậy, lỗi được
hiểu là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi và hậu quả nguy hiểm

với việc xác định ý thức chủ quan của người phạm tội trong trường hợp “xâm
phạm tài sản của Nhà nước” được quy định là tình tiết tăng nặng TNHS còn có
nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng việc áp dụng tình tiết tăng
nặng đó phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội, nếu họ biết rõ tài
sản đó là của Nhà nước mà vẫn chiếm đoạt thì áp dụng tình tiết tăng nặng đó,
còn nếu họ không thể biết hoặc thực sự có sai lầm cho rằng tài sản đó là của
công dân thì không áp dụng tình tiết tăng nặng đó, có quan điểm cho rằng cứ có
hành vi “xâm phạm tài sản của Nhà nước” là áp dụng tình tiết tăng nặng không
cần xác định ý thức chủ quan của người phạm tội. Theo tác giả, việc xác định ý
thức chủ quan của người phạm tội trong trường hợp này là điều cần thiết, nếu
người phạm tội biết rõ tài sản đó là của Nhà nước mà vẫn chiếm đoạt thì áp
dụng tình tiết tăng nặng “xâm phạm tài sản của Nhà nước”, nếu người phạm tội
không thể biết tài sản đó là của Nhà nước hoặc họ thực sự có sai lầm cho rằng
tài sản đó không phải của Nhà nước thì không áp dụng tình tiết tăng nặng đó,
còn trong trường hợp khi chiếm đoạt người phạm tội không cần biết tài sản đó là
của Nhà nước hay của công dân thì nếu tài sản đó là của Nhà nước sẽ áp dụng
tình tiết tăng nặng “xâm phạm tài sản của Nhà nước”, nếu tài sản đó không phải
là tài sản của Nhà nước thì không áp dụng tình tiết tăng nặng đó, với cách hiểu
như vậy sẽ hợp lý hơn đồng thời có tác dụng răn đe những người biết rõ tài sản
đó là của Nhà nước, có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội mà vẫn chiếm đoạt.
Biểu hiện thứ hai thuộc mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản là mục đích
phạm tội. Mục đích phạm tội được hiểu là kết quả mà người phạm tội hướng tới,
nhằm đạt được khi thực hiện tội phạm. Mục đích của người phạm tội trộm cắp
tài sản là mục đích chiếm đoạt. Người phạm tội mong muốn chiếm đoạt được tài
sản của người khác biến nó thành tài sản của mình. Hành vi trộm cắp tài sản là
hành vi chiếm đoạt tài sản, hành vi này đã thể hiện được mục đích của người
phạm tội, tuy nó không được nhà làm luật quy định trong cấu thành tội phạm
nhưng nó là dấu hiệu bắt buộc, mục đích này luôn được đặt ra trước khi người
phạm tội thực hiện tội phạm. Ngoài ra còn phải kể đến động cơ phạm tội, đó là
động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm. Động cơ phạm

ấy là đến mười lăm năm tù, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy
hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy
là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.
Ngoài hai dấu hiệu năng lực TNHS và tuổi chịu TNHS, một số tội còn đòi
hỏi chủ thể phải có những dấu hiệu đặc biệt gọi là chủ thể đặc biệt của tội phạm.
Đối với tội trộm cắp tài sản, chủ thể của tội phạm là chủ thể bình thường, đó là
người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định. Theo đó, người từ đủ 14 tuổi
nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3, 4
Điều138 BLHS; người từ đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản
trong mọi trường hợp phạm tội.
Như vậy, chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có
năng lực TNHS đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản được quy định tại Điều
138 BLHS.
3. Đồng phạm và các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản
3.1. Đồng phạm trộm cắp tài sản
Tội phạm nói chung cũng như tội trộm cắp tài sản nói riêng không chỉ
thực hiện bởi một người mà có thể được thực hiện bởi nhiều người mà giữa họ
đã có sự thống nhất ý chí cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp phạm tội đặc
biệt này trong khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm.
“Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một
tội phạm” (Điều 20 BLHS), do đó đồng phạm trộm cắp tài sản là trường hợp có
hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội trộm cắp tài sản. Từ khái niệm trên có
thể rút ra một số dấu hiệu về đồng phạm trộm cắp tài sản như sau:
Thứ nhất, dấu hiệu về mặt khách quan: đồng phạm trộm cắp tài sản phải
có từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện là chủ thể của tội
phạm (từ đủ 14 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp không có năng lực
TNHS), ví dụ: A 17 tuổi và B 19 tuổi đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp
tài sản có giá trị 10 triệu đồng; dấu hiệu thứ hai là những người đồng phạm đó
cùng thực hiện tội trộm cắp tài sản.
Họ có thể tham gia thực hiện tội trộm cắp tài sản với một trong các hành

Hiện nay, xuất hiện rất nhiều các băng, ổ nhóm chuyên trộm cắp tài sản
có người tổ chức lên kế hoạch cho việc thực hiện tội phạm gây thiệt hại lớn cho
xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội, ví dụ vụ án Trần Văn
A và Hoàng Văn B thường trú tại Hà Nội đã thành lập băng nhóm chuyên trộm
cắp tài sản là máy vi tính với địa bàn hoạt động chủ yếu là phường Tân Mai và
Hoàng Văn Thụ, chúng đã phân công cho đàn em điều tra nghiên cứu kĩ mục
tiêu, lên kế hoạch chu đáo cho việc thực hiện tội pham vì vậy chỉ trong khoảng
thời gian ngắn chúng đã liên tiếp thực hiện được nhiều vụ trộm cắp máy tính với
tổng trị giá tài sản lên đến vài trăm triệu đồng.
Chính vì tính nguy hiểm cao hơn của hình thức đồng phạm này so với
hình thức đồng phạm thông thường nên điều luật quy định tình tiết “phạm tội có
tổ chức” là tình tiết định khung tăng nặng.
Đối với đồng phạm trộm cắp tài sản, không chỉ có đồng phạm hành động
mà còn có đồng phạm không hành động, đó là trường hợp những người đồng
phạm trộm cắp tài sản không hành động phạm tội, ví dụ: A đã thoả thuận với B
là bảo vệ của cơ quan không khoá cửa kho để đến đêm A vào kho lấy trộm tài
sản của cơ quan. Trong trường hợp này A và B là đồng phạm trộm cắp tài sản, A
là người thực hành còn B là người giúp sức (không hành động phạm tội).
3.2. Các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản
Tội phạm không phải lúc nào cũng được thực hiện đến cùng mà có thể
được thực hiện ở những mức độ khác nhau do nhiều nguyên nhân, trong khoa
học luật hình sự gọi là các giai đoạn thực hiện tội phạm.
Nghiên cứu các giai đoạn thực hiện tội phạm giúp xác định đúng TNHS
của người phạm tội, ở mỗi giai đoạn phạm tội BLHS có quy định khác nhau về
TNHS của người phạm tội. Để nghiên cứu tội trộm cắp tài sản một cách toàn
diện, cần nghiên cứu về các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản.
Theo đó, các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội
phạm cố ý bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn
thành.
3.2.1. Chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản

tội phạm, có thể người phạm tội mới thực hiện được hành vi đi liền trước hành
vi khách quan như người phạm tội đang mở khoá định đột nhập vào nhà lấy
trộm tài sản thì bị chủ nhà phát hiện, hoặc người phạm tội đã thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản nhưng chưa thực hiện được đến cùng chưa gây thiệt hại tài
sản, ví dụ: người phạm tội đang giấu tài sản vừa chiếm đoạt được thì bị chủ tài
sản phát hiện thu giữ..., ở đây người phạm tội không thực hiện được tội phạm
đến cùng là do nguyên nhân ngoài ý muốn chứ bản thân người phạm tội muốn
thực hiện tội phạm đến cùng nhằm chiếm đoạt được tài sản, do đó họ phải chịu
TNHS về tội phạm đó (theo quy định tại Điều 18 BLHS).

Trích đoạn Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 3, 4 Điều 138 BLHS Hình phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với người phạm tội trộm cắp tài sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status