ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI Và NHÂN VĂN
KHOA: LỊCH SỬ
BÀI GIỮA KỲ
BÀI GIỮA KỲ
MÔN: LỊCH SỬ THẾ GIỚI CỔ TRUNG ĐẠI
MÔN: LỊCH SỬ THẾ GIỚI CỔ TRUNG ĐẠI
Đề bài: LUẬN THUYẾT CỦA ĂNGGHEN VỀ TÁC DỤNG CỦA LAO
ĐỘNG TRONG SỰ CHUYỂN BIẾN TỪ VƯỢN THÀNH NGƯỜI
Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc loài người. Từ xa
xưa, có thể là từ thời nguyên thủy, đã có những huyền thoại khác nhau
giải thích về nguồn gốc loài người. Có học giả cổ Hy Lạp tin rằng con
người sinh ra từ loài cá. Theo sách trang Tử của Trung Quốc “Loài sâu rễ
tre sinh ra loài báo, báo sinh ra ngựa, ngựa sinh ra người”. Người cổ
Trung Quốc tin rằng Bà Nữ Oa dùng bùn vàng nặn ra người và thổi vào
đó sự sống. Theo người cổ Ai Cập, thần Hanuma đã dùng đất sét tạo ra
người trên bàn xoay đồ gốm. Cũng theo huyền thoại thì người Việt là
“Con Rồng cháu Tiên”.
Kinh Thánh của đạo Thiên chúa giáo trình bày cụ thể về nguồn gốc
con người và các loài vật. Theo Kinh Thánh, Đức chúa trời đã dùng đất
sét nặn thành người đàn ông và lấy xương sườn người đàn ông nặn thành
người đàNhật Bảnà.
Các huyền thoại, tôn giáo về nguồn gốc con người có rất nhiều và
lại giống nhau ở chỗ quy công sáng tạo ra con người cho các đáng thần
linh.
Các học giả duy tâm phản động đã và đang nêu ra rất nhiều học
thuyết phản khoa học về nguồn gốc con người. Tuy mang nhiều màu sắc
khác nhau nhưng thực chất của các học thuyết đó không khác xa tôn giáo
bao nhiêu. Các nhà duy vật tiến bộ từ lâu đã tiến hành một cuộc đấu tranh
không khoan nhượng chống lại các thế giới quan tôn giáo duy tâm phản
Ăng-ghen đã giải quyết được một cách chính xác vấn đề nguồn gốc
và sự phát triển của loài người. Trong tác phẩm nổi tiếng “Tác dụng của
lao động trong sự chuyển biến từ vượn thành người” viết năm 1876, Ăng-
ghen đã nêu ra nguyên nhân làm cho loài vượn biến thành người và động
lực thúc đẩy quá trình đó.
Ăng-ghen đã vạch rõ chỗ khác nhau căn bản giữa người và động vật
là lao động “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ sinh hoạt
loài người, và như thế đến một mức mà trên môt ý nghĩa nào đó, chúng ta
phải nói: lao động đã sáng tạo và chính bản thân con người”.
Như vậy lao động đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình
chuyển biến từ vượn thành người. Đó chính là nguyên nhân thúc đẩy quá
trình đó.
Ăng-ghen đã miêu tả sự chuyển hóa từ giống vượn người kỉ địa chất
thứ ba thành người là do tác dụng của lao động và trong quá trình lao
động tập thể. “Do ảnh hưởng của lối sống đã bắt buộc hai tay của loài
vượn người này phải nhận những chức năng khác với chức năng của hai
chân, trong khi nó leo trèo, cho nên nó bắt đầu bỏ mất thói quen dùng đến
hai tay để đi dưới đất, rồi dần dần tiến đến chỗ có thể đi thẳng người
được. Bước quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người đã diễn
ra như thế”.
Như vậy, có thể thấy bước quyết định đầu tiên trong quá trình
chuyển biến từ vượn thành người là nhờ lao động. Nhờ có lad mà hai bàn
tay của vượn người được giải phóng khỏi chức năng đỡ cơ thể để làm một
số các chức năng khác như hái lượm và cũng dần dần nó có thể đi thẳng
bằng hai chân.
Tất cả các loài vượn người còn sống đến ngày nay như:
Chimpanzee, Gorilla, Gibbon, Orangoutan đều có thể đứng thẳng người
và chỉ dùng hai chân để đi lai. Tuy nhiên chúng chỉ làm như vậy trong
một số trường hợp cần thiết, và làm một cách vụng về. Còn cách đi tự
bằng cách đó của các bắp thịt, của các gân cốt, và sau những khoảng thời
gian dài, cả của xương nữa, và cuối cùng, nhờ đem sự tinh luyện thừa
hưởng được của các thế hệ trước mà áp dụng nhiều lần và liên tục vào
những động tác mới ngày càng phức tạp hơn, chỉ nhờ có như thế, bàn tay
con người mới đạt được trình độ hoàn thiện rất cao.
Nhưng bàn tay không phát triển biệt lập. Mà cái gì có lợi cho bàn
tay thì cũng có lợi cho toàn bộ cơ thể. Và như thế bàn tay phát triển hoàn
thiện thì cơ thể người và nhất là não cũng phát triển.
Do bàn tay người phát triển, toàn bộ cơ thể của tổ tiên chúng ta
cũng đã thay đổi theo tác dụng của quy luật phát triển tương quan. Với sự
phát triển của bàn tay và với quá trình lao động, tầm mắt con người được