1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
LỜI CAM ĐOAN
Trong thời gian từ ngày 6/2/2014 đến ngày 21/5/2014, em đã có cơ
hội được thực tập tại Phòng Quản lý Nhân sự Công ty Cổ phần Vận tải
Vạn Xuân để nghiên cứu và thực hiện chuyên đề thực tập “Hoàn thiện
công tác đào tạo cho nhân viên lái xe Taxi tại Công ty Cổ phần Vận
tải Vạn Xuân”. Em xin cam đoan rằng chuyên đề thực tập này là do em
tìm hiểu, nghiên cứu và xây dựng nên dựa theo các số liệu được cung
cấp bởi Phòng Quản lý Nhân sự và các phòng ban khác thuộc Công ty,
đồng thời tham khảo từ nhiều nguồn tư liệu khác như giáo trình, luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên,
sách báo, mạng internet. Vì vậy, các kết quả phân tích trong chuyên đề là
hoàn toàn trung thực, có cơ sở thực tiễn và không sao chép. Nếu có sai
sót em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Em xin chân thành cảm ơn và kính mong thầy cô nhận xét, chỉ bảo
góp ý để chuyên đề của em có thể hoàn thiện hơn nữa.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
LĐ Lao động
33
Bảng 7. Kết quả kiểm tra trình độ-kỹ năng học viên sau đào tạo giai đoạn
2011-2013
45
Bảng 8. Doanh thu trung bình của 1 lái xe Taxi giai đoạn 2011-2013
46
Bảng 9. Thống kê số lần vi phạm kỷ luật của lái xe Taxi giai đoạn 2011-2013
47
Bảng 10. So sánh doanh thu – chi phí của Công ty giai đoạn 2011-2013
48
Danh mục hình vẽ
Hình 1. Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty
21
Hình 2. Cơ cấu lái xe của công ty phân theo bãi giao ca năm 2013
24
Hình 3. So sánh thời lượng của các môn học trong chương trình đào tạo
29
Hình 4. Sơ đồ phòng đào tạo cho nhân viên lái xe Taxi của Công ty
31
Hình 5. Ý kiến đánh giá về mức độ phù hợp của nội dung đào tạo với công
việc
34
Hình 6. Học viên đánh giá mức độ hài lòng đối với nội dung từng môn học
35
Hình 7. Học viên đánh giá nhu cầu cần thiết đối với từng môn học
36
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
Hình 8. So sánh sự hài lòng và nhu cầu cần thiết của học viên với từng môn
Qua một tháng tìm hiểu thực tế tại công ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân và đặc biệt là
Phòng Quản lý Nhân sự của công ty, em đã có cơ hội được học hỏi và tiếp xúc với nhiều
công việc khác nhau về mảng Quản lý Nhân sự, tìm hiểu về các hoạt động tổ chức quản
lý lao động trong công ty. Qua quá trình tìm hiểu, em nhận thấy công tác quản lý nhân
lực của công ty tương đối đầy đủ chặt chẽ, có hệ thống và chi tiết trong từng chế độ, hoạt
động. Đội ngũ lái xe Taxi là lực lượng lao động trực tiếp của Công ty, là bộ phận trực tiếp
tham gia kinh doanh vận tải đem về doanh thu cho Công ty và chiếm tới 85% trong toàn
bộ lao động. Hiện nay hoạt động có ý nghĩa quyết định tới năng lực làm việc của lái xe
phải kể tới là công tác đào tạo lái xe của Công ty. Đây là hoạt động được tổ chức thường
xuyên, hàng tháng, bước đầu giúp lái xe làm quen với công việc và cũng là yêu cầu cần
vượt qua để được tuyển dụng. Trong quá trình tìm hiểu, em nhận thấy hoạt động đào tạo
cho lái xe được triển khai thực hiện tương đối bài bản và hợp lý, song có thể hoàn thiện
hơn nữa để không chỉ nâng cao hiệu quả đào tạo mà qua đó có tác động tích cực đến kỹ
năng trình độ và sự gắn bó của đội ngũ lái xe với công ty. Vì vậy, em quyết định lực chọn
đề tài nghiên cứu là “Hoàn thiện công tác đào tạo cho nhân viên lái xe Taxi của Công
ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân” để nghiên cứu phân tích làm rõ hiệu quả của công tác
này trong Công ty hiện nay, qua đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao
chất lượng lái xe và tăng khả năng gắn bó của lái xe với Công ty
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là Công tác đào tạo cho nhân viên lái xe Taxi của
Công ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân.
b) Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Chuyên đề tập trung nghiên cứu công tác đào tạo cho nhân viên lái xe
Taxi tại Công ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân.
Về thời gian: Đặc điểm nguồn lao động tại Công ty được phân tích dựa trên số liệu từ
năm 2013 trở về trước. Khảo sát ý kiến học viên và giáo viên được thực hiện tại thời
điểm tháng 4, 5 năm 2014. Phần đánh giá hiệu quả đào tạo tại Công ty sử dụng số liệu
thống kê từ năm 2011 đến năm 2013 để phân tích rõ xu hướng biến động của chỉ tiêu.
3. Phương pháp nghiên cứu
của Công ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân.
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Đào tạo nghề
Khái niệm đào tạo nghề được các nhà Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đưa ra “Đào tạo
nghề là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ
năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một
hoạt động xã hội (nghề nghiệp cần thiết)”
1
. Theo một khái niệm khác, ILO định nghĩa
“Đào tạo nghề là những hoạt động chủ yếu nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng, thái độ
cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc một nhóm
nghề. Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đạo tạo lại, đào tạo nâng cao và đào tạo liên quan đến
nghề nghiệp chuyên sâu”
2
. Như vậy, khái niệm này của ILO không chỉ dừng lại ở việc
trang bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết để hành nghề mà còn đề cập đến “thái độ”
làm việc. Điều này thể hiện đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỷ luật lao động – một yếu
tố vô cùng quan trọng tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về đào tạo nghề rất đa dạng và phong phú,
phần lớn nhà nghiên cứu đều tiến hành nghiên cứu quá trình đào tạo ở tiêu thức chất
lượng đào tạo hay hiệu quả đạt được sau đào tạo nghề. Tổng hợp từ Giáo trình Kinh tế
nguồn nhân lực (PGS.TS Trần Xuân Cầu, NXB trường ĐH Kinh tế Quốc dân), Giáo
trình Kinh tế lao động (PGS.TS Tạ Đức Khánh, NXB trường ĐH Kinh tế - ĐH Quốc
gia HN) và Giáo trình Quản trị nhân lực (PGS.TS Trần Kim Dung, NXB trường ĐH
Kinh tế TP.HCM), các tác giả đã trình bày một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng đào tạo
như: sự thỏa mãn của người học – người dạy (về nội dung chương trình đào tạo, chất
lượng và số lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất), năng lực làm việc của học viên và
dân, luận văn thạc sĩ, 2004) đưa ra hệ thống giải pháp rất cụ thể từ định hướng đến cách
tổ chức thực hiện nhằm cải tiến chương trình đào tạo, chất lượng đội ngũ giảng viên, hình
thành các cơ quan kiểm định chất lượng và đề xuất thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề;
giới thiệu nhiều nguyên tắc xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến trên thế giới như mô-
đun kỹ năng hành nghề MES (Module of Employable Skills), chương trình xây dựng theo
năng lực thực hiện công việc CBT (Competency-Based Training) và phương pháp phân
tích nghề DACUM.
Đi sâu vào các giải pháp cải tiến chương trình đào tạo nghề có thể tìm hiểu đề tài
“Tiếp cận mô-đun trong xây dựng cấu trúc chương trình đào tạo nghề” (TS. Đỗ
Huân, luận án phó tiến sĩ, 1995). Theo quan điểm của tác giả thì việc đào tạo được tiến
hành theo khả năng và điều kiện của người học. “Nói cách khác thay vì làm người học
thích nghi với nội dung đào tạo thì cần làm cho chính nội dung đào tạo thích hợp với
người học, với vấn đề học tập của họ”. Từ đó tác giả đưa ra tổng thể quy trình xây dựng
cấu trúc mô-đun các kiến thức và kỹ năng cần thiết để thiết kế chương trình đào tạo đảm
bảo chính xác và đầy đủ.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều tiếp cận ở góc độ vĩ mô từ phía cơ
quan quản lý nhà nước. Các đề tài đều xuất phát từ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng từ
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
đó đề xuất giải pháp khắc phục. Đây đều là các chỉ tiêu phù hợp để đánh giá chất lượng
đào tạo nghề, tuy nhiên mới chỉ đánh giá một cách tổng quan như số lượng học viên đạt
tiêu chuẩn, số lượng và trình độ - kinh nghiệm của giáo viên, chứ chưa phản ánh thực
chất sự hài lòng của học viên, tác động đến năng lực làm việc của học viên như thế nào,
Các giải pháp đưa ra thường mang tính lý thuyết, chưa có hướng triển khai cụ thể trong
thực tế và vận dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương. Các đề tài tập
trung vào đối tượng là các trường đào tạo nghề chứ chưa đi sâu vào công tác đào tạo nghề
trong doanh nghiệp cụ thể.
1.2. Đào tạo nghề trong doanh nghiệp
* Về quan niệm đào tạo nghề trong doanh nghiệp: trước tiên ta tìm hiểu xu hướng
đầu tư thêm cơ sở vật chất là thiếu tính khả thi trong điều kiện tài chính giới hạn của
doanh nghiệp.
Cuốn “Đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp” (PGS.TS Trần Thị Vân Hoa, ĐH Kinh
tế Quốc dân) cũng khẳng định sự cần thiết phải đào tạo tại doanh nghiệp theo nhu cầu của
chính mình. “Điều quan trọng nhất là phải xác định đúng nhu cầu và mục tiêu đào tạo”.
Doanh nghiệp phải đặt người học vào vị trí trung tâm để thiết kế nội dung và phương
pháp giảng. Tác giả đưa ra giải pháp đánh giá chương trình đào tạo rất chi tiết bao gồm:
đánh giá trước đào tạo (đánh giá năng lực thực tế); đánh giá trong đào tạo (theo dõi tình
hình và sự hài lòng của học viên để có sự điều chỉnh phù hợp); đánh giá sau đào tạo gồm
bước 1: kiểm tra trình độ ngay sau quá trình đào tạo, bước 2: đánh giá sau khóa học 6
tháng - 1 năm. Hệ thống đánh giá phát huy tính hiệu quả cao song việc thực hiện khá tốn
kém thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
* Về hoạt động đào tạo nghề tại doanh nghiệp: xuất phát từ sự cần thiết của việc đào
tạo nghề đáp ứng nhu cầu thực tế và chuyên biệt, nhiều doanh nghiệp hiện nay đã tự tổ
chức thực hiện chức năng đào tạo cho người lao động của mình. Trung bình 3 năm trở lại
đây, trường ĐH Kinh tế Quốc có khoảng 25 chuyên đề thực tập mỗi năm về lĩnh vực đào
tạo phát triển nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp.
Có thể kể tới một số đề tài như “ Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực tại Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Ngoại thương Vinatrans” (SV
Nguyễn Quang Huấn, 2011). Tác giả mô tả hoạt động đào tạo được công ty tổ chức
thường xuyên định kỳ với mọi đối tượng. Với đặc thù là một công ty giao nhận hàng hóa
xuất nhập khẩu, công ty đã liên kết đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên với các tổ chức giao
nhận như IATA, FIATA, VIAS Xét về cách tổ chức đào tạo, tác giả nhấn mạnh ưu điểm
của công ty là thực hiện đánh giá sau đào tạo khá bài bản, khảo sát ý kiến của 6 nhóm
người: cá nhân, đồng nghiệp, quản lý trực tiếp, cán bộ đào tạo, giảng viên và khách hàng.
Việc đánh giá tiến hành trước, trong và sau đào tạo cho thấy công ty đánh giá rất cao yếu
tố hiệu quả đào tạo. Tuy nhiên tác giả cũng chỉ ra nhược điểm là chưa có khâu xác định
nhu cầu đào tạo, chưa có mục tiêu chiến lược dài hạn và xa rời với mục tiêu của công ty.
Bên cạnh đó cần có sự luân phiên trong đào tạo, nói cách khác việc xác định đối tượng
đào tạo cần chú trọng. Đó phải là người có khả năng học tập, có nguyện vọng thực sự, có
đào tạo qua các năm nhưng chưa rút ra được tương quan giữa chi phí và lợi ích của việc
tổ chức đào tạo. Trong các giải pháp đưa ra, tác giả trình bày khá chi tiết định hướng đi
kèm với cách thức thực hiện. Ví dụ với giải pháp xác định nhu cầu và đối tượng đào tạo,
tác giả đã thiết kế và xây dựng cụ thể 3 bản phân tích công việc, yêu cầu công việc và
tiêu chuẩn thực hiện công việc gợi ý cho doanh nghiệp. Tác giả cũng xây dựng mẫu phiếu
đánh giá thực hiện công việc dựa trên nhiều tiêu chí cụ thể, tuy nhiên chưa có giải thích
cụ thể mỗi mức đánh giá thể hiện sự thực hiện công việc như thế nào mà mới chỉ dừng lại
ở việc xếp loại nhân viên theo 5 cấp độ Xuất sắc – Tốt – Đạt yêu cầu – Trung bình – Yếu.
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
Và cuối cùng tác giả cũng đề xuất hoàn thiện hệ thống thông trên máy tính để thuận tiện
cho việc quản lý và nắm bắt trình độ của nhân viên theo thời gian. Nhìn chung các giải
pháp mà tác giả đưa ra khá hợp lý và phù hợp với quy mô công ty lớn như Công ty Đầu
tư và Xây dựng số 1 Hà Nội, tuy nhiên tương đối phức tạp với quy mô doanh nghiệp nhỏ.
Cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi làm cơ sở đánh giá chất lượng
đào tạo, đề tài “Công tác đánh giá kết quả đào tạo và phát triển công nhân kỹ thuật
tại Tổng công ty May 10 – CTCP” (SV Trần Thanh Phong, 2012) đã xây dựng mẫu
bảng hỏi khá hoàn chỉnh và chặt chẽ, cho thấy tác giả đã thực hiện công đoạn thao tác
hóa khái niệm và vận dụng kiến thức điều tra xã hội học khá tốt trong việc thiết kế bảng
hỏi phỏng vấn. Logic của bảng hỏi đi từ đánh giá chung của người học đến từng yếu tố
như chương trình học (dung lượng hợp lý, nội dung sát với công việc thực tế, tổ chức
kiểm tra nghiêm túc), đội ngũ giáo viên (phương pháp truyền đạt, kiến thức chuyên môn,
đảm bảo thời gian lên lớp, khả năng sử dụng thiết bị giảng dạy), giáo trình tài liệu (khả
năng tiếp cận), cơ sở vật chất, công tác quản lý và phục vụ, Từ kết quả điều tra, tác giả
đã rút ra được nhiều nhận xét quan trọng có ý nghĩa với công ty trong việc thực hiện công
tác đào tạo và đưa ra được đề xuất cho từng hạn chế cụ thể. Tuy nhiên tác giả chưa phân
tích hết được tất cả các yếu tố mà mình đưa ra; đồng thời chưa tính toán được các chỉ tiêu
hiệu quả tài chính, sự cải thiện năng suất lao động của học viên.
Nhìn chung, sau quá trình tìm hiểu các chuyên đề thực tập của sinh viên khóa trước tại
Bảng 1. Mô hình đánh giá hiệu quả đào tạo của TS. Donald Kirk Patrick
Cấp độ Vấn đề quan tâm Công cụ
1 Phản ứng của người học Người học thích chương
trình như thế nào ?
Bảng hỏi
2 Kiến thức, kỹ năng học được Người học học được những
gì ?
Bài kiểm tra, tình
huống giả
3 Ứng dụng vào công việc Người học áp dụng những
điều đã học vào công việc
như thế nào ?
Đo lường kết quả
thực hiện công việc
4 Kết quả tài chính mà doanh
nghiệp đạt được
Doanh nghiệp thu được gì
từ việc đầu tư cho đào tạo
So sánh lợi ích – chi
phí
(Nguồn: “Kirkpatrick ‘s four levels of training evaluation”, http://www.anderson-
sabourin.com/html/kirkpatrick.html)
Ngoài ra, tìm hiểu các biểu hiện về “chất lượng”, theo Tổ chức Thống kê châu Âu
(2007), khái niệm chất lượng gồm 7 tiêu thức: tính phù hợp (đáp ứng yêu cầu của người
sử dụng), tính chính xác, tính kịp thời (khả năng tiếp cận dễ dàng, đúng lúc), tính có thể
sử dụng được, có thể so sánh được, tính chặt chẽ (có thể kết hợp cho nhiều mục đích sử
dụng khác nhau), tính đầy đủ.
Qua tìm hiểu các nghiên cứu đã có về công tác đào tạo, em nhận thấy có rất nhiều
phương pháp đánh giá hiệu quả đào tạo, tuy nhiên phương pháp được sử dụng hiệu quả
và phổ biến nhất là phương pháp điều tra bảng hỏi lấy ý kiến người học. Ví dụ như các đề
(SV Dương Văn Kế, 2009), tác giả đã mô tả rất chi tiết các quy trình làm việc đặc thù của
lái xe và phụ xe, chương trình đào tạo cụ thể và bài bản với nhiều cấp độ giúp phân hóa
chính xác nhu cầu và đối tượng đào tạo của xí nghiệp (3 cấp độ lành nghề, đạo đức người
lái xe và thực hành lái xe an toàn). Tuy nhiên tác giả chưa phân tích được các yếu tố ảnh
hưởng cũng như biểu hiện của chất lượng đào tạo. Phần rút ra kết luận của tác giả thiếu
tính thuyết phục khi chưa đưa ra được dẫn chứng nào phản ánh chất lượng đào tạo mà chỉ
nhận định chủ quan rằng “sau quá trình đào tạo, trình độ nghiệp vụ của cán bộ lái xe và
phụ xe được nâng cao tuy nhiên kỹ năng, tác phong và đạo đức nghề nghiệp chưa có dấu
hiện được cải thiện”. Tuy nhiên, đây vẫn là một trong số ít các đề tài tập trung nghiên cứu
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
và mô tả về chương trình đào tạo khá bài bản khoa học, có thể trở thành tài liệu tham
khảo cho các cơ sở có đào tạo lái xe khác.
Xét về công tác đào tạo hành nghề cho lái xe Taxi thì số lượng nghiên cứu đã có càng
hạn chế hơn nữa. Thực tế khảo sát cho thấy ở Hà Nội hiện nay có gần 60 hãng Taxi đang
kinh doanh và hoạt động, trong đó ½ số hãng đều tổ chức đào tạo cho lái xe từ khi tuyển
dụng, tuy nhiên đề tài nghiên cứu vấn đề này lại rất hạn chế. Một số chuyên đề như
“Phân tích văn hóa doanh nghiệp của hãng Taxi Mai Linh” (SV Trương Thị Ngọc Hải,
ĐH Thương mại, 2013), “Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực tại
Công ty Taxi Vinasun” (SV Đoàn Thị Kiều Hạnh, ĐH Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM,
2011), đều đề cập tới công tác đào tạo cho lái xe tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ
phản ánh sơ lược. Trong tổng quan các công trình nghiên cứu hiện có về đào tạo cho lái
xe Taxi mới chỉ có đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng
và đào tạo lái xe tại doanh nghiệp taxi – nghiên cứu tình huống tại Công ty Cổ phần
Vũ Gia” (SV Phạm Thị Tuyết Mai, đề tài NCKH, ĐH DL Hải Phòng, 2013) là trình bày
chi tiết và đã đi vào phân tích công tác đào tạo. Công ty tổ chức đào tạo mới cho lái xe
được tuyển vào công ty về các nghiệp vụ kinh doanh vận tải Taxi và sử dụng thiết bị trên
xe, ngoài ra chưa có hình thức đào tạo lại hoặc đào tạo chuyên sâu. Tác giả cũng sử dụng
phương pháp so sánh chéo về công tác đào tạo của công ty với 2 công ty Taxi khác là
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CHO NHÂN VIÊN LÁI XE TAXI CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI VẠN XUÂN
2.1. Thực trạng công tác đào tạo cho nhân viên lái xe Taxi của Công ty Cổ phần Vận
tải Vạn Xuân
2.1.1. Đặc điểm nguồn lao động của Công ty
2.1.1.1. Giới thiệu chung
a) Giới thiệu về Công ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân
Công ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân được thành lập ngày 06/08/2004, Giấy phép kinh
doanh số 0103004992 do Sở Kế hoạch và Đầu tư – UBND Thành phố Hà Nội cấp, với
số vốn ban đầu là 4,7 tỷ đồng.
Tên Công ty: Công ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân.
Tên giao dịch: VAN XUAN Joint – Stock Company.
Chủ sở hữu: Chủ tịch Hội đồng quản trị và các thành viên góp vốn.
Trụ sở giao dịch: Tầng 5 Tòa nhà CC2, Đô thị Bắc Linh Đàm, Đại Kim, Hoàng
Mai, Hà Nội.
Vốn điều lệ: 37.000.000.000 đồng ( tỷ đồng chẵn).
Mã số thuế: 0101524747.
Số tài khoản: 1482201002605 tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn chi nhánh Hùng Vương, Hà Nội.
Số điện thoại: 04.39427128. Fax: 04.39427129.
Từ một doanh nghiệp nhỏ với quy mô ban đầu chỉ với số vốn điều lệ 4,7 tỷ đồng, sở
hữu 80 xe và khoảng 150 lao động, đến nay số lượng đầu xe của công ty đã tăng lên 800
xe với gần 700 lao động, vốn điều lệ đạt 37 tỷ đồng. Điều đó cho thấy sự phát triển nhanh
chóng, vững mạnh, hiệu quả và khả năng chiếm lĩnh thị trường của công ty.
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty là vận chuyển hành khách đường bộ bằng xe
Taxi, ngoài ra công ty còn tổ chức sửa chữa - bảo dưỡng phương tiện vận tải nhưng chủ
yếu phục vụ cho nhu cầu nội bộ.
ĐỘI XE
Bãi Linh Đàm 2
Phòng Kinh doanh tiếp thị
Bãi Cầu Giấy
Xe thương quyền
Bãi Trần Nhân Tông
Tổng đài
Xưởng Sửa chữa
Kỹ thuật bãi giao ca
Hội đồng quản trị
Ban Giám đốc
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Phòng Quản lý Nhân sự)
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
Do đặc thù công việc, địa bàn hoạt động chủ yếu của lái xe Taxi là không cố định, di
chuyển linh hoạt theo yêu cầu dịch vụ trong nội thành Hà Nội và một số tỉnh lân cận.
Hàng ngày, lái xe Taxi tập kết tại 4 bãi giao ca của công ty vào 2 ca 4h30 hoặc 18h00 để
các cán bộ quản lý chốt số liệu trên đồng hồ, bàn giao doanh thu, kiểm tra kỹ thuật và sửa
chữa, vệ sinh phương tiện Taxi.
b) Quy mô và cơ cấu lái xe của Công ty
* Như đã trình bày ở trên, quy mô lao động trực tiếp (nhân viên lái xe Taxi) chiếm tỷ lệ
rất lớn trong tổng số lao động của Công ty, là lực lượng trực tiếp tham gia kinh doanh
cung cấp dịch vụ vận tải hành khách. Theo số liệu bảng 2 dưới đây, có thể thấy tỷ lệ này
trong giai đoạn 2011-2013 luôn được duy trì trong khoảng 85%.
Bảng 2. Biến động quy mô lái xe Taxi của Công ty giai đoạn 2011 - 2013
T
T
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
SL % SL % SL %
Cơ cấu phân theo Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
SL % SL % SL %
Tổng số LĐ trực tiếp 479 100,0 574 100,0 594 100,0
1 Độ tuổi
20 – 30 203 42,4 322 56,1 353 59,4
30 – 40 217 45,3 185 32,2 174 29,3
40 – 50 47 9,8 53 9,2 57 9,6
50 trở lên 12 2,5 14 2,4 10 1,6
2 Trình độ văn hóa
Tốt nghiệp THPT 452 94,4 564 98,3 587 98,8
Tốt nghiệp THCS 479 100,0 574 100,0 594 100,0
3 Trình độ chuyên môn (loại bằng LX)
Hạng B2 377 78,7 431 75,1 446 75,1
Hạng C 90 18,8 118 20,6 130 21,9
Hạng D 4 0,8 9 1,6 5 0,8
Hạng E 7 1,5 13 2,3 11 0,9
4 Đội xe (địa điểm giao ca)
Linh Đàm 1 79 16,5 104 18,1 97 16,3
Linh Đàm 2 101 21,1 105 18,3 89 15,0
Cầu Giấy 59 12,3 57 9,9 40 6,7
Trần Nhân Tông 64 13,4 87 15,2 64 10,8
Xe thương quyền 166 34,7 221 38,5 304 51,2
(Nguồn: Tổng hợp từ Danh sách lái xe của Công ty năm 2013, Phòng Quản lý Nhân sự)
Xét cơ cấu theo trình độ, ta xem xét dưới hai khía cạnh là trình độ văn hóa và trình
độ chuyên môn. Về trình độ văn hóa, 100% lái xe đã tốt nghiệp THCS và khoảng 98%
trong số đó đã tốt nghiệp THPT. Về trình độ chuyên môn, tất cả lái xe của Công ty đều có
bằng lái xe hạng B2 trở lên, là chứng nhận giấy phép lái xe được cấp cho lái xe chuyên
nghiệp. Từ số liệu bảng trên có thể thấy lái xe hạng B2 chiếm tỷ lệ rất lớn (khoảng 75%)
và duy trì khá ổn định qua các năm. Khoảng 22% lái xe có bằng C, tỷ lệ này tăng tương
đối nhanh và chỉ có khoảng 2% lái xe có bằng D, E.
Công ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân quan niệm mỗi người lái xe Taxi chính là đại diện
cho thương hiệu và uy tín của Công ty trước với khách hàng. Vì vậy Công ty đặc biệt coi
trọng công tác đào tạo cho nhân viên lái xe Taxi mới, coi đây là một trong những biện
pháp trung tâm để thực hiện mục tiêu chiến lược của Công ty là xây dựng đội ngũ lái xe
ngày càng chuyên nghiệp, am hiểu luật lệ giao thông, luôn phục vụ tận tình chu đáo với
phương châm “An toàn – Tiện lợi – Tiết kiệm”.
Với nhu cầu thiết yếu và mục tiêu như trên, ngay từ khi mới tuyển nhân viên lái xe
Taxi vào Công ty, Công ty đã tổ chức chương trình đào tạo bài bản nhằm giới thiệu về
văn hóa Công ty, trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cho lái xe Taxi chuyên nghiệp như
nghiệp vụ kinh doanh Taxi, học đường phố, văn hóa giao tiếp, thiết bị kỹ thuật trên xe, an
ninh kinh doanh và an toàn giao thông.
2.1.2.2. Nội dung chương trình đào tạo
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Vũ Thị Mai
a) Giới thiệu chung về chương trình đào tạo
Công ty Cổ phần Vận tải Vạn Xuân đã bắt đầu tổ chức thực hiện công tác đào tạo cho
lái xe Taxi tuyển dụng vào Công ty ngay từ những ngày đầu mới thành lập từ năm 2004,
có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực Taxi nói chung và đào tạo lái xe Taxi nói riêng.
Công ty tổ chức định kỳ mỗi tháng 1 khóa đào tạo cho học viên. Mỗi khóa thường kéo
dài trong khoảng thời gian là 2 tuần, bắt đầu từ khi gặp gỡ phổ biến về chương trình đào
tạo cho đến khi kết thúc công tác thi Chứng chỉ và hoàn tất hồ sơ. Trung bình mỗi khóa
học có khoảng 30 học viên. Các học viên được học lý thuyết trong Lớp đào tạo của Công
ty, sau đó học thực hành kỹ thuật tại Xưởng sửa chữa và tập huấn tay lái 2 ngày (chạy xe
ngoài đường thực tế). Học viên được Công ty đào tạo hoàn toàn miễn phí.
b) Quy trình tổ chức đào tạo
Phòng Quản lý Nhân sự đảm nhiệm vai trò chính trong việc xây dựng, thiết kế chương
trình đào tạo và phối hợp với các phòng ban liên quan bảo đảm thực hiện đúng quy trình,
lồng ghép kết quả đào tạo với công tác tuyển dụng lái xe của Công ty. Trong phòng Quản
lý Nhân sự, Trưởng phòng và Cán bộ đào tạo chịu trách nhiệm trực tiếp trong công tác
Tổng đài
Vận tải ô tô với người lái xe taxi 01 Cán bộ đào
tạo
Phương pháp học đường phố 02
3 Vận tải ô tô với người lái xe taxi 02
Phương pháp học đường phố 02
4 Phương pháp học đường phố 02
Phương pháp học đường phố 02
5 Văn hóa giao tiếp của người lái xe taxi 04 P.KDTT
Nghiệp vụ tài chính kế toán 02 P.TCKT
6 Kiểm tra đường phố 02 Tổng đài
Học viên tự học đường phố ở nhà Học viên
7 Học viên tự học đường phố ở nhà
8 Một số thiết bị chuyên dùng trên xe taxi 02 Xưởng SCKT
Kỹ thuật ô tô 02
9 Thực hành kỹ thuật ô tô, kiểm tra thực tế tại xưởng 02 Đội xe
Hướng dẫn thi Chứng chỉ 02 Cán bộ ĐT
10 Nội quy taxi 08 Đội xe
11 Kiểm tra môn nội quy taxi, an ninh kinh doanh 02
Xử lý tai nạn 02 P.QLĐH
12 Tổng hợp điểm, hoàn tất hồ sơ P.Nhân sự
* Ghi chú: 1 tiết = 1,5 tiếng.
(Nguồn: Phòng Quản lý Nhân sự)
Bước 5: Trong quá trình đào tạo, Phòng Quản lý Nhân sự kết hợp cùng các phòng ban
liên quan tiến hành các công việc sau: xét nghiệm tìm chất gây nghiện qua mẫu nước tiểu
của tất cả các học viên, thử tay lái, theo dõi việc đóng tiền học và tiền ký quỹ, dõi đôn
đốc quá trình học của các học viên.
Bước 6: Tổ chức kiểm tra và thi sát hạch: tổ chức các buổi kiểm tra hết môn trong
chương trình, tổ chức làm chứng chỉ hành nghề lái xe Taxi cho học viên.
Bước 7: Tổng hợp điểm, hoàn tất hồ sơ học viên đạt yêu cầu, bàn giao cho Đội xe đưa
cho khách và các chương trình hỗ trợ về giá của Công ty tới khách hàng.
Môn Kỹ thuật ô tô: giới thiệu cho học viên về các thiết bị chuyên dùng trên xe Taxi,
cách khắc phục các lỗi cơ bản khi đang tham gia kinh doanh mà không phải đưa xe về tận
xưởng sửa chữa.
Môn Nội quy Taxi: trang bị cho học viên các nội quy, nguyên tắc trong kinh doanh
Taxi như: Quy định về thực hiện công việc trong ca kinh doanh (giao ca, bảo quản
phương tiện, sử dụng bộ đàm, đồng hồ Taximet); Quy định về chế độ đồng phục, lễ tiết
tác phong, phục vụ khách hàng; Thời gian làm việc, nghỉ ngơi, chế độ lương thưởng;
Hình thức và thủ tục xử lý kỷ luật; Quy định về bảo dưỡng và sửa chữa phương tiện; Quy
định về giải quyết, hỗ trợ va chạm, tai nạn; Các quyền lợi và nghĩa vụ của nhân viên
trong Công ty và hướng tổ chức thực hiện.
Môn An ninh kinh doanh – An toàn giao thông: Phần An ninh kinh doanh cung cấp
cho học viên các biện pháp phòng chống và ngăn ngừa tai nạn, tệ nạn xã hội (ví dụ như
SV Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: Kinh tế lao động 52B