Một số giải pháp xây dựng Nhà trường văn hoá ở trường THPT hiện nay - Pdf 27

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong đời sống xã hội, con người chịu ảnh hưởng bởi môi trường văn hóa
mà trong đó họ sống và hoạt động. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng, nó là
nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh và bản sắc của dân tộc đó. Tổ chức cũng
vậy, nó cũng có một truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa mà ta tạm gọi là
văn hóa tổ chức. Văn hóa tổ chức là một yếu tố rất quan trọng mà nhà quản lý
cần xây dựng và duy trì nhằm tạo động lực đưa đơn vị phát triển nhanh và bền
vững. Đối với trường học, nó được gọi là văn hóa nhà trường. Có thể hiểu văn
hoá nhà trường đó là những quan niệm, những chuẩn mực quy định cách thức xử
sự giao tiếp giữa người học với nhau, giữa trò với thầy và ngược lại. Văn hoá
nhà trường còn được thể hiện qua triết lí giáo dục của nhà trường, qua hành vi
giao tiếp, cách ứng xử của người học. Văn hóa nhà trường vô cùng quan trọng
trong việc rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ trở thành những con người
sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp.
Có thể nói, những năm gần đây, văn hóa học đường có những biến đổi theo
nhiều chiều hướng khác nhau. Nền kinh tế, văn hóa, khoa học phát triển tạo điều
kiện cho học sinh được tiếp cận với nhiều kênh thông tin, nhiều mô hình học tập
tiên tiến, do đó các em có nhiều điều kiện để phấn đấu và đạt thành tích cao trong
học tập. Song bên cạnh những thành tựu đã đạt được chúng ta cũng thấy rằng thực
tế môi trường văn hoá hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập đáng lo ngại: sự gia
tăng nhanh chóng của tệ nạn xã hội; sự băng hoại đạo đức, lối sống của một lớp
người trong xã hội, đặc biệt là lớp thanh niên trẻ; sự tấn công, phá hoại nhiều mặt
của các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang làm xói mòn đạo đức, lối sống,
phá vỡ thuần phong mỹ tục, đảo lộn kỷ cương, phép nước… điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến môi trường giáo dục ở các nhà trường.
Dù vậy, hiện nay nhiều cơ sở giáo dục - đào tạo và trường học chưa thực
sự coi trọng vấn đề xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh để giáo dục và đào
tạo con người phát triển toàn diện. Nhiều trường học mới chỉ quan tâm tới việc
truyền thụ kiến thức cho học sinh, chưa chú trọng đúng mức đến việc giáo dục
phẩm chất đạo đức, phát triển nhân cách con người. Mặt khác, một số hiện

2. Đánh giá thực trạng của việc xây dựng NTVH ở trường THPT
3. Đề xuất một số giải pháp xây dựng NTVH ở trường THPT hiện nay
VII. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
3. Phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, tổng kết kinh nghiệm
2
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
1.1.Văn hoá và văn hoá nhà trường
1.1.1. Văn hoá
Hiểu theo nghĩa rộng: “Văn hoá là tổ hợp các tri thức, niềm tin, nghệ thuật,
đạo đức, luật pháp, phong tục, và các năng lực, thói quen khác mà con người với
tư cách là thành viên của xã hội tiếp thu được”. Đây là định nghĩa của Taylo
(1832-1917) người Anh trong tác phẩm nổi tiếng “ Văn hoá nguyên thuỷ”, 1871.
Theo hai tác giả Kotter và Heskett, 1992; “Văn hoá tượng trưng cho một hệ
thống độc lập bao gồm các giá trị và cách ứng xử chung trong một cộng đồng và
có khuynh hướng được duy trì trong một thời gian dài”.
Kent D. Peterson and Terrence E. Deal, 2006, lại cho rằng: “Văn hoá đó là
dòng chảy của các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, các truyền thống, các nghi
lễ… chúng được hình thành qua thời gian khi mọi người cùng làm việc, cùng
giải quyết các vấn đề, cùng đương đầu với các thách thức”.
Tác giả Nguyễn Ái Quốc định nghĩa: “văn hoá là tổng hợp của mọi phương
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh,
Toàn tập, t.3, Nxb CTQG, H, 1995, tr.431).
Và định nghĩa của UNESCO: “Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng là một phức thể,
tổng thể các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm khắc hoạ
lên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, xã hội v.v ”. Văn hoá không

Về góc độ tổ chức, VHNT được coi như một mẫu thức cơ bản, tạo ra một
môi trường quản lý ổn định, giúp cho Nhà trường thích nghi với môi trường bên
ngoài, tạo ra sự hoà hợp môi trường bên trong. Một tổ chức có nền văn hóa mạnh
sẽ hội tụ được cái tốt, cái đẹp cho xã hội. VHNT sẽ giúp cho Nhà trường thực sự
trở thành một trung tâm văn hóa giáo dục, là nơi hội tụ sức mạnh của trí tuệ và lòng
nhân ái trong xã hội, góp phần quan trọng tạo nên sản phẩm giáo dục toàn diện.
1.2. Vai trò, tầm quan trọng của văn hoá nhà trường
1.2.1. Vai trò của văn hoá nhà trường
Nhà nghiên cứu GS. Peter Smith (ĐH Sunderlans) đã khẳng định: VHNT
có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng cuộc sống và hiệu quả hoạt
động của nhà trường.
- Sự phát triển của trẻ em chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường văn hoá
xã hội nơi các em lớn lên. Môi trường văn hoá trường học thuận lợi sẽ giúp trẻ
có nhiều cơ hội để phát triển; và ngược lại môi trường này không thuận lợi (thù
nghịch) sẽ làm thui chột sự phát triển của trẻ;
4
- Văn hoá nhà trường lành mạnh giúp giảm bớt sự không hài lòng của
giáo viên và giúp giảm thiểu hành vi cử chỉ không lịch sự của học sinh;
- Văn hoá nhà trường tạo ra môi trường thuận lợi hỗ trợ việc dạy và học,
khuyến khích giáo viên (GV), học sinh (HS) nỗ lực rèn luyện, phấn đấu học tập
và đạt thành tích mong đợi;
1.2.2.Tầm quan trọng của văn hoá nhà trường
Văn hoá là thứ tài sản lớn của bất kỳ một tổ chức nào. Nó càng có ý nghĩa
và tầm quan trọng đặc biệt đối với nhà trường, bởi lẽ: nhà trường là nơi bảo tồn
và lưu truyền các giá trị văn hoá nhân loại; nhà trường là nơi đào luyện những
lớp người mới, chủ nhân gìn giữ và sáng tạo văn hoá cho tương lai; nhà trường
là nơi con người với con người (người dạy với người học) cùng hoạt động để
chiếm lĩnh các mục tiêu văn hoá.
Văn hoá nhà trường tạo động lực làm việc; Văn hoá nhà trường hỗ trợ
điều phối và kiểm soát; Văn hóa nhà trường hạn chế tiêu cực và xung đột; Nâng

người và cuộc sống xung quanh.
Tạo ra một môi trường học tập có lợi nhất cho học sinh: học sinh cảm
thấy thoải mái, vui vẻ, ham học; học sinh được tôn trọng, được thừa nhận, và
cảm thấy mình có giá trị; học sinh thấy rõ trách nhiệm của mình; học sinh tích
cực khám phá, liên tục trải nghiệm và tích cực tương tác với giáo viên, nhóm
bạn; học sinh nỗ lực đạt thành tích học tập tốt nhất.
Tạo ra môi trường thân thiện cho học sinh: an toàn; cởi mở và chấp nhận
các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau của học sinh; khuyến khích học sinh phát
biểu, bày tỏ quan điểm cá nhân; xây dựng mối quan hệ ứng xử tôn trọng, hiểu
biết lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau giữa thầy và trò.
2. Cơ sở thực tiễn
Quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo cơ chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nhất là từ khi Việt Nam gia
nhập tổ chức WTO, chúng ta đã nỗ lực tìm kiếm nhiều cơ hội, đạt được những
thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ… thúc đẩy sự phát
triển của đời sống văn hoá xã hội. Đồng thời mặt trái của cơ chế kinh tế thị
trường cũng đã và đang tác động không nhỏ đến đời sống xã hội nói chung và
giáo dục nói riêng. Nó làm cho bộ mặt văn hóa xã hội dần thay đổi, thậm chí đã
có những biểu hiện xuống cấp, tha hóa. Sự du nhập lối sống và sản phẩm công
nghệ hiện đại từ các nước phát triển đã làm không ít học sinh xa rời các giá trị
đạo đức truyền thống, hình thành tư tưởng hưởng thụ, ăn chơi, đua đòi và chịu
tác động của tệ nạn xã hội. Những biểu hiện văn hoá lệch lạc, lối sống thiếu lành
mạnh, những hiện tượng tha hoá, những sai lệch chức năng, chuẩn mực giá trị,
đạo đức, xa rời thuần phong mỹ tục của dân tộc… đang xuất hiện ngày càng
nhiều trong đời sống văn hoá của học sinh.
6
Sự phát triển và lan rộng của hệ thống Internet bên cạnh mặt tích cực giúp
phát triển tri thức, cập nhật thông tin, mở rộng hiểu biết và tăng cường các mối
quan hệ thì nó cũng đã có những tác động tiêu cực đến đời sống như: học sinh sử
dụng Internet làm công cụ giải trí để tiêu phí thời gian, sức lực và tiền bạc vào

đi trường giáo dưỡng 1033 đối tượng, áp dụng các biện pháp khác 4453 đối
tượng. Trong hàng loạt các vụ cướp, đâm, chém… vừa qua, hầu hết hung thủ
7
đều trong độ tuổi rất trẻ, thậm chí dưới 16-17 tuổi. Điều đó đã làm ảnh hưởng
nghiêm trọng tới bộ mặt văn hóa xã hội, để lại những hậu quả khôn lường cho
giáo dục nước nhà.
Mặt khác, lâu nay giáo dục chúng ta coi trọng dạy chữ mà lơ là việc dạy
người; coi trọng số lượng hơn là chất lượng. Đã đến lúc chúng ta cần phải chấn
hưng giáo dục nước nhà. Thực tế, cũng đã có rất nhiều giải pháp của các nhà
nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Dưới góc độ của cấp quản lý cơ
sở thực tiễn, thiết nghĩ, việc xây dựng nhà trường văn hóa trong giai đoạn hiện
nay là vô cùng quan trọng, bởi nhà trường là cơ sở nền tảng, là tế bào của hệ
thống giáo dục. Cũng như cơ thể người, chỉ khi có được những tế bào lành mạnh
thì cơ thể mới phát triển bình thường. Khi các nhà trường đạt tới môi trường văn
hoá lành mạnh thì chất lượng giáo dục mới được nâng lên và đảm bảo.
II. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ TRƯỜNG VĂN HOÁ Ở TRƯỜNG
THPT HIỆN NAY
1. Nhà trường THPT và học sinh THPT
1.1. Nhà trường Trung học phổ thông
"Trường trung học phổ thông là cơ sở giáo dục phổ thông tiếp nối cấp trung
học cơ sở và kết thúc bậc trung học, gồm 3 lớp 10, 11, 12. Trường trung học phổ
thông được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ nhà
trường. Trường trung học phổ thông do chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể. Học sinh học hết chương trình trung
học phổ thông thi tốt nghiệp đạt yêu cầu thì được Giám đốc Sở Giáo dục và Đào
tạo cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông" - Từ điển Giáo dục học.
Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường trung
học có nhiều cấp học do Bộ GD&ĐT ban hành ngày 02/4/2007 ghi rõ: Trường
THPT là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư
cách pháp nhân và có con dấu riêng. Trường THPT được đặt dưới sự quản lý của

Đây cũng là lứa tuổi rất hăng hái nhiệt tình trong công việc, rất lạc quan
yêu đời nhưng cũng dễ bi quan chán nản khi gặp thất bại. Một số em ý chí phấn
đấu yếu, trình độ nhận thức về xã hội còn thấp, các em thường có thái độ coi
thường lao động chân tay, thích cuộc sống xa hoa lãng phí, đua đòi, ăn chơi.
Lứa tuổi THPT cũng là lứa tuổi đang phát triển về tài năng, tiếp thu cái mới
nhanh, rất thông minh sáng tạo nhưng cũng dễ sinh ra chủ quan nông nổi, kiêu
ngạo ít chịu học hỏi đến nơi đến chốn để nâng cao trình độ. Các em thích hướng
về tương lai, ít chú ý đến hiện tại và dễ quên quá khứ Giai đoạn này, học sinh
không chỉ tự ý thức về cái tôi của mình mà còn nhận thức vị trí của mình trong
tương lai. Xuất hiện khuynh hướng phân tích và tự đánh giá bản thân mình một
cách độc lập. Học sinh THPT có nguyện vọng thể hiện cá tính của mình trước
mọi người một cách độc đáo, tìm cách để người khác quan tâm đến mình hoặc
làm điều gì đó nổi bật. Vì thế môi trường văn hoá nhà trường có tác động rất lớn
đến việc phát triển nhân cách học sinh.
9
2. Thực trạng các hoạt động xây dựng nhà trường văn hoá ở trường THPT
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thực hiện xây dựng NTVH, thực
hiện nghiêm túc Chương trình và kế hoạch giáo dục và đào tạo, trong những
năm qua, ở mỗi nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng đã tiến hành
các nhiệm vụ để tiến tới xây dựng Nhà trường văn hoá, thực hiện phong trào thi
đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Đẩy mạnh phong trào
thi đua “Dạy tốt, học tốt”, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giáo
dục toàn diện; thực hiện cuộc vận động “Dân chủ - Kỷ cương- Tình thương-
Trách nhiệm”, triển khai cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và
bệnh thành tích trong giáo dục” trong nhà trường, xây dựng môi trường thân
thiện, học sinh hoạt động tích cực.
2.1. Đối với học sinh
Mỗi nhà trường đều phát động, triển khai các phong trào thi đua; tổ chức
thi tìm hiểu môi trường xung quanh, nhằm nâng cao thói quen lễ phép cho học
sinh trong toàn trường. Tổ chức chuyên đề giáo dục nhận thức thẩm mỹ và ứng

xây dựng “ Nhà trường văn hoá- nhà giáo mẫu mực- học sinh chăm ngoan”. Quá
trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà trường văn hoá được tiến hành theo cách
xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động, thông qua các khâu như:
- Giáo viên đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch.
- Ban giám hiệu có biện pháp quản lý chỉ đạo hoạt động.
- Ban chấp hành Công đoàn xây dựng khối đoàn kết nội bộ.
Hoạt động xây dựng NTVH được biểu hiện trong khối cán bộ, giáo viên như:
- Xây dựng nếp sống văn hoá và tác phong sư phạm: ra vào lớp, hội họp
đúng giờ, ghi chép đầy đủ, tập trung đóng góp ý kiến xây dựng…
- Thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của trường, của Sở để
nâng cao trình độ, tạo điều kiện cho giáo viên đi học thạc sỹ, phấn đấu tỷ lệ đạt
trên chuẩn ngày càng tăng. Tổ chức cho giáo viên học tập và thực hiện các văn
bản, chỉ thị của ngành.
- Nhà trường phối kết hợp với Công đoàn hưởng ứng, thực hiện cuộc vận
động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”,
thực hiện tốt cuộc vận động “Dân chủ- Kỷ cương- Tình thương- Trách nhiệm”
và “Nếp sông văn hoá công sở”. Đề ra những tiêu chuẩn thi đua mang tính khả
thi được bàn bạc thống nhất một cách dân chủ động viên cán bộ giáo viên thực
hiện tốt nhiệm vụ năm học, tổ chức sơ kết, tổng kết và khen thưởng kịp thời.
Trong hoạt động xây dựng NTVH, nhà trường luôn nghiêm khắc xử lý đối
với giáo viên còn có những tồn tại như:
- Giáo viên chưa thực sự gương mẫu trong giao tiếp ứng xử với đồng
nghiệp, với học sinh và cha mẹ học sinh, tác phong, lời nói chưa chuẩn mực.
11
- Trong nghề nghiệp, khả năng sư phạm, phương pháp dạy học chưa thực
sự đáp ứng yêu cầu đổi mới, đánh giá học sinh chưa sát đúng, chưa thực sự làm
cho phụ huynh học sinh khâm phục về năng lực chuyên môn, khả năng thu hút
học sinh.
- Lối sống, giao tiếp, ứng xử và trang phục chưa chuẩn mực, hoặc cẩu thả
trong cách ăn mặc dẫn đến hạn chế trong việc hướng dẫn học sinh ăn mặc, ứng

Tất cả các lý thuyết nói chung đều mang tính chất lý luận và được tổng kết,
đúc rút kinh nghiệm từ nhiều cơ sở khác nhau nên khi áp dụng vào một trường
THPT cụ thể thì lại phải hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện thực tiễn của trường đó.
1.3. Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi
Nguyên tắc này đòi hỏi biện pháp đưa ra phải được sự đồng thuận của các
cấp quản lý giáo dục, địa phương, cha mẹ học sinh, học sinh và đặc biệt là của
toàn thể cán bộ, giáo viên trong nhà trường thì giải pháp mới có tính khả thi.
2. Một số giải pháp xây dựng NTVH ở trường THPT hiện nay
2.1. Giải pháp xây dựng “phần nổi” của NTVH
- Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng trường học “ Xanh- sạch- đẹp- an toàn”:
quan tâm xây dựng khung cảnh bên ngoài nhà trường như cổng trường, tường
rào, nhà để xe…; chủ động quy hoạch khuôn viên nhà trường, khu vực sân chơi,
bãi tập, khu học tập tạo không gian hợp lý mang tính giáo dục cao; tiếp tục đầu
tư trồng cây xanh, cây cảnh, cây bóng mát… đảm bảo tiêu chí môi trường học
đường an toàn, xanh, sạch đẹp. Tổ chức trang trí lớp học, hành lang các phòng
học, trang trí phòng làm việc, trang trí các bảng biểu tuyên truyền về tầm nhìn,
sứ mạng, mục tiêu và hệ thống các giá trị của nhà trường; tạo nên môi trường
nhẹ nhàng, hài hoà giảm bớt sự căng thẳng ở giáo viên và học sinh.
- Chú trọng xây dựng trang phục của CBGV NV và HS khi đến trường:
thực hiện mọi CBGV NV và HS thực hiện đúng quy định về trang phục khi đến
trường, về rèn luyện phong cách, phẩm chất cho phù hợp với mục tiêu của việc
xây dựng NTVH.
- Quan tâm đến các hoạt động văn hoá trong trường học: chú trọng đưa
vào trường học các hoạt động văn hoá có ý nghĩa thiết thực, phù hợp với truyền
thống văn hoá của dân tộc. Hình thành thói quen ứng xử có văn hoá trong
CBGV NV và HS: thói quen giữ vệ sinh trường lớp; tiết kiệm năng lượng;
không nói tục, chửi thề; không hút thuốc lá; không sử dụng điện thoại di động
khi hội họp và giảng dạy…; chống các biểu hiện thiếu công bằng, thiếu dân chủ,
thiếu trung thực; bắt tay, chào hỏi, tặng hoa…lúc nào cho phù hợp; đi lại, đứng
ngồi, xưng hô, nói năng, để xe… sao cho có văn hoá.

chính xác trong nhìn nhận đối với văn hoá, hiểu biết toàn diện hơn về văn hoá,
tầm quan trọng của văn hoá nhà trường trong dạy học và giáo dục. Từ đó biến
hoạt động xây dựng NTVH thành hoạt động mang tính chất tự giác, thường
xuyên của mỗi giáo viên và học sinh trong trường.
3.2. Định hình hệ thống các giá trị cốt lõi của NTVH
3.2.1. Xem xét các giá trị đặc trưng của nhà trường
Mỗi nhà trường đều có lịch sử tồn tại và phát triển. Sự tồn tại, phát triển
của nhà trường qua thời gian đã tạo ra những giá trị văn hoá nào đó. Cần có
14
những khảo sát đánh giá các giá trị văn hoá đang tồn tại trong nhà trường: đâu là
các giá trị tích cực, tiêu cực, đâu là các giá trị văn hoá được cán bộ giáo viên,
nhân viên và học sinh trong trường mong muốn.
Hiệu trưởng cần phải nhận ra đâu là những giá trị văn hoá đích thực, cốt
lõi có tính đặc trưng của nhà trường đang tồn tại tạo sự khác biệt về bản sắc với
các trường khác để nuôi dưỡng, vun trồng.
Những giá trị văn hoá không phải là cố định, bất biến, nó có thể thay đổi
tuỳ thuộc vào sự thay đổi của xã hội (có tính định kỳ, có thời hạn…), vì vậy hiệu
trưởng phải luôn luôn vun trồng những giá trị văn hoá nhà trường.
3.2.2. Định hình hệ thống các giá trị cốt lõi
Cần có những khảo sát, đánh giá về các giá trị cá nhân và các giá trị tổ chức
hiện đang tồn tại trong nhà trường, các giá trị văn hoá được mọi người mong muốn.
Hiệu trưởng chia sẻ các kết quả khảo sát đánh giá này với cán bộ, giáo viên,
nhân viên, học sinh và thu thập ý kiến của mọi người về những giá trị cốt lõi
nhất mà nhà trường cần tập trung vun trồng, phát triển.
Hiệu trưởng cùng với giáo viên, nhân viên hiện thực hoá các giá trị này trong
các giao tiếp ứng xử hàng ngày, trong quá trình xây dựng mục tiêu, kế hoạch giáo
dục năm học, quá trình đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh để mọi
thành viên trong trường cùng chia sẻ và tạo nên bản sắc của nhà trường.
3.3.Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, hiệu quả quản lý của Ban
Giám hiệu trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTVH

hiện có hiệu quả phong trào xây dựng “Trường học thân thiện học sinh tích cực”.
- Chỉ đạo cho cán bộ y tế trường học vận động các em học sinh biết chăm sóc
sức khoẻ, giữ gìn vệ sinh chung và cá nhân, bảo vệ môi trường xanh- sạch- đẹp.
Tổ chức cho 100% học sinh khám sức khoẻ ban đầu, tuyên truyền phòng bệnh
học đường và các bệnh truyền nhiễm khác.
* Đối với BCH Công đoàn:
- Phối hợp tổ chức tốt các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục - thể thao. Thông
qua các hoạt động này nhằm xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”;
ngăn ngừa và phong chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường;
hoàn thành tốt các chỉ tiêu thi đua của Nghị quyết đại hội Chi bộ, Đảng bộ, đại hội
Công đoàn và hội nghị cán bộ công chức từng nhiệm kỳ đề ra.
- Luôn có sự phối hợp chặt chẽ, đầy trách nhiệm, tất cả vì sự nghiệp Giáo dục
- Đào tạo của trường; chung vai gánh vác, chia sẻ trách nhiệm, tạo điều kiện
thuận lợi cho mỗi cá nhân phát triển.
- Vận động 100% Đoàn viên công đoàn, người lao động trong đơn vị đăng ký
xây dựng đơn vị có đời sống văn hoá tốt, mỗi Đoàn viên công đoàn là hạt nhân
tích cực hưởng ứng thực hiện xây dựng đời sống văn hoá ở nhà trường. Chỉ đạo
toàn thể đoàn viên đăng ký thực hiện các tiêu chí xây dựng gia đình văn hoá, cơ
16
quan văn hoá gắn liền với cuộc vận động “ Dân chủ- Kỷ cương- Tình thương-
Trách nhiệm” và cuộc vận động xây dựng người cán bộ “ Trung thành- sáng tạo-
tận tuỵ- gương mẫu”.
3.4. Xây dựng và thực hiện các quy tắc ứng xử văn hoá trong nhà trường
Nói tới văn hoá là nói tới hệ thống những giá trị chi phối cách ứng xử và
sự giao tiếp. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “Văn hoá là hiểu biết, hiểu
biết làm người xử sự, xử thế với bản thân, gia đình, xã hội, thiên nhiên là đẹp đẽ
nhất của văn hoá”.
3.4.1. Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò
-Thầy cô giáo phải hết lòng thương yêu giúp đỡ học sinh, tạo nhiều cơ hội
để các em có điều kiện gần gũi, tâm sự;

- Phát huy vai trò “tổ ấm” của tổ công đoàn trong xây dựng mối quan hệ
giữa các thành viên trong nhà trường.
3.4.4. Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh
Tạo môi trường giao tiếp, tổ chức tốt các hoạt động tư vấn, các nội dung
GDNGLL. Cho học sinh tham quan, giao lưu với các trường bạn.
Quy định quy tắc ứng xử văn hoá trong trường đối với học sinh:
- Quan hệ bạn bè mật thiết, cởi mở trên tinh thần động viên tích cực học
tập, rèn luyện;
- Không phát ngôn bừa bãi, lời nói, diễn đạt có văn hoá;
- Hàng ngày đến trường, lớp, bạn bè chào hỏi thân thiện, vui vẻ;
- Có thái độ kính trên nhường dưới, sẵn sàng chia sẻ với mọi người;
- Khi gặp thầy cô giáo, cán bộ nhân viên chào hỏi niềm nở;
- Tuyệt đối không gây gỗ, xích mích, xâm phạm thân thể lẫn nhau;
- Có thái độ bình tĩnh khi đề nghị thầy cô giáo, cán bộ nhân viên trong
nhà trường giải quyết các vấn đề quyền lợi của bản thân;
- Tự giác sửa chữa lỗi lầm khi vi phạm các điều trong nội quy của nhà trường;
- Luôn có ý thức xây dựng và bảo vệ trường lớp ngày càng sạch đẹp hơn;
- Có ý thức tham gia bảo vệ các công trình văn hoá, di tích lịch sử của địa
phương;
- Khi có khách đến thăm trường phải biết chào hỏi lịch sự;
- Mỗi học sinh cần phải có ý thức học tập và rèn luyện kỹ năng sống.
18
- Thành lập văn phòng tư vấn các vấn đề trong đời sống của học sinh (tình yêu,
tình bạn, cuộc sống thực tại, cung cách ứng xử trong các mối quan hệ). Văn phòng do
Đoàn thanh niên phụ trách, mời các chuyên gia có uy tín và có kỹ năng tư vấn trong
từng lĩnh vực. Có như vậy, đối tượng tư vấn sẽ nghe theo, tin theo và làm theo.
3.5. Tăng cường vai trò của Hiệu trưởng trong việc xây dựng nhà trường
văn hoá
Muốn có được một NTVH Hiệu trưởng cần phải chú trọng: xây dựng cho
mỗi cá nhân GV và HS những ý thức và hành vi đạo đức mới phù hợp với

người; gắn việc kế thừa giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu giá trị văn
hoá mới của thời đại, chống lại cái xấu, cái giả dối. Khẳng định cái đúng, cái tốt
đẹp, xây dựng bầu không khí lành mạnh kích thích sự nỗ lực của mỗi cá nhân.
3.6. Tăng cường các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho học sinh
Giáo dục hành vi văn hoá cho học sinh trong nhà trường là giáo dục cho họ
một tinh thần tự ý thức, tự đánh giá và vai trò điều chỉnh của lương tâm, trong
cách ứng xử và trong hoạt động thực tiễn.
3.6.1. Trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về đạo đức, chuẩn
mực đạo đức mà xã hội yêu cầu; giúp các em nhận thức được những giái trị đạo
đức mà thời đại đang quan tâm. Cái chính yếu nhất là phải nêu cao các giá trị
của văn hoá học đường. Những khẩu hiệu “ Tiên học lễ, hậu học văn”, “ Tôn sư
trọng đạo”, “ Tất cả vì học sinh thân yêu” phải cấp thiết giữ gìn và nêu cao.
3.6.2. Coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức cho học
sinh là nhiệm vụ hàng đầu trong nhà trường.
Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, những chuẩn mực, giá trị đạo đức
đã có những thay đổi theo những chiều hướng khác nhau. Nhiều chuẩn mực đạo đức
mới được hình thành, nhiều giá trị truyền thống được bổ sung và ít nhiều có sự thay
đổi. Nếu không có sự định hướng đúng học sinh dễ bị mất phương hướng trong việc
lựa chọn các giá trị phù hợp với yêu cầu của xã hội. Giáo dục chính trị tư tưởng đạo
đức cho học sinh hướng vào việc làm cho học sinh nhận thức một cách rõ ràng và đầy
đủ những chuẩn mực đạo đức truyền thống và hiện đại phù hợp, cái gì gìn giữ, cái gì
cần bổ sung, tiếp thu để vừa phù hợp với con người Việt Nam nhưng không lỗi thời so
với sự phát triển của nhân loại.
3.6.3. Tổ chức rèn luyện cho học sinh thói quen hành vi phù hợp với những
chuẩn mực đạo đức xã hội.
Mục đích của quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh là biến sự hiểu biết
về đạo đức thành những hành vi đạo đức cụ thể và những hành vi ấy phải trở
thành thói quen, thành ý thức thường trực trong cuộc sống hàng ngày.
Những hiểu biết về đạo đức, những xúc cảm tình cảm đạo đức của học
sinh là cơ sở tâm lý để rèn luyện những thói quen về hành vi đạo đức cho họ. Để

Giáo dục hành vi văn hoá học đường có vai trò to lớn trong việc hình
thành và phát triển nhân cách học sinh. Trong tình hình hiện nay, giáo dục hành
vi văn hoá cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và cấp bách. Đây là
một việc làm có tính chất lâu dài và không hề đơn giản trước những làn sóng
nhiễu của thời kỳ hội nhập và cơ chế thị trường. Tuy nhiên, nếu xác định đúng
và biết sử dụng hợp lý các biện pháp cùng với sự chung tay của cả cộng đồng thì
chúng ta sẽ có cả một thế hệ vừa hông vừa chuyên.
21
3.7. Tăng cường các nguồn lực và cơ sở vật chất các hoạt động xây dựng
NTVH
Tài chính là một trong những nhân tố quyết định tới kết quả của mọi hoạt động.
Muốn hoạt động xây dựng NTVH ở các trường THPT đạt kết quả cần
phải có sự đầu tư về kinh phí một cách hợp lý.
Nguồn lực, vốn đầu tư cho các hoạt động xây dựng nhà trường nói chung và
xây dựng NTVH nói riêng hiện nay ở các cơ sở giáo dục đều còn có nhiều khó
khăn. Để thực hiện được giải pháp này các nhà trường phải có kế hoạch huy động
vốn từ các nguồn: nguồn do Ngân sách Nhà nước và nguồn vốn huy động từ trong
nhân dân địa phương đóng góp. Cần chú trọng thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá
các hoạt động văn hoá - giáo dục, khuyến khích nhân dân tích cực tham gia đóng
góp vào quỹ xây dựng trường và xây dựng các công trình văn hoá.
Trên thực tế, các nhà trường đã tập trung đầu tư kinh phí trang bị cơ sở
vật chất đảm bảo có đầy đủ phòng học cho học sinh, các phòng chức năng đạt
yêu cầu chuẩn với các thiết bị dạy học hiện đại, sân chơi có nhiều cây xanh bóng
mát tạo một khung cảnh sư phạm nhà trường luôn xanh- sạch- đẹp. Song so với
nhu cầu của giáo dục hiện đại thì cơ sở vật chất của các nhà trường ở ta vẫn
đang còn rất khiêm tốn vì vậy đây cũng là một vấn đề buộc các nhà quản lý các
cơ sở giáo dục phải quan tâm đầu tư.
3.8. Phát huy sức mạnh tổng hợp của giáo viên và học sinh trong trường
làm chuyển biến mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng NTVH
Mỗi thành viên trong trường phải nhận thức được đầy đủ và đúng đắn xây

có kiến thức mà còn có cách sống, cách ứng xử văn hoá.
- Bản thân mỗi CBGV NV tích cực tham gia đăng ký xây dựng đơn vị có
đời sống văn hoá tốt, văn minh - sạch đẹp - an toàn; vận động phụ huynh tích
cực tham gia xây dựng nhà trường xanh - sạch - đẹp, văn minh.
- Mỗi CBGV NV đăng ký xây dựng ít nhất một điểm sáng văn hoá tại cơ
quan.
- Tích cực đăng ký xây dựng gia đình văn hoá ở khu dân cư, phấn đấu đạt
gia đình văn hoá tiêu biểu.
- Cùng với các phong trào thi đua xây dựng nếp sống văn minh cơ quan;
xây dựng cơ quan “ Xanh- Sạch-Đẹp” và các hoạt động xã hội khác. Qua đó mỗi
giáo viên đều nhận thức được rằng chỉ có thể bằng hành động mới làm cho
người lao động tự khẳng định được mình trong thực tiễn cuộc sống và công tác,
do vậy mỗi thành viên trong nhà trường đều được phân công đảm nhiệm những
công việc nhất định để phấn đấu vươn lên dần dần đạt tới mục tiêu “Trường ra
trường, lớp ra lớp”, là nguồn động viên, cổ vũ mọi người hết lòng vì sự nghiệp
“trồng người”.
23
4. Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất tác giả tiến
hành trưng cầu ý kiến của 9 HT, PHT; 47 TTCM, TPCM; 100 GV của 3 trường
THPT tổng số phiếu trưng cầu ý kiến là 156. Phiếu trưng cầu đề nghị các HT,
PHT; TTCM, TPCM; GV đánh giá ở 3 mức độ: Rất cần thiết, cần thiết, không
cần thiết; Rất khả thi, khả thi, không khả thi. Kết quả được thể hiện như sau:
T
T
Nội dung giải pháp
Tính cần thiết
(%)
Tính khả thi
(%)

4 Xây dựng và thực hiện các quy tắc ứng xử
văn hoá trong nhà trường
87,2 12,8 0 87,2 12,8
0
5 Tăng cường vai trò của Hiệu trưởng trong
việc xây dựng nhà trường văn hoá
86,5 13,5 0 86,5 13,5
0
6 Tăng cường các biện pháp giáo dục hành vi
văn hoá cho học sinh
82,7 17,3 0 80,1 28,9
0
7 Tăng cường các nguồn lực và cơ sở vật chất
các hoạt động xây dựng NTVH
86,5 13,5 0 73,7 26,3
0
8 Phát huy sức mạnh tổng hợp của giáo viên và
học sinh trong trường làm chuyển biến mạnh
mẽ cuộc vận động xây dựng NTVH
73,7 26,3 0 82,7 17,3
0
Qua kết quả thăm dò đánh giá ở bảng trên cho thấy các HT, PHT; TTCM,
TPCM; GV đa số nhất trí cao các giải pháp xây dựng NTVH mà chúng tôi đề
xuất. Hầu hết các đối tượng được khảo sát đều cho rằng các giải pháp đề xuất ở
trên đều rất cần thiết và đều mang tính khả thi.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
24
I. KẾT LUẬN:
Môi trường văn hoá nhà trường đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc
hình thành và phát triển nhân cách đạo đức học sinh. Văn hoá học đường gần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status