TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI MÔ HÌNH
NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ NGHI TRUNG,
HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
Tên sinh viên : Phạm Thị Thúy An
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Lớp : KTNNB – K53
Niờn khoá : 2008 - 2012
Giáo viên hướng dẫn : Lương Thị Dân
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT 1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1
MỤC LỤC i
PHẦN I : TÍNH CẤP THIẾT 2
PHẦN II : TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
i
PHẦN I : TÍNH CẤP THIẾT
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện
và to lớn. Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản
xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc
an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên
thị trường thế giới. Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp,
dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới, chúng ta từ
một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương
thực của nước ngoài, nay đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế
nông thôn; cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực này thiếu đồng bộ, thiếu
tính đột phá; một số chủ trương, chính sách không hợp lý, thiếu tính khả thi
nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sung kịp thời; đầu tư từ ngân sách nhà nước và
các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn thấp, chưa
đáp ứng yêu cầu phát triển; tổ chức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà
nước còn nhiều bất cập, yếu kém; vai trò của các cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong việc triển khai các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nhiều nơi
còn hạn chế.
Trước tình hình đó, xõy dựng nông thôn theo mô hình nông thôn mới là
quá trình tất yếu và cần thiết mà Đảng và Nhà Nước cần quan tâm trong tiến
trình đổi mới đất nước theo mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa, đưa nước ta
tiến lên xã hội chủ nghĩa. Ngày 10/11/1998, Bộ chính trị đưa ra nghị quyết số 06
NQ-TW về “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nụng thụn”, Nghị quyết đã
nêu ra công việc cần thiết hiện nay là cần phải xây dựng một mô hình nông thôn
mới đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước. Ngày 27/4/2001 Bộ trưởng Bộ nông
3
nghiệp và phát triển nông thôn đã đưa ra chỉ thị số 49/2001/CT-BNN/CS về việc
“Xõy dựng mô hình thí điểm phát triển nông thôn (cấp xó)”. Và tại Hội nghị lần
thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-
NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm
thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Để người dân hiểu rõ hơn
về chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới, ngày 16/4/2009, Thủ tướng
Chính phủ ra Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông
thôn mới cùng với hướng dẫn thực hiện hoàn thành các tiêu chí đó. Đây là cơ sở
quan trọng để Việt Nam xây dựng nông thôn theo các tiêu chí mới, giải quyết tốt
hơn vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phù hợp với yêu cầu CNH - HĐH
đất nước.
Trong những năm gần đây, xây dựng mô hình nông thôn mới là một trong
những vấn đề thời sự được quan tâm hàng đầu. Các chương trình thí điểm được
mật độ dân số, cụ thể số lượng dân cư ở nông thôn thường thấp hơn so với thành
thị.
Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ
tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô
thị.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị
trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn
có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là
thấp hơn.
Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vựng cú dân cư làm nông
nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản
xuất nông nghiệp. Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và
từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp
dụng cho từng nền kinh tế.
5
Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời
gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể
hiểu “Nụng thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông
dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và
môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ
chức khỏc” (TS. Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).
- Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là chính sách về một mô hình phát triển cả
về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh
vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan
hệ với các chính sách khỏc, cỏc lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính
tổng thể khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí.
Vì vậy, khái niệm nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không
phải là Thị tứ; Thứ hai, là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền
thôn; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí
thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành
công CNH - HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hiểu một cách chung nhất của mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới
là hướng đến một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại,
có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị.
Vì vậy, có thể quan niệm: “Mụ hình nông thôn mới là tổng thể những đặc
điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng
yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn
được xây dựng so với mô hình nông thôn củ (truyền thống, đó cú) ở tính tiên
tiến về mọi mặt”. (Cam Thành Nam Cam Ranh, 2011).
7
2.1.2 Sự cần thiết phải xây nông thôn mới ở nước ta
Có thể nói, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới chủ trương, chính sách
phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta thì nông nghiệp
được xem là mặt trận hàng đầu, chú trọng các chương trình lương thực, thực
phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế trang trại, đẩy mạnh
CNH - HĐH nông thôn, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở… đã bắt đầu tạo ra những yếu tố mới trong phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Bên cạnh đó, nhà nước ta đã và đang phối hợp với các tổ
chức, các tổ chức xã hội trong nước để xúa đúi giàm nghèo cải thiện môi trường
thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn. Các chủ trương của Đảng, chính
sách của nhà nước ta đã và đang đưa nền nông nghiệp tự túc tự cấp sang nền
nông nghiệp hàng hóa. Những thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp,
nông thôn thời kỳ đổi mới là rất to lớn, tuy nông nghiệp nông thôn nước ta vẫn
tiềm ẩn những mâu thuẫn, thách thức và bộc lộ những hạn chế không nhỏ như:
Thứ nhất: Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát
- Hiện nay, nông thôn đang thiếu quy hoạch, tự phát, có khoảng 23% xó
cú quy hoạch nhưng thiếu đồng bộ, tầm nhìn ngắn, chất lượng chưa cao. (Theo
tài liệu của BTG Trung ương, 2010)
chênh lệch giàu nghèo ở thành thị và nông thôn, giữa cỏc vựng ngày càng cao.
Chênh lệch thu nhập giữa 10% nhóm người giàu và 10% nhóm người nghèo
nhất là 13,5 lần.
- Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn cao (16,2%). (Theo tài liệu của
BTG Trung ương, 2010).
Thứ tư: Các vấn đề văn hóa - môi trường - giáo dục - y tế còn hạn chế
- Giỏo dục mầm non: Còn 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn rất thấp (khoảng 12,8%). (Theo tài liệu
của BTG Trung ương, 2010).
9
- Mức hưởng thụ về văn hóa của người dân thấp, những vấn đề xã hội ở
nông thôn vẫn phát sinh nhiều vấn đề bức xúc, bản sắc văn hóa dân tộc ngày
một mai một, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng.
- Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển.
- Môi trường sống ô nhiễm.
- Số trạm y tế đạt chuẩn quốc gia thấp, vai trò của trạm y tế dự phòng của
trạm y tế còn hạn chế.
Thứ năm: Hệ thống chính trị còn yếu (nhất là trình độ và năng lực điều
hành)
- Trong hơn 81000 công chức xã: 0,1% chưa biết chữ, 2,4% tiểu học,
21,5% trung học cơ sở, 75,5% trung học phổ thông.
- Về trình độ chuyên môn: Chỉ có 9% có trình độ đại học, cao đẳng,
32,4% trung cấp, 9,8% sơ cấp, 48,7% chưa qua đào tạo
- Về trình độ quản lý nhà nước: Chưa qua đào tạo là 44%, chưa qua đào
tạo tin học là 87%. (Theo tài liệu của BTG Trung ương)
Góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên và nhằm đưa nghị
quyết nông thôn của Đảng đi vào cuộc sống, thì một trong những việc cần làm
trong giai đoạn này là xây dựng mô hình nông thôn mới đáp ứng yêu cầu CNH -
HĐH và hội nhập nền kinh tế thế giới.
2.1.3 Các nội dung và chỉ tiêu của mô hình nông thôn mới
dòng họ, gia đình.
Về môi trường
Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, sinh thái. Bảo vệ rừng đầu nguồn,
chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công
nghiệp để nông thôn phát triển bền vững.
11
Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình nông thôn mới có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau. Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình
hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp
lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần. Nhân dân
tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách. Trên tinh thần đú, cỏc
chính sách kinh tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình
nông thôn mới.
2.1.3.2 Các nội dung chủ yếu của mô hình nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới không phải chỉ nhằm xây dựng con đường, kênh
mương, trường học, hội trường mà cỏi chớnh là qua cách làm này sẽ tạo cho
người nông dân hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa và thúc đẩy họ tự tin, tự quyết,
đưa ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra một nông thôn mới năng động hơn.
Phải xác định rằng, đây không phải là đề án đầu tư của Nhà nước mà là việc
người dân cần làm, để cuộc sống tốt hơn, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần.
Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng thôn về tiềm năng, lợi thế, năng lực
của cán bộ, khả năng đóng góp của nhõn dõn… từ đó xác định nhu cầu và nội
dung hoạt động của đề án. Xột trờn khía cạnh tổng thể, những nội dung chủ yếu
trong xây dựng mô hình nông thôn mới là:
Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cho cộng đồng
- Nâng cao năng lực cộng đồng trong việc quy hoạch, thiết kế, triển khai
thực hiện, quản lý điều hành các chương trình dự án trên địa bàn thôn.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp về
phát triển nông thôn bền vững.
- Nâng cao trình độ dân trí của người dân
làm phi nông nghiệp
13
- Đối với những nông thôn chưa có nghề phi nông nghiệp: để phát triển
được ngành nghề nông thôn cần tiến hành “cấy nghề” cho những địa phương
còn trắng nghề.
- Đối với những nông thôn đó cú nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng cho
lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lý môi
trường, hỗ trợ tư vấn thị trường để phát triển bền vững.
Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất
- Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng, chuyển đổi
ruộng đất, khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại với
nhiều loại hình kinh tế trang trại thích hợp.
- Hỗ trợ xây dựng mặt bằng cụm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng
nghề, chế biến sau thu hoạch, giao thông, thủy lợi nội đồng.
Xây dựng nông thôn gắn liền với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở
nông thôn
Vấn đề bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường từ việc quản lý nguồn cấp
nước, thoát nước đến quản lý thu gom rác thải nông thôn cũng đã trở nên đáng
báo động. Đã đến lúc cơ quan địa phương cần có những biện pháp quản lý môi
trường địa phương mình như: Xây dựng hệ thống xử lý rác thải, tuyên truyền
nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, xây dựng hệ thống quản lý
môi trường ở khu vực mình một cách chặt chẽ.
Phát triển cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc ở nông thôn
Thông qua các hoạt động ở nhà văn hóa làng, những giá trị mang đậm nét
quờ đó được lưu truyền qua các thế hệ, tạo nên những phong trào đặc sắc mang
hồn quê Việt Nam riêng biệt, mộc mạc - chân chất - thắm đượm tình quê hương.
Xã hội hóa các hoạt động văn hóa xã hội ở nông thôn, trước hết xuất phát từ xây
dựng làng văn hóa, nhà văn hóa làng. Phong trào này phải được phát triển trên
diện rộng và chiều sâu.
hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn bản sắc văn hóa tốt đẹp: Đạt
- Tiêu chí thứ 2: Giao thông
+ Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn
theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT: 100%
+ Tỷ lệ km đường trục thôn được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của
Bộ GTVT: 70%
+ Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận
tiện: 70%
+ Tỷ lệ km đường ngừ, xúm sạch và không lầy lội vào mùa mưa: 100% (70%
cứng hóa)
- Tiêu chí thứ 3: Thủy lợi
+ Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh: Đạt
+ Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa: 85%
- Tiêu chí thứ 4: Điện nông thôn
+ Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện: Đạt
+ Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn: 98%
- Tiêu chí thứ 5: trường học
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, THCS có cơ sở vật chất
đạt chuẩn quốc gia: 80%
- Tiêu chí thứ 6: Cơ sở vật chất văn hóa
+ Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT-DL: Đạt
+ Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ
VH-TT-DL: 100%
- Tiêu chí thứ 7: Chợ nông thôn
Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng: Đạt
- Tiêu chí thứ 8: Bưu điện
+ Có Internet đến thôn: Đạt
16
+ Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông: Đạt
- Tiêu chí thứ 9: Nhà ở dân cư
+ Cỏn bộ xã đạt chuẩn: Đạt
+ Cú đủ các tổ chức hệ thống cơ sở theo quy định: Đạt
+ Đảng bộ chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch vững mạnh”: Đạt
+ Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đạt danh hiệu tiên tiến trở lên: Đạt
- Tiêu chí thứ 19: An ninh trật tự xã hội
+ An ninh, trật tự xã hội được giữ vững: Đạt
Xã đạt chuẩn nông thôn mới là xã đạt được 19 tiêu chí cụ thể đó.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về xây dựng mô hình nông thôn mới trên
thế giới
Trong bối cảnh nền kinh tế khu vực và thế giới phát triển như vũ bão, để
nông nghiệp và nông thôn nước ta phát triển mạnh mẽ sánh bước cựng cỏc nước
trên thế giới thì việc tham khảo học tập kinh nghiệm phát triển nông nghiệp,
nông thôn của các nước trên thế giới là một yếu tố quan trọng tác động đến sự
phát triển kinh tế nước ta hiện nay.
2.2.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Vào những năm đầu 60 Hàn Quốc vẫn là nước chậm phát triển, nông
nghiệp là hoạt động kinh tế chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu vực nông
thôn, nông dân quen sống trong cảnh nghèo nàn, an phận, thiếu tinh thần trách
nhiệm. Do vậy nhiều chính sách mới về phát triển nông thôn ra đời nhằm khắc
phục tình trạng trên.
Bài học của Hàn Quốc về phát triển nông thôn đáng để nhiều nước quan
tâm và suy ngẫm. Cùng với nhiều biện pháp quan trọng khác, Hàn Quốc đã đặt
mục tiêu là làm thay đổi suy nghĩ thụ động và tư tưởng ỷ lại của phần lớn người
dân nông thôn. Từ đó sẽ làm cho nông dân có niềm tin và tích cực với sự nghiệp
18
phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, độc lập và có tính cộng đồng cao.
Trọng tâm của cuộc vận động phát triển nông thôn này là phong trào xây dựng
"làng mới" (Saemoul Undong).
Tổ chức phát triển nông thôn được thành lập chặt chẽ từ trung ương đến cơ
đại hóa của cả Hàn Quốc, đồng thời đưa thu nhập quốc dân Hàn Quốc đạt đến
tiêu chí của một quốc gia phát triển.
2.2.1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Trung Quốc xuất phát từ một nước nông nghiệp, đại bộ phận người lao
động sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Nên cải cách kinh tế ở nông thôn là
một khâu đột phá quan trọng trong cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc. Vì vậy
từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã chọn hướng phát triển nông
thôn bằng cách phát huy những công xưởng nông thôn thừa kế được của các
công xã nhân dân trước đây, thay đổi sở hữu và phương thức quản lý để phát
triển mô hình "công nghiệp hưng trấn". Các lĩnh vực như chế biến nông lâm sản,
hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp… đang
ngày càng được đẩy mạnh.
Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích
hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường. Chính phủ hỗ trợ, nông dân
xây dựng. Với mục tiêu "ly nông bất ly hương", Trung Quốc đã thực hiện đồng
thời 3 chương trình phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn:
- Chương trình đốm lửa: Điểm khác biệt của chương trình này là trang bị
cho hàng triệu nông dân các tư tưởng tiến bộ khoa học, bồi dưỡng nhân tài đốm
lửa, nâng cao tố chất nông dân. Sau 15 năm thực hiện, chương trình đã bồi
dưỡng được 60 triệu thanh niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học
cốt cán, tạo ra một động lực tiềm năng thúc đẩy nông thôn phát triển, theo kịp
với thành thị.
20
- Chương trình được mùa: Chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp
dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp,
nông thôn. Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3
lần so với những năm đầu 70. Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các
nông sản chuyên dụng, phát triển chất lượng và tăng cường chế biến nông sản
phẩm.
- Chương trình giúp đỡ vựng nghốo: Mục tiêu là nâng cao mức sống của
- Tín dụng nông nghiệp.
- Mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp tương ứng với sự thay đổi lao
động và đầu tư.
- Dịch chuyển cơ cấu thị trường.
- Cải thiện phúc lợi xã hội cho nông dân.
=> Như vậy, kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc, Đài Loan,
Trung Quốc cho thấy: Dù đây là các quốc gia đi trước trong vấn đề hiện đại hóa
nhưng họ đều tương đối chú trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển nông
thôn, đồng thời tích lũy được nhiều kinh nghiệm phong phú. Các cách làm này
chủ yếu bao gồm: Kịp thời điều chỉnh mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn,
quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp; Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp
hiện đại; Cố gắng nâng cao thu nhập cho nông dân; Nâng cao trình độ tổ chức
cho người nông dân; Thúc đẩy đổi mới kỹ thuật, bồi dưỡng nông dân theo mô
hình mới.
Đối với Đảng và nhà nước ta cũng vậy, xây dựng đất nước dựa trên phát
triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nước ta đã chủ trương đẩy mạnh CNH-
HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm mục tiêu phát triển nông thôn theo hướng
hiện đại, đảm bảo phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Đi theo đường lối của
Đảng, từng địa phương trong cả nước tiến hành phát triển kinh tế mà trước hết là
22
phát triển kinh tế nông nhiệp, nông thôn, trong đó cú chỳ trong phát triển công
nghiệp nông thôn góp phần vào CNH - HĐH đất nước.
2.2.2 Xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam
Nông thôn Việt Nam là một địa bàn chiến lược chiếm vị trí đặc biệt quan
trọng trong lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn luôn coi trọng vai trò của nông thôn, mà gắn liền với nó là nông
nghiệp, nông dân. Ngay trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới ở vùng
giải phóng với 3 nội dung chủ yếu: “Thi đua tăng gia sản xuất để diệt giặc đói,
thi đua học chữ quốc ngữ để diệt giặc dốt, thi đua giúp đỡ bộ đội, xây dựng dân
tâm, chiếm 96,9% tổng số xó. Cỏc đường liờn thụn, liên xã được bê tông hóa,
nhựa hóa ở các mức độ khác nhau, chiếm 64,8% tổng số xã. (GS. TS Phùng Hữu
Phú và cộng sự, 2009).
Đảng và Chính phủ Việt Nam đã xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là cơ sở để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng
nhân tài. Công tác giáo dục và đào tạo ở nông thôn đã được chú trọng. Hệ thống
trường học các cấp tiếp tục được mở rộng về số lượng và cơ bản xóa trường, lớp
tạm. Năm 2006, có 88,3% số xó cú trường mẫu giáo; 99,3% số xó cú trường tiểu
học, 90,8% số xó cú trường trung học cơ sở, 10,8% số xó cú trường trung học
phổ thông. Đến nay, có 54,5% số thụn cú lớp mẫu giáo, 16,1% số thôn có nhà
trẻ… (GS. TS Phùng Hữu Phú và cộng sự, 2009).
Hệ thống y tế nông thôn được quan tâm xây dựng rộng khắp và trở thành
tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu quan trọng cho nhân dân. Năm 2006, có 9013
xó cú trạm y tế, chiếm 99,3% tổng số xã. Bình quân một trạm y tế có 0,63 bác sĩ
và 10000 dõn cú một bác sĩ; 44% số trạm được xây dựng kiên cố. Đến nay có
24