SKKN: Nâng cao hiệu quả sử dụng từ láy cho học sinh lớp 9 qua môn Ngữ Văn
******************************************************************************************************
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TỪ LÁY CHO HỌC
SINH LỚP 9 QUA MÔN NGỮ VĂN
A. Phần mở đầu
I.Lý do chọn đề tài :
1.Cơ sở lí luận:
Chúng ta biết rằng trong cuộc sống con người luôn luôn có nhu cầu giao tiếp với
nhau . Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể trò chuyện, trao đổi tin tức, bày tỏ tư
tưởng tình cảm, học tập tri thức khoa học mọi sinh hoạt xã hội đều sử dụng ngôn
ngữ, làm phương tiện truyền tải thông tin. Nhờ ngôn ngữ, thế hệ mai sau sẽ tiếp
nhận, thừa kế di sản văn hoá, khoa học kĩ thuật, văn hoá nghệ thuật của thế hệ ông
cha để lại. Vì vậy mà ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi
chúng ta.
Đặc biệt, ở trong nhà trường ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong học tập
cũng như trong hoạt động giao tiếp của học sinh. Các em được học ngôn ngữ với
nhiều hình thức: Lời nói, chữ viết,nghe,đọc.
ở phân môn Tiếng Việt, với tư cách vừa là một bộ môn khoa học nghiên cứu về
Tiếng Việt, vừa là môn học công cụ, nhằm trang bị cho học sinh các kĩ năng sử dụng
Tiếng Việt thành thạo trong giao tiếp. Cùng với các môn khoa học khác Tiếng Việt
góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tri thức nâng cao hiểu biết của học sinh. Tiếng
Việt là ngôn ngữ khởi đầu giúp học sinh có một năng lực mới là biết đọc,biết viết để
nắm lấy kho tàng tri thức, văn hoá của loài người đã lưu trữ hàng vạn năm.
Môn Ngữ Văn ở bậc THCS được cấu tạo bao gồm các phân môn: Văn học, Từ
ngữ, Ngữ pháp, Tập làm văn. Trong đó, phân môn Tiếng Việt sẽ cung cấp cho học
sinh một sự hiểu biết cơ bản về các kiến thức: Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ;
Trường từ vượng; Từ tượng hình, từ tượng thanh; Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã
hội;các biện pháp tu từ về từ vựng,kĩ năng dùng từ, đặt câu,trình bày đoạn
văn….nhằm để phục vụ cho các em học tốt môn Ngữ văn nói riêng và các môn học
khác nói chung. Việc giảng dạy môn Ngữ Văn nói chung và phân môn tiếng Việt nói
2. Cơ sở thực tiễn:
Như đã nói ở trên, việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá
trình dạy học là vấn đề cơ bản của phương pháp dạy học mới hiện nay, vì thế buộc
học sinh phải có ý thức tự giác, đóng vai trò chủ thể tích cực trong quá trình học tập,
lĩnh hội kiến thức. Còn giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn hoạt động học
tập của học sinh mà thôi. Thế nhưng việc phát huy tính tích cực của học sinh qua
mỗi tiết dạy, mỗi phân môn cũng không hoàn toàn giống nhau. Nên như ở tiết đọc-
hiểu văn bản, giáo viên cho học sinh chủ động đọc- hiểu (bao gồm cả cảm thụ) tác
phẩm văn chương và trả lời những câu hỏi với những cấp độ khác nhau tạo ra trình
độ đọc “trên dòng:, “giữa các dòng” và “vượt ra khỏi dòng”. Và việc khám phá văn
bản của học sinh như thế đã tạo ra được sự hứng thú, hiểu sâu sắc về văn bản cũng
như liên hệ đến thực tế văn học với những vấn đề của cuộc sống.Nhưng vấn đề này
đòi hỏi HS phải có kiến thức nhất định về từ ngữ.
Đối với các tiết dạy Tiếng việt và Tập làm văn thì việc phát huy tính tích cực
học tập của học sinh được thể hiện qua việc “phân tích mẫu” và học theo mẫu thông
qua phương pháp quy nạp để học sinh rút ra kết luận. Ngoài ra còn có thể cho học
sinh tham gia vào quá trình sưu tầm, tập hợp, xử lí thông tin để rút ra được định
nghĩa, kết luận “dẫu biết rằng đây chỉ là các thao tác tập đi lại một phần nhỏ trong
một quãng đường rất ngắn trên con đường thiên lí mà nhân loại và không biết bao
nhiêu học giả đã đi qua và cũng có người đã từng vấp ngã”. Thế những đối với
********************************************************** *********
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nga - Trường THCS Lao Bảo 2
SKKN: Nâng cao hiệu quả sử dụng từ láy cho học sinh lớp 9 qua môn Ngữ Văn
******************************************************************************************************
những tiết như thế này cơ bản học sinh cũng đã dựa theo “mẫu” để phát huy được
tính tích cực, sáng tạo của mình.
Tuy nhiên,việc nâng cao hiệu quả sử dụng sử dụng từ láy cho học sinh thông qua
môn Ngữ văn vô cùng đa dạng.Có khi từ cảm nhận một câu thơ,câu văn hay để học
hỏi them, cũng có khi từ việc nắm nghĩa của từ,học các khái niệm của phân môn
SKKN: Nâng cao hiệu quả sử dụng từ láy cho học sinh lớp 9 qua môn Ngữ Văn
******************************************************************************************************
3. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 9D
III. Phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế:
Tôi đã điều tra, khảo sát trên học sinh bằng cách sử dụng các phiếu khảo sát
trong đó ra cho các em làm các dạng bài tập:
- Nhận diện từ.
- Phân biệt sự khác nhau giữa từ láy tượng hình ,tượng thanh
- Đặt câu có sử từ láy.
- phân tích cái hay của từ láy qua các tác phẩm văn chương.
2. Phương pháp đàm thoại khi giải bài tập:
Tôi đã sử dụng phương pháp này bằng cách đặt ra một số câu hỏi nhằm giải đáp
một số thắc mắc của học sinh khi sử dụng từ láy để có biện pháp khắc phục kịp thời.
3. Phương pháp kiểm tra , đánh giá, tổng kết thực tiễn:
Trên cơ sở các thông tin thu lượm được từ sản phẩm hoạt động học tập của học
sinh một cách tương đối chính xác, đó cũng là căn cứ để phân tích và đánh giá kết
quả .
4. Phương pháp đọc tài liệu nghiên cứu.
- Tôi đã đọc một số tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ của các nhà Việt ngữ học.
- Các tài liệu có liên quan đến Tiếng Việt nhằm rút ra được những bài học kinh
nghiệm bổ ích cho bản thân, làm tăng thêm vốn hiểu biết, mở mang được kiến thức
cho chính mình.
5. Phương pháp nghiên cứu xử lí số liệu bằng xác suất thống kê:
- Tôi đã tiến hành khảo sát số liệu về thực trạng của học sinh sau khi đã được tiếp
thu những biện pháp mới để đối chứng với khảo sát ban đầu.
V. Sơ lược về lịch sử vấn đề:
Vấn đề từ láy đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập trong nhiều tài liệu, chẳng
hạn như:
Từ phức
phæïc
Từ láy
Ghép chính phụ
Từ ghép
Ghép đẳng lập
Láy bộ phậnLáy toàn bộ
Láy phụ âm láy vần
Từ đơn
phæïc
Từ
SKKN: Nâng cao hiệu quả sử dụng từ láy cho học sinh lớp 9 qua môn Ngữ Văn
******************************************************************************************************
- Sử dụng đồ dung dạy học thích hợp ( công nghệ thông tin hoặc bảng phụ) giáo viên
nêu sơ đồ trên sau đó cho HS dựa vào sơ đồ để khai thác rút ra khái niệm như đã
nêu. Đặc biệt mỗi loại từ láy GV nêu ,hoặc cho HS tìm ví dụ cụ thể để minh
hoạ.Chẳng hạn khi tìm hiểu khái niệm từ láy toàn bộ có thể nêu ví dụ như :Xanh
xanh, đo đỏ,nhà nhà…
Hoặc từ láy phụ âm đầu như các từ xanh xao,xa xăm,tức tốc,nhảo nhoẹt;từ láy vần
như lênh khênh,chót vót,lấm tấm.lê thê…
- Cũng có thể Giáo viên nêu ra các ví dụ về từ láy ở mỗi loại trên cơ sở đó cho
học sinh phân tích ngữ liệu,giáo viên đặt câu hỏi để tự rút ra khái niệm.
+ Các từ Xanh xanh, tim tím, cheo leo là những từ láy.Vậy em hiểu thế nào là từ
láý?
+ Các từ xanh xanh, tim tím, đo đỏ và lênh khênh,chót vót, rì rào, lê thê khác
nhau như thế nào? Học sinh có thể dể dàng trả lời khác nhau là các từ xanh
xanh,tim tím, đo đỏ có các tiếng lặp lại giống nhau còn các từ lê thê,chót
vót,vòng vèo chỉ lặp lại phụ âm đầu hoặc phần vần.Từ đó học sinh có thể rút ra
các loại từ láy toàn bộ và láy bộ phận,láy phụ âm đầu và láy phần vần.
tiếng Việt có thể vận dụng vào để cảm nhận được ý nghĩa sâu xa của những từ tượng
hình,tượng thanh mà các tác giả sử dụng trong những áng thơ, văn.
Chỉ vài nét chấm phá thôi các nhà văn, nhà thơ đã vẽ ra những hình ảnh, những
âm thanh cụ thể, sinh động, có giá trị biểu cảm cao, thường được dùng trong văn
miêu tả và tự sự:
“ Gió đưa cành trúc la đà”( Ca dao)
“ Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà” .
( Bà Huyện Thanh Quan)
Hay: Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
( Phạm Tiến Duật)
Chỉ thế thôi, nhưng cái dáng vẽ chuyển động chầm chậm lả lướt “la đà” của
cành lá, dáng “lom khom” nhọc nhằn kiếm củi của chú tiều, cái “lác đác” của vắng
vẻ hoang sơ cứ lay động tâm tư, tình cảm quê hương, dân tộc. Và nhà thơ Phạm Tiến
Duật đã làm cho mọi người rung động trước áng thơ của mình, trong chiến đấu tuy
vất vã khó khăn nhưng các chiến sĩ vẫn lộ rõ cái nét tinh nghịch đáng yêu rất riêng
của người lính lái xe khi cùng nhau phì phèo điếu thuốc ,hay đó là tâm hồn lạc
quan ,bất chấp gian khổ,khó khăn của chiến trường qua tiếng cười vui tươi rộ lên
giữa chiến trường - cười ha ha.
Chương trình ngữ Văn lớp 9 có một số lượng tiết nhất định về Truyện Kiều.Nói
đến Nguyễn Du là nói đến bậc thầy ngôn ngữ văn chương.Cách tả cảnh,tả người đều
độc đáo. Điều đáng nói ở đây là Thiên tài Nguyễn Du cũng thường hay sử dụng từ
láy mang tính gợi hình,gợi cảm.Miêu tả chân dung Tú Bà:
“Thoắt trông lờn lợt màu da,
Ăn gì cao lớn, đẫy đà làm sao” thì đã vẽ chính xác thần thái của
một mụ chủ nhà chứa. Đặc biệt từ láy lờn lợt đã lột tả rõ nhất thần thái đó.Nó vừa
********************************************************** *********
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nga - Trường THCS Lao Bảo 7
ước lệ thông qua việc sử dụng đặc sắc các từ láy: Bát ngát ,bẽ bàng, bơ vơ,thấp
thoáng,xa xa,man mác ,dầu dầu,xanh xanh, ầm ầm. Tâm trạng chán ngán, buồn tủi
cùng với chiếc thuyền thấp thoáng, xa xa càng làm nổi bật cảnh sống bơ vơ của Kiều
nơi đất khách quê người.Chiếc thuyền thấp thoáng đã ở xa không thấy rõ rồi nhưng
từ xa xa lại diễn ta khoảng cách mỗi lúc một ra xa thêm và mất hút bóng người thì
thật là cô đơn, lẻ loi biết nhường nào! Hình ảnh chân mây, mặt đất được diễn tả rầu
rầu,xanh xanh cho thấy trên cái nề không gian xanh xanh mịt mờ ấy là là màu sắc
tàn úa, héo vàng của nội cỏ.Cảnh vật nhạt nhoà, héo úa ấy càng tô đậm thêm tâm
trạng lo âu của Kiều khi nghĩ đến tương lai mờ mịt của nàng.Và tác giả để cho nhân
********************************************************** *********
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nga - Trường THCS Lao Bảo 8
SKKN: Nâng cao hiệu quả sử dụng từ láy cho học sinh lớp 9 qua môn Ngữ Văn
******************************************************************************************************
vật linh cảm về một điều dông bảo sẽ bủa vây lấy nàng qua từ láy tượng thanh ầm
ầm tiếng sóng thật hãi hung bủa vây lấy nàng “ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế
ngồi”.
Như vậy những từ láy tượng hình,tượng thanh đã góp phần tạo giá trị thẩm mĩ rất
lớn trong tác phẩm văn chương.Vậy khi phân tích chúng ta làm thế nào để giúp học
sinh cảm nhận được những giá trị thẩm mĩ của nó.Trong quá trình giảng dạy tôi đã
chú ý rèn cho học sinh những kĩ năng và thao tác nhất định:
-Trước hết cho các em hoạt động theo nhóm hoặc hoạt động độc lập để nhận diện,
tức xác định được những từ láy có trong văn bản.
- Thứ hai là hướng các em vận dụng những kiến thức về từ vựng để giải nghĩa của
các từ tìm được.
- Thứ ba là đặt các từ tìm được vào văn bản và cảm nhận, phát hiện giá trị thẩm mĩ
của nó ở đoạn thơ, đoạn văn.Qua đó các em dễ dàng cảm nhận được cái hay,cái đẹp
của tác phẩm.
Nhìn chung từ láy tượng hình, tượng thanh là từ không thể thiếu được trong mỗi
bài văn, bài thơ. Nhờ có từ láy TH,TT mà bài văn, bài thơ trở nên uyển chuyển linh
Căn cứ vào điều tra bằng đàm thoại và khảo sát bằng dẫn liệu thực tế, qua một
số bài tập tôi rút ra được những nguyên nhân cơ bản sau:
- Các em chưa nhận diện, phân biệt được từ láy tượng hình,từ láy tượng thanh.
- Do cá em không hiểu và không nắm rõ về đặc điểm của từ láy tượng hình, từ láy
tượng thanh,nên khó phân biệt.
- Do những từ láy Tượng hình, Tượng thanh có những nét nghĩa rất tinh tế và phức
tạp. Chính vì điều này các em hiểu nghĩa của từ láy còn nông cạn và còn nhiều em
hiểu sai nghĩa của từ, khi vận dụng đưa vào đặt câu chưa chính xác.
*VD: - Những sợi chỉ nhỏ nhắn.
- Cái cặp tóc của bạn Giang loắt choắt.
- Mẹ ngồi lom khom.
Do vốn từ còn hạn chế, tiếp thu bài bị động, vì vậy mà hiểu nghĩa của từ còn
nông cạn, hời hợt cho nên dẫn đến vận dụng vào phân tích thơ,văn hoặc đặt câu, viết
đoạn văn ngắn còn lúng túng, gượng ép, chưa trôi chảy.
IV. Những giải pháp khắc phục:
Để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ Văn nói chung và phần bài từ láy
nói riêng, bản thân tôi đã trực tiếp dự nhiều tiết dạy của GV trong tổ và tham khảo
nhiều ý kiến của bạn bè, đồng nghiệp,đọc sách tham khảo để nâng cao hiểu biết của
mình về phần từ láy Tôi xin trình bày một số giải pháp đổi mới để nâng cao hiệu
quả giảng dạy từ láy cho học sinh lớp 9.
* Giải pháp 1:
Trước hết GV phải nắm vững vai trò, tác dụng của việc dạy từ ngữ nói chung và
phần bài từ láy nói riêng cho học sinh lớp 9.
********************************************************** *********
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nga - Trường THCS Lao Bảo 10
SKKN: Nâng cao hiệu quả sử dụng từ láy cho học sinh lớp 9 qua môn Ngữ Văn
******************************************************************************************************
Đây chính là một câu hỏi lớn đặt ra cho mỗi GV. Học Ngôn ngữ để làm gì? Giúp
cho HS nắm vững từ láy. Ngôn ngữ là công cụ kì diệu và nó hấp dẫn con người từ
Ranh giới giữa từ láy THTT khó phân biệt được, cho nên người GV cần phải thuộc
khái niệm, nắm chắc khái niệm để nhận biết. Khả năng của GV càng vững bao nhiêu
thì chất lượng giảng dạy càng cao bấy nhiêu.
********************************************************** *********
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nga - Trường THCS Lao Bảo 11
SKKN: Nâng cao hiệu quả sử dụng từ láy cho học sinh lớp 9 qua môn Ngữ Văn
******************************************************************************************************
* Giải pháp 3
* Giúp HS hiểu được nghĩa của từ láy.
Vậy, làm thế nào để phát hiện các nét nghĩa trong từ láy. Trước hết, GV phải
nắm vững các biện pháp giải nghĩa:
- Giải nghĩa bằng trực quan.
- Giải nghiã bằng ngữ quan.
- Giải nghĩa bằng cách phân tích từ.
- Giải nghĩa bằng cách miêu tả chi tiết, đối tượng mà từ gọi tên.
Tuỳ theo đặc điểm của mỗi loại từ mà GV phải lựa chọn những biện pháp
thích hợp để giải nghĩa từ. Mặt khác, khi tìm hiểu nghĩa của từ láy không thể không
xem xét đến ý nghĩa hình vị của nó.
Chẳng hạn cũng là hình vị gốc “nhỏ” ta có các từ: Nhỏ nhoi, nhỏ nhắn , nhỏ
nhẽ, nhỏ nhen.
- Nhỏ nhoi: Nhỏ ( sức vóc nhỏ nhoi ) (Tượng thanh).
- Nhỏ nhẽ: Nhỏ (nói năng nhỏ nhẽ,ăn uống nhỏ nhẽ) (Tượng thanh).
- Nhỏ nhỏ: Nhỏ ( quả cau nho nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ) (Tượng hình).
GV phải đưa các từ láy vào khuôn vần để giúp các em nắm nghĩa của các từ
một cách dễ dàng. Nói đến cơ chế tạo nghĩa của từ láy không thể không nói đến vai
trò của một số khuôn vần trong việc tạo nghĩa:
- Ha hả: Cười ( Cười to, sảng khoái.
- Hì hì: Cười (Vừa phải , thích thú, hồn nhiên.
- Hô hố: Cười (cười to, hơi vô duyên.
4. Phần bài tập, GV phải đa dạng hoá bài tập, chú trọng đến bài tập sáng tạo,
thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
5. GV tổ chức tìm thi từ nhanh,sáng tạo, kích thích sự hứng thú học tập của học
sinh.
6. Dạy Ngữ Văn nói chung và phần từ láy nói riêng, phải dạy toàn bộ các môn học,
tuyệt đối không được phó mặc cho học sinh sử dụng từ bừa bải thiếu văn hoá.
7. Nâng cao mức độ sử dụng vốn từ láy của HS trong quá trình học tập và giao
tiếp.
8. GV phải luôn luôn có thái độ mềm dẻo biết chọn lộc những ví dụ chắc chắn, đặc
biệt không nên trừng phạt HS khi HS làm trái ý với mình. Một thái độ mềm dẻo
trong GD là cần thiết, là có thể chấp nhận được vì nó không gây ra một hậu quả nào
xấu trong sử dụng ngôn ngữ.
II. Đề xuất:
Qua thực tế và qua quá trình làm đề tài, tôi xin có một vài đề xuất sau:
- Cần có đồ dùng dạy học đầy đủ cho môn ngữ văn.
- Cung cấp nhiều tài liệu để dạy tốt phân môn từ ngữ.
- Tăng cường các buổi giã ngoại để làm giàu vốn từ cho học sinh
********************************************************** *********
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nga - Trường THCS Lao Bảo 13
SKKN: Nâng cao hiệu quả sử dụng từ láy cho học sinh lớp 9 qua môn Ngữ Văn
******************************************************************************************************
- Giáo viên phải tạo cho học sinh có hứng thú môn học môn này.
Có được những yếu tố trên, với tinh thần và trách của mổi giáo viên, với sự nhiệt
tình nổ lực sáng tạo và lòng yêu nghề mến trẻ, chúng ta góp phần giúp học sinh cảm
thụ sâu sắc về từ láy và có đủ tri thức hiểu biết để bước vào đời. Từng bước trang bị
cho học sinh những kiến thức cơ bản cần thiết và hình thành nhân cách tốt đẹp cho
học sinh.
Qua áp dụng SKKN này tôi đạt được những thành công như sạu:
Học sinh từ chổ chưa biết nhận diện từ, khả năng phân biệt, khả năng đặt câu,
DANH MỤC VIẾT TĂT
SKKN: Sáng kến kinh nghiệm.
GV: Giáo viên.
GD: giáo dục.
TV: Tiếng Việt.
TH: Tượng hình.
TT: Tượng thanh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 8,9
2. Sách giáo viên Ngữ văn 8,9
3. Từ điển Tiếng Việt.
4. Tài liệu bồ dưỡng thường xuyên môn Ngữ Văn.
5. Nguyển Tài Cẩn : “ Ngữ pháp Tiếng Việt” .
6. Tài liệu: “Tiếng Việt trong trường học” của GS Hoàng Tuệ
7.Tài liệu: “ Phương pháp dạy từ ngữ” của Nguyễn Trí biên soạn.
********************************************************** *********
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nga - Trường THCS Lao Bảo 15