Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội và lao động sản
xuất là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người và xã
hội loài người. Trước khi tiến hành sản xuất người ta thường đặt ra ba câu
hhỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? điều đó có
nghĩa việc sản xuất của con người luôn luôn có mụch đích, nhưng cái mà con
người quan tâm nhất chính là hiệu quả của hoạt động sản xuất đó. Xã hội
ngày càng phát triển thì vai trò của sản xuất ngày càng tăng và sự quan tâm
cuả con người tới năng suất lao động cũng tăng theo.
Mong muốn của người tiêu dùng là mua được hàng hoá, dịch vụ có giá
thành rẻ nhưng vẫn phải đảm bảo về chất lượng. Mong muốn của doanh
nghiệp là giảm chi phí sản xuất, tăng doanh thu để tăng lợi nhuận. Mong
muốn của chính phủ là tăng quy mô và tốc độ của tổng sản phẩm xã hội và
thu nhập quốc dân, giải quyết thuận lợi các vấn đề tíchluỹ và tiêu dùng…Để
đạt được các mong muốn trên thì cần phải tăng năng suất lao động.
Công ty TNHH Khánh An là một Công ty tư nhân, mụch đích của Công
ty là làm sao để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, mở
rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, giảm chi phí trong sản xuất, tăng doanh thu
…mụch đích cuối cùng là tăng lợi nhuận của Công ty. Để đạt được điều đó thì
Công ty cần có những biện pháp nâng cao năng suất lao động. Từ thực tế tìm
hiểu về năng suất lao động tại Công ty TNHH Khánh An, em chọn đề tài
“Giải pháp nâng cao năng suất lao động trong Công ty TNHH Khánh An”
làm chuyên đề nghiên cứu trong quá trình thực tập của mình, nhằm mụch đích
tìm ra các biện pháp phù hợp góp phần giúp Công ty nâng cao năng suất lao
động.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đề tài của em được chia làm 3 phần:
Phần I : Năng suất lao động và sự cần thiết phải nâng cao năng suất
lao động.
đầu ra
Việc lựa chọn đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo ra các chỉ tiêu đánh giá
năng suất khác nhau.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2. Năng suất lao động
- Theo C. Mác: năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể
có ích. Nó nói lên kết quả hoạt động sản xuất có mụch đích của con người
trong một đơn vị thời gian nhất định.
Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian, hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một
đơn vị sản phẩm đó.
-Theo quan niệm truyền thống: năng suất lao động phản ánh tính hiệu
quả của việc sử dụng lao động. Thực chất nó đo giá trị đầu ra do một lao động
tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc là số thời gian cần thiết để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đầu ra
Như vậy :Năng suất lao động phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra (là sản
phẩm) và đầu vào (là lao động) được đo bằng thời gian làm việc. Từ nhiều
khái niệm khác nhau về năng suất lao động chúng ta có thể hiểu một cách
tổng quát nhất “năng suất lao động là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh hiệu
quả hoạt động sản xuất của người lao động trong quá trình sản xuất ”
1.3. Tăng năng suất lao động
-Theo C.Mác: tăng năng suất lao động là sự tăng lên của sức sản xuất
hay năng suất lao động, có thể hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động,
thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một
hàng hoá, sao cho số lượng lao động ít hơn mà lại có được sức sản xuất ra
nhiều giá trị sử dụng hơn.
Tăng năng suất lao động có nghĩa là giảm chi phí lao động cho một đơn
vị sản phẩm. Trong một thời gian như nhau, nếu năng suất lao động càng cao
thì số lượng giá trị sử dụng sản xuất ra càng nhiều nhưng giá trị sáng tạo ra
phát triển sản xuất.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2. Phân loại năng suất lao động
Theo phạm vi: năng suất lao động được chia làm 2 loại là năng suất lao
động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
_ Năng suất lao động cá nhân là sức sản xuất của cá nhân người lao
động, được đo bằng tỷ số giữa khối lượng công việc hoàn thành hoặc số
lượng sản phẩm với thời gian lao động hao phí để sản xuất ra số sản phẩm đó.
Lao động sống là sức lực của con người bỏ ra ngay trong quá trình sản
xuất. Năng suất lao động cá nhân được xem như thước đo tính hiệu quả của
lao động sống, được biểu hiện bằng đầu ra trên một giờ lao động. Đối với các
doanh nghiệp thường trả lương dựa vào năng suất lao động cá nhân hoặc mức
độ thực hiện công việc của từng cá nhân, do đó tăng năng suất lao động cá
nhân đòi hỏi hạ thấp chi phí của lao động sống.
-Năng suất lao động xã hội là sức sản xuất của toàn xã hội, nó được đo
bằng tỷ số giữa tổng sản phẩm đầu ra của xã hội với số lao động bình quân
hàng năm hặc thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Trong năng suất lao động xã hội có cả sự tiêu hao của lao động sống và
lao động quá khứ. Lao động quá khứ là sản phẩm của lao động sống đã dược
vật hoá trong các giai đoạn sản xuất trước kia( biểu hiện ở giá trị của máy
móc, nguyên , vật liệu)
Giữa tăng năng suất lao động cá nhân và tăng năng suất lao động xã hội
có quan hệ mật thiết với nhau. Năng suất lao động cá nhân tăng trong điều
kiện làm việc với những công cụ hiện đại, không thể tách rời lao động của
hàng loạt ngành đã tham gia vào sáng tạo công cụ đó. Mặt khác, trong quản lý
kinh tế nếu chỉ chú trong đơn thuần tính theo chỉ tiêu năng suất lao động cá
nhân tức tiết kiệm phần lao động sống sẽ diễn ra hiện tượng coi nhẹ tiết kiệm
vật tư, coi nhẹ chất lượng sản phẩm. Đôi khi năng suất lao động cá nhân tăng
nhưng năng suất lao động của tập thể, của toàn doanh nghiệp lại không tăng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ta trong kỳ của doanh nghiệp. Vì vậy các ngành có tỷ trọng bán thành phẩm
lớn không áp dụng được chỉ tiêu này.
- Chỉ dùng để tính cho một loại sản phẩm nhất định nào đó, không thể
dùng làm chỉ tiêu tổng hợp tính cho nhiều loại sản phẩm nên không thể so
sánh mức năng suất lao động giữ các ngành có các loại sản phẩm khác nhau,
cũng như không thể so sánh được giữa các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại
sản phẩm.
- Yếu tố chất lượng sản phẩm đôi khi bị bỏ qua hoặc không thực sự được
lưu tâm.
3.2. Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng giá trị
Chỉ tiêu này dùng sản lượng bằng tiền của tất cả sản phẩm thuộc doanh
nhgiệp (ngành) sản xuất ra, để biểu hiện mức năng suất lao động của một lao
động
Q
Công thức tính: W = -----
T
Trong đó: - W là mức năng suất lao động của một lao động
( tính bằng tiền)
- Q là tổng sản lượng (tính bằng tiền)
- T là tổng số lao động
Ưu điểm
- Phản ánh tổng hợp hiệu quả của lao động, cho phép tính cho các loại
sản phẩm khác nhau, khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu tính bằng hiện
vật.
- Tổng hợp chung được các kết quả mà doanh nghiệp đã tạo ra trong kỳ
như thành phẩm, bán thành phẩm, các công việc và dịch vụ …
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nhược điểm
+ Lsx : lượng lao động sản xuất gồn toàn bộ thời gian lao động của công
nhân chính và công nhân phục vủtong Công ty
+ Lql : gồm lượng lao động của cán bộ kỹ thật,nhân viê nj quản lý trong
Công ty công tạp vụ, bảo vệ
+ Lch : bao gồm hao phí thời gian lao động của công nhân chính hoàn
thành quả trình công nghệ và lao động phục vụ quá trình công nghệ đó
+ Lpvs: lượng lao động phục vụ sản xuất
+Lcn: lượng lao động công nghệ bao gồm hao phí thời gian lao động
cuae công nhân chính hoan thành các quá trình công nghệ chủ yếu
+ Lpvc: lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ
Ưu điểm : phản ánh được cụ thể mức tiết kiệm về thời gian lao động để
sản xuất ra một sản phẩm
Nhược điểm: Việc tính toán phức tạp nà không dùng để tính tổng hợp
được năng suất lao động bình quân của một ngành hay một doanh nghiệp có
nhiều loại sản phẩm khác nhau.
4. Các yếu tố làm tăng năng suất lao động
4.1 Yếu tố gắn liền với phát triển và sử dụng các tư liệu sản xuất
Các yếu tố này bao gồm: hiện đại hoá thiết bị, cải tiến quy trình công
nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên-nhiên-vật liệu, …
Đây là yếu tố mạnh nhất làm tăng năng suất lao động. Trình độ kỹ
thuật của sản xuất được biểu hiện thông qua tính năng của công cụ sản xuất,
trình độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động, các quá trình công nghệ
sản xuất. Tính năng của công cụ sản xuất là mực thước quan trọng nhất để đo
trình độ kỹ thuật sản xuất. Ngày nay ai cũng thừa nhận, máy móc hiện đại là
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
yếu tố mạnh mẽ nhất làm tăng năng suất lao động. Sự phát triển của lực lượng
sản xuất xã hội thường bắt đấu từ sự thay đổi và phát triển của công cụ sản
xuất, lấy máy móc thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay
thế cho máy móc cũ.
trường đào tạo nghề,các trường cao đẳng, đại học,trung cấp… Trình độ
chuyên môn càng sâu, nắm bắt các kỹ năng, kỹ xảo càng thành thạo thì thời
gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm càng được rút ngắn, góp
phần nâng cao năng suất lao động.Trình độ chuyên môn của người lao động
có ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động. Ngày nay, khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển với tốc độ cao, công cụ đưa vào sản xuất ngày càng hiện đại,
đòi hỏi người lao động phải có một trình độ chuyên môn tương ứng để có khả
năng sử dụng, điều khiển máy móc trong sản xuất. Nâng cao trình độ văn hoá
chuyên môn của con người có ý nghĩa lớn đối với tăng năng suất lao động.
Đây là một yếu tố không thể thiếu được, bởi vì dù khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển với tốc độ cao và đưa vào sản xuất các loại công cụ hiện đại,
thì càng đòi hỏi người lao động có trình độ chuyên môn tương ứng. Nếu thiếu
người lao động có trình độ chuyên môn tương ứng thì không thể điều khiển
được máy móc, không thể nắm bắt đưực các công nghệ hiện đại
- Kỷ luật lao động: Kỷ luật lao động là những tiêu chuẩn quy định hành
vi cá nhân của người lao động mà tổ chức xây dựng nên dựa trên cơ sở pháp
lý hiện hành và các chuẩn mực đạo đức xã hội. Mục tiêu của kỷ luật nhằm
làm cho người lao động làm việc dựa trên tinh thần hợp tác theo cách thức
thông thường và có quy củ. Tuy nhiên việc sử dụng hình thức kỷ luật như thế
nào để có tác dụng thúc đẩy năng sất lao động rất quan trọng, lựa chon hình
thức kỷ luật tương ứng với mức độ sai phạm có tác dụng củng cố thái độ đạo
đức và khuyến khích sự chủ động sáng tạo của người lao động heo hướng làm
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
việc đúng đắn. Để việc thực hiện các biện pháp kỷ luật đã được lựa chọn
mang lại kết quả mong muốn cho tổ chức người quản lý cần giải thích để
ngwif lao động có liên quan hiểu được lý do của biện pháp lý luận đưa ra và
thi hành đối với anh ta, chú ý thuyết phục người lao động hiểu rằng thi hành
kỷ luật là để chính họ sử chữa thiếu sót để làm việc ngày càng tốt hơn, cho
người lao động thấy rằng anh ta không bị ác cảm về sau này nếu cố gắng sửa
-Tình trạng sức khoẻ : Sức khoẻ của người lao động thể hiện qua chiều
cao, cân nặng, tinh thần, trạng thái thoaỉ mái về thể chất, tình trạng sức khoẻ
ảnh hưởng tới năng xuất của người lao động. Người lao động có tình trạng
sức khoẻ tốt sẽ hoàn thành công việc với chất lượng cao hơn. Ngược lại, nếu
người lao động có trạng thái sức khoẻ không tốt sẽ dẫn đến sự mất tập trung
trong quá trình lao động làm cho độ chính xác của các thao tác càng kém, là
nguyên nhân dẫn tới hiệu quả thấp trong lao động.
-Thái độ lao động thể hiện qua tinh thần trách nhiệm trong công việc, kỷ
luật lao động cao … một người có thái độ lao động tốt tinh thần trách nhiệm
cao trong công việc, thực hiện nghiêm túc các quy định trong lao động sẽ
hoàn thành tốt công việc, đảm bảo an toàn trong lao động, đảm bảo chất
lượng sản phẩm…Ngược lại một người có thái độ lao động không tốt, không
nghiêm túc trong quá trình lao động, coi thường các quy định trong lao động,
thường xuyên vi phạm kỷ luật lao động sẽ làm giảm hiệu quả lao động dẫn
đến giảm năng suất lao động.
- Cường độ lao động: là mức độ khẩn trương về lao động. Trong cùng
một thời gian, mức chi phí năng lượng cơ bắp, trí não, thần kinh của con
người càng nhiều thì cường độ lao động càng cao. Tăng cường độ lao động có
nghĩa là tăng thêm chi phí lao động trong một đơn vị thời gian, nâng cao độ
khẩn trương của lao động làm cho của cải vật chất sản xuất ra trong một đơn
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vị thời gian tăng thêm, nhưng không làm thay đổi giá trị của mọt đơn vị sản
phẩm vì chi phí lao động cũng đồng thời tăng lên tương ứng. Cường độ lao
động tăng cũng làm tăng năng suất lao động. Tuy nhiên tăng cường độ lao
động phải không vượt quá tiêu chuẩn, nếu cường độ lao động quá cao ảnh
hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của người lao động, do sự hao phí lao động trong
một đơn vị thời gian lớn làm cho người lao động cảm thấy mệt mỏi, qua đó
ảnh hưởng tới chất lượng và số lượng sản phẩm, đồng thời ảnh hưởng tới
năng suất lao động.
động riêng rẽ, những chức năng cụ thể của cá nhân hoặc của nhóm người lao
động nhằm đảm bảo cho hoạt động chung của tập thể được nhịp nhàng, đồng
bộ, liên tục để đạt được mục tiêu chung của tập thể. Hiệp tác lao động tốt thúc
đẩy quá trình sản xuất, đảm bảo cho qúa trình sản xuất diễn ra thuận lợi, đạt
mụch tiêu của doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy quá trình tăng năng suất lao
động.
- Tạo động lực lao động : Động lực lao động là sự khao khát và tự
nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các
mục tiêu của tổ chức. Động lực lao động là kết quả của rất nhiều nguồn lực
hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống, môi trường
làm việc của họ. Trong một doanh nghiệp, một tổ chức động lực lao động là
kết quả tổng hợp của sự kết hợp nhiều yếu tố như văn hoá doanh nghiệp, các
chính sách về nhân sự ... Một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất cao khi có
nhiều nhân viên làm việc tích cực và hiệu quả. Do đó tạo động lực trong lao
động trong lao động là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao năng suất lao động
trong tổ chức.
Có nhiều phương pháp để tạo động lực trong tổ chức như :
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Sử dụng các yếu tố vật chất: Sử dụng tiền lương, tiền thưởng như một
đòn bẩy kinh tế để kích thích vật chất đối với người lao động.Tiền lương, tiền
thưởng tác động trực tiếp tới lợi ích của người lao động, do đó nó là yếu tố
quan trọng tạo động lực làm việc cho người lao động. Tiền lương là phần thu
nhập chính của đa số người lao động để trang trải cho những chi phí trong
cuộc sống, nó ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ. Phấn đấu để đạt mức
lương cao hơn là mục tiêu của đa số người lao động. Tiền lương phải đảm bảo
công bằng tức lương phải phản ánh được sức lao động của người lao động thì
mới có thể tạo động lực làm việc cho người lao động, đồng thời là nhân tố
làm tăng năng suất lao động. Sử dụng các hình thức khuyến khích tài chính
như phần thưởng, tiền thưởng, tăng lương ... để nâng cao sự nỗ lực và thành
sản xuất của người lao động như: Bố trí khoảng cách giữa các máy sản xuất,
bố trí vị trí các công cụ làm việc sao cho thuận tiện nhất để người lao động có
thể lấy các dụng cụ làm việc một cách dễ dàng, đảm bảo cho người lao động
có thể làm việc trong các tư thế thoải mái, đảm bảo độ an toàn. Từ đó giúp
người lao động tạo hứng thú trong công việc và yên tâm khi làm việc, góp
phần thúc đẩy tăng năng suất lao động.
- Thái độ cư xử của cán bộ lãnh đạo: trong mọi chức, công tác lãnh đạo
quản lý con người đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý, điều hành tổ
chức. Để làm tốt công tác quản lý thì cán bộ lãnh đạo phải biết cách đối sử
với người lao động làm sao đế tạo động lực về mặt tinh thần cho họ. Thái độ
cư xử của người lãnh đạo đối với nhân viên dưới quyền rất quan trọng, nó có
thể thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn, nhưng nó cũng có thể làm
giảm động lực làm việc, làm xấu bầu không khí tâm lý nhóm. Trong một tổ
chức sẽ tồn tại nhiều kiểu người cùng một lúc, với mỗi kiểu người khác nhau
cán bộ quản lý cần biết cách ứng xử khác nhau. Với các nhân viên thuộc kiểu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
người thành đạt người lãnh đạo nên ít khiển trách hoặc khen thưởng hơn là
những người mới vào làm và các nhận xét của người lãnh đạo đối với họ cần
chính xác, có căn cứ. Đối với những người thuộc kiểu nhân viên yếu kém
người lãnh đạo cần phải mạnh dạn lựa chọn các giải pháp như tạo cơ hội giúp
họ tiến bộ như thay đổi vị trí làm việc phù hợp với khả năng của họ...
- Bầu không khí làm việc trong Công ty: là hiện tượng tâm lý biểu hiện
mức độ hoạt động, hoà hợp về các phẩm chất tâm lý cá nhân của người lao
động trong nhóm, nó được hình thành từ thái độ của mọi người đối với công
việc, bạn bè, đồng nghiệp và người lãnh đạo. Bầu không khí tâm lý lành mạnh
thể hiện ở sự đoàn kết giúp đỡ tương trợ lẫn nhau giữa những người lao động
và nó giúp cho mọi người vượt qua khó khăn trong công việc. Bầu không khí
tâm lý lành mạnh trong Công ty còn giúp cho mọi người gắn kết với nhau,
hoà đồng, coi Công ty như gia đình thứ hai của mình, từ đó tạo động lực thúc
tăng trưởng và khai khác rừng rõ rệt. Trong công nghiệp khai thác mỏ, các
vấn đề như hàm lượng của quặng, chữ lượng các mỏ … Tác động đến khả
năng khai thác do đó tác động đến năng suất lao động. ở những nước mà có
nhiều các mỏ than quặng, dầu mỏ, đá quý thì phát triển nghành khai thác dầu,
ngành công nghiệp kim loại làm tăng năng suất lao động trong các ngành này,
và ngược lại. Con người đã có nhiều hoạt động hạn chế tác hại của thiên
nhiên đến sản xuất và đạt được kết quả rõ rệt, như việc dự báo thời tiết, diệt
trừ côn trùng phá hoại mùa màng … Nhưng không thể khắc phục đuợc hoàn
toàn do đó yếu tố thiên nhiên vẫn là yếu tố quan trọng. Cần phải tính đến
trong các ngành nông nghiệp, trồng rừng, Khai thác và đánh bắt hải sản, khai
thác mỏ và cà trong ngành xây dựng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
5. Sự cần thiết của tăng năng suất lao động
-Năng suất lao động tăng làm cho giá thành sản phẩm giảmvì tiết kiệm
được chi phí tiền lương cho một đơn vị sản phẩm
-Tăng năng suất lao động cho phép giảm được lao động, tiết kiệm được
quỹ tiền lương, đồng thời tăng tiền lương cho cá nhân người lao động và
khuyến khích,tạo động lực làm việc cho người lao động
- Năng suất lao động tăng tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô sản
xuất, tăng tốc độ của tổng sản phẩm và thu nhập quốc dân
-Thay đổi được cơ chế quản lý, giải quyết thuận lợi các vấn đề tích luỹ,
tiêu dùng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
PHẦN 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH KHÁNH AN
I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH Khánh An là một công ty tư nhân, chuyên sản xuất và
Công ty TNHH Khánh An là công ty tư nhân do đó công tác quản lý của
công ty không chịu sự chỉ đạo của bộ, ngành giáo dục, nhưng công ty vẫn
tuân thủ đầy đủ các quy chế của nhà nước đối với các doanh nghiệp sản xuất
thiết bị giáo dục. Giám đốc công ty tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình về mọi hoạt động của công ty. Một số thông tin về công ty như sau :
Tên công ty : Công ty TNHH Khánh An
Địa chỉ : Xã Sơn Đồng - Huyện Hoài Đức - Tỉnh Hà Tây
Văn phòng đại diện : Số 17 Hàn Thuyên – Hà Nội
Số điện thoại : (04) 2424022 – (04)2424020 – (04) 9725775
Mã số thuế : 0500521314
2. . Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý công ty
Công ty TNHH Khánh An gồm 5 phòng ban và 3 phân xuởng sản xuất.
Bộ máy quản lý công ty được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến
* Ưu điểm : Đây là cơ cấu tổ chức đơn giản, tạo điều kiện cho việc quản
lý dễ dàng hơn, phù hợp với mô hình của công ty vừa và nhỏ như công ty
TNHH Khánh An. Tiết kiệm chi phí quản lý và giảm thiểu các đầu mối quản
lý
* Nhược điểm : Cơ cấu này sẽ không hiệu quả cao trong quản lý lâu dài
khi công ty mở rộng quy mô sản xuất và việc quản lý trở nên phức tạp hơn.
Cơ cấu này đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện mọi mặt
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Sơ đồ 1: Bộ máy quản lý của công ty
•Giám đốc công ty : là người lãnh đạo cao nhất trong công ty, giám đốc
có quyền ra quyết định liên quan đến mọi hoạt động của công ty, các quyết
định đó được dựa trên ý kiến và đề xuất của các phòng ban.
Giám đốc chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty. Công ty TNHH Khánh An là công ty tư nhân vì vậy giám đốc
công ty chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng và bảo quản vốn công ty.
gia sản xuất. Toàn bộ phân xưởng đều chịu sự quản lý và điều hành của giám
đốc. Nhiệm vụ chính của các phân xưởng là sản xuất ra các sản phẩm theo kế
hoạch đưa ra.
3. Đặc điểm của công ty ảnh hưởng tới năng suất lao động
3.1 Đặc điểm sản phẩm
Công ty chuyên sản xuất các dụng cụ học tập, vui chơi cho các trường
mẫu giáo và các trường mầm non là chủ yếu như : đồ chơi con giống, bộ xếp
hình bằng nhựa , đu quay, cầu trượt, bàn ghế, giá sách …Đặc điểm của các
sản phẩm trên là là đòi hỏi về mặt hình thức,chất lượng và độ an toàn cao. Đòi
hỏi về độ an toàn cao và độ chính xác cao như các sản phẩm đu quay, cầu
trượt để đảm bảo an toàn cho các cháu mầm non, đòi hỏi về mặt hình thức
như đồ chơi con giống hoặc các bộ xếp hình để thu hut trẻ em. Bên cạnh sản
phẩm trên công ty còn sản xuất một số đồ dùng dành cho các cấp học khác
như giá sách thư viện
Số lượng sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào yêu cầu của khách hàng, nhu
cầu của khách hàng về các sản phẩm của Công ty thường tập chung vào các