tạo lập phương pháp, kĩ năng đọc- hiểu văn bản truyện ngắn trong chương trình Ngữ văn THPT - Pdf 27

(THPT Đồng Lộc) -
I,ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lí do chọn đề tài
Nghị quyết hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương Đảng- khóa VIII-1997 khẳng
định: “…Phảiđổi mới phương pháp GD-ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện thành nếp tưduy sáng tạo cho người học…”.Trong xu thế hiện nay, dạy
học không chỉ đơn giản là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn học sinh hành
động, đặt học sinh vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy học, do đó việc đổi mới
phương pháp dạy học đang trở thành vấn đề quan trọng, cấp thiết.
Một trong những vấn đề trọng tâm của việc đổi mới phương pháp dạy học đã được
Luật Giáo dục, điều 28 ghi rõ: “ phương pháp GD-ĐT phải phát huy tính tích cực
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh…bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn…”. Có thể nói, cốt lõi của việc đổi
mới PPDH hiện nay là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ
động. Muốn học sinh học tập chủ động, người giáo viên trước hết phải có phương
pháp dạy đúng, phải hình thành được ở học sinh kĩ năng học, khi đã có kĩ năng
người học sẽ chủ động nắm bắt tri thức “… Nếu rèn luyện cho người học
có được phương pháp, kĩ năng , thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham
học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nâng
lên gấp bội” ( “Những vấn đề chung về đổi mới GD THPT”-Trang 33).
Việc dạy học môn Ngữ Văn trong các nhà trường hiện nay cần thấy rõ được tầm
quan trọng của việc đổi mới PPDH, đặc biệt cần chú trọng việc hình thành, rèn
luyện phương pháp, kĩ năng tự đọc, tự học các thể loại văn bản, giúp các em học
tập chủ động, say mê hơn với bộ môn vẫn thường bị nhiều học sinh coi là khó học
này. Riêng trong chương trình môn Ngữ văn THPT hiện nay, để đáp ứng mục tiêu
đào tạo con người toàn diện, sách giáo khoa mới đã đưa vào rất nhiều các thể loại
văn học, trong đó, văn bản thuộc thể loại truyện ngắn được chú trọng ở cả hai cấp
học (lớp 11 và 12), chiếm thời lượng khá lớn so với chương trình (lớp 11: 9 tiết;
lớp 12: 12 tiết), chưa kể các truyện ngắn thuộc phần văn học nước ngoài. Đây là
một thể loại không mới nhưng có tầm quan trọng đặc biệt trong việc giáo dục nhận
thức,giáo dục nhân cách, giáo dục tư tưởng tình cảm, thẩm mĩ cho các em. Bởi, với

chương trình Ngữ văn THPT.
2,Mục đích nghiên cứu:.
Bài viết góp phần:
-Giúp người dạy định hướng đúng phương pháp dạy văn bản thuộc thể loại truyện
ngắn.
-Giúp học sinh hình thành phương pháp đọc –hiểu thể loại truyện ngắn dần tạo
thành kĩ năng để chủ động đọc –hiểu văn bản.
3,Đối tượng nghiên cứu:Truyện ngắn Việt Nam trong chương trình THPT.
4,Phương pháp nghiên cứu:
-Nghiên cứu lí luận:
Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học, triết học, các tài liệu về lí luận và
giảng dạy bộ môn Ngữ văn.
-Điều tra, quan sát:
Điều tra qua hoạt động dạy học truyện ngắn của các giáo viên để thấy được
thực tiễn dạy học truyện ngắn hiện nay.
-Thực nghiệm sư phạm:
Tiến hành thực nghiệm trên những đối tượng học sinh cụ thể nhằm đánh giá
hiệu quả của đề tài.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1, Những vấn đề chung:
.1.1 Vai trò quan trọng của PPDH trong việc phát huy tính tích cực, chủ động,
rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh:
Thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, “Methodos”-có nghĩa là
con đường, công cụ nhận thức. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lê nin đặc
biệt coi trọng vai trò của phương pháp, Bê cơn ví phương pháp là “ngọn đuốc soi
đường cho người đi trong đêm tối”, Hê ghen khẳng định “phương pháp là linh hồn
của đối tượng”, có thể nói, phương pháp chính là chiếc chìa khóa vạn năng để làm
sáng tỏ vấn đề, không có phương pháp không thể đi đến chân lí.
Trong dạy học, phương pháp dạy học được coi “là những hình thức và cách
thức hoạtđộng của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định

ngắn có khi còn có thể đạt tới trình độ anh hùng ca và đó là cả một bí mật của
nó”, Ts Aimatop cũng nói thêm: “toàn bộ truyện ngắn là một tấm thảm lớn lao cả
về thời đại”, do đó nhìn vào truyện ngắn có thể thấy cuộc sống hiện ra với đầy đủ
sắc màu.Với quy luật đặc thù này nên truyện ngắn chính là thể loại tiêu biểu nhất
của văn học giúp người đọc- học sinh bồi đắp nhận thức về cuộc đời, về con người,
thắp lửa những xúc cảm thẩm mĩ tốt đẹp.
Hơn thế, “Truyện ngắn là thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hàng ngày,
lại súc tích dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí, có tác dụng ảnh hưởng kịp
thời trong đời sống”(Sách lí luận văn học-NXB Giáo dục, trang 398), do đó truyện
ngắn cũng chính là thể loại các em sẽ tiếp xúc nhiều, làm quen nhiều, có ý nghĩa
thiết thực với các em khi các em sau này ra cuộc sống.
Trong SGK Ngữ văn hiện nay, một trong những thay đổi lớn so với SGK cũ là
việc sắp xếp các tác phẩm không tuân theo trình tự thời gian ra đời của tác phẩm
mà sắp xếp theo tiêu chí cùng thể loại, bởi vậy khi dạy từng văn bản cụ thể giáo
viên cần lưu ý phải gắn liền nó với đặc trưng thi pháp của từng thể loại, dạy truyện
ngắn cũng không nằm ngoài quy luật đó .Ở khuôn khổ của bài viết này chúng tôi
chỉ xin trình bày ngắn gọn những đặc trưng cơ bản nhất của thể loại truyện ngắn,
đây là những đặc trưng tiêu biểu của thể loại mà khi dạy giáo viên không thể bỏ
qua.
Nói về đặc trưng của thể loại truyện ngắn SGK Ngữ văn 11,trang 135,
viết “Khác với thơca in đậm dấu ấn chủ quan, truyện phản ánh đời sống trong
tính khách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được miêu tả và kể lại bởi
một người kể chuyện (trần thuật) nào đó.” Như vậy, khác với đọc thơ là đi sâu tìm
hiểu thế giới nội tâm, lắng nghe khúc nhạc lòng, thẩm thấu tình điệu của trái tim,
đắm chìm trong tiếng đàn tơ muôn điệu du dương và bí ẩn của tâm hồn qua hình
ảnh thơ, ngôn ngữ, nhạc điệu… khác với đọc văn bản nghị luận là tìm hiểu lí lẽ,
lập luận, luận điểm, sức thuyết phục của vấn đề nghị luận…khi dạy văn bản truyện
ngắn cần đặc biệt chú ý đến các đặc điểm: cốt truyện, hệ thống nhân vật, ngôn ngữ,
không gian, thời gian, điểm nhìn trần thuật… của truyện để hiểu được hiện thực
khách quan được tác giả phản ánh.

phương pháp, kĩ năng đọc-hiểu văn bản truyện ngắn:
Hoạt động 1:Lời vào bài
Cần rèn cho học sinh kĩ năng tự giới thiệu ngắn gọn lời vào bài, trong đó nhấn
mạnh vị trí, tầm quan trọng của tác phẩm được học. Công việc này dù là sự khởi
đầu nhưng có ý nghĩa to lớn trong việc: Thu hút sự chú ý của người học, tạo tâm
thế tiếp nhận, khơi dậy những cảm xúc , ấn tượng tốt đẹp về tác phẩm, nếu làm tốt
học sinh sẽ bị cuốn hút ngay vào bài học từ khâu này.
Hoạt động 2: Tìm hiểu tiểu dẫn:
-Tìm hiểu về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm
-Nhận xét về bối cảnh xã hội ; đề tài phản ánh của tác phẩm?
Hoạt động 3: Đọc văn bản:
-Bước 1: Rèn kĩ năng đọc văn bản:
Trên thực tế, nhiều giáo viên không chú trọng đến khâu này, còn phổ biến tình
trạng: đọc hình thức, đọc đối phó, đọc diễn cảm bên ngoài…theo GS Trần Đình
Sử “đó cũng là lỗi do nhà trường không chú trọng dạy cho học trò cách đọc,
kĩ năng đọc một cách đúng đắn, khoa học và có đạo đức”, GS cũng khẳng định
đây là “khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học Ngữ văn”. Bởi có đọc tốt học sinh
mới hiểu tốt văn bản, do đó giáo viên cần dạy cho học sinh phương pháp đọc –hiểu
văn bản không nên lặp lai sai lầm chỉ đọc diễn cảm bên ngoài.
Để đọc- hiểu tốt cần đảm bảo hai yêu cầu: Thứ nhất, cần hướng dẫn học sinh đọc
đúng ngữ nghĩa, đúng giọng điệu, đọc chậm, đọc tập trung, đọc gắn liền với hiểu,
bắt đầu từ hiểu từ, hiểu câu, hiểu đoạn, hiểu liên kết, hiểu nghĩa toàn bài.Tôi nhớ
Nguyễn Đình Thi nói rất hay về điều này: “Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc
qua một lần mà bỏ xuống được.Vàkhác với cách đọc riêng lần thứ nhất, lần
thứ hai đọc chậm hơn , đòi hỏi nhiều cố gắng hơn, nhiều chỗ ta dừng lại
hơn. Đã đọc lại còn đọc chậm…”, Chế Lan Viên cũng nói thêm“Ta
nhớ Tố Như đọc chậm lại Kiều- đọc chậm từng vầng trăng, từng nỗi buồn li
biệt”…Yêu cầu thứ hai cao hơn là đọc sáng tạo, cần hướng dẫn học sinh đọc văn là
đọc tâm hồn nên các em không chỉ đọc hiểu mà cao hơn là để cảm, để sống, thâm
nhập sâu vào thế giới hình tượng của tác phẩm, hòa điệu vào dòng chảy cảm xúc

tiếp? Cho biết điểm nhìn trần thuật của tác giả? tác dụng của điểm nhìn này là gì ?
- Với điểm nhìn đó tác giả tập trung tả( kể) điều gì về nhân vật? đâu là chi tiết ấn
tượng nhất?
-Nhận xét về cách giới thiệu nhân vật của tác giả?
* Thao tác 2:Tìm hiểu về cuộc đời, số phận, phẩm chất của nhân vật:
-Tác giả kể( tả) về quãng đời nào của nhân vật? cho biết lai lịch? hoàn cảnh sống
của nhân vật? mối quan hệ với các nhân vật khác?
-Tìm chi tiết kể( tả) về ngoại hình? ngôn ngữ? hành động? tâm trạng? của nhân vật
-Đâu là chi tiết nổi bật nhất? nhận xét về chi tiết?
-Qua đó rút ra nhận xét về cuộc đời? số phận? đặc điểm tích cách phẩm chất của
nhân vật?
-Đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật (sử dụng chi tiết, tạo tình huống để
khám phá bản chất nhân vật, cách thức miêu tả ngoại hình, hành động, nội tâm,
điểm nhìn miêu tả của tác giả…)
Với những nhân vật xảy ra biến cố, bước ngoặt lớn trong cuộc đời( nhân vật Chí
Phèo,Mị, Tràng, Tnu…) cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu những biến cố này.
*Thao tác 3:Tìm hiểu bước ngoặt, biến cố xảy ra với nhân vật:
-Nhân vật gặp những biến cố gì?
-Biến cố đó tác động ra sao đến nhân vật?
Thông thường những biến cố này có sự tác động mạnh mẽ đến nhân vật,khiến nhân
vật có nhiều thay đổi lớn lao được thể hiện qua diễn biến tâm trạng hết sức tinh tế
và phức tạp trong đời sống nội tâm của nhân vật , có khi nó chỉ là một khoảnh khắc
tâm lí (nhân vật Tràng, Mị…), có khi đó là cả một quá trính tâm lí (nhân vật Chí
Phèo…) và thường được nhà văn miêu tả rất thành công. Do đó ở đây giáo viên
cần hướng dẫn học sinh nắm bắt được diễn biễn tâm trạng của nhân vật qua các chi
tiết cụ thể.
-Tìm các chi tiết miêu tả diễn biến tâm trạng cuả nhân vật? đâu là chi tiết đặc sắc
nhất?
-Qua diễn biến tâm trạng em nhận thấy sự thay đổi sâu sắc nào ở nhân vật ?
-Đánh giá sự thay đổi đó có ý nghĩa gì? nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân

Ở đây giáo viên có thể tạo những cuộc phỏng vấn nhỏ để các em đối thoại với văn
bản nhằm tìm ra vấn đề như có thể cho các em phỏng vấn nhà văn, hay tạo những
câu hỏi tình huống như: em có đồng ý với cách kết thúc tác phẩm không? vì sao?
em có thể chọn một cách kết thúc nào khác không?
Hoạt động 5:Tổng hợp, kết luận:
-Em rút ra điều gì khi học xong văn bản? (giá trị nội dung, nghệ thuật).
- Với bản thân em, điều em cần đạt đến ở đây là gì? (liên hệ thực tế, bản thân)

Có thể mô hình hóa phương pháp đọc – hiểu văn bản thuộc thể loại truyện
ngắn bằng sơ đồ sau, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh từng hoạt động, từng
bước, từng thao tác cụ thể để các em chủ động đọc – hiểu văn bản dần tạo thành
kĩ năng cho mình:

Bước1
Phân tích nhân vật trong dòng lưu chuyển của côt truyện
Bước3
Đánh giá ý nghĩa văn bản
Hoạt động 5
Tổng hợp,kết luận

Tố, “Hai đứa trẻ”-Thạch Lam…
Nhận xét: Đây đều là những đề tài, Bối cảnh xã hội quen thuộc nhưng Nam Cao lại
có cách khám phá riêng của mình, khi học tác phẩm các em cần chú ý để nhận ra
cái riêng đó.
Hoạt động 3: Đọc văn bản:
Bước 1: Giáo viên hướng dẫn các em đọc những đoạn tiêu biểu (đoạn mở đầu,đoạn
tả tâm trạng Chí Phèo tỉnh giấc, đoạn Chí đến gặp Bá Kiến…)
Bước 2: Tóm tắt văn bản, cảm nhận ban đầu về tác phẩm:
-Tóm tắt ngắn gọn văn bản từ 5-7 câu?
-Qua phần tóm tắt cho biết đâu là sự việc, chi tiết tiêu biểu? nhận xét về kết cấu
của tác phẩm?
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm sự việc, chi tiết tiêu biểu, nhận xét kết cấu: tác
phẩm có kết cấu linh hoạt, sáng tạo, kết hợp, đồng hiện quá khứ-hiện tại-tương
lai…
-Cho học sinh nhận diện ngôn ngữ: đâu là đối thoại? độc thoại? lời trữ tình ngoại
đề?
Hoạt động 4: Phân tích văn bản:
Bước 1: Phân tích nhân vật trong dòng lưu chuyển của cốt truyện:
Trước hết cho học sinh nhận diện: nhân vật chính- phụ, kiểu nhân vật, cho học sinh
nêu cảm nhận chung về nhân vật.
Giáo viên định hướng: Nhân vật chính: nhân vật Chí Phèo; kiểu nhân vật tính cách,
số phận.
Sau đó hướng dẫn học sinh phân tích nhân vật chính- nhân vật Chí Phèo:
*Thao tác 1:Tìm hiểu cách giới thiêu nhân vật:
Giáo viên hướng dẫn:
-Nhân vật Chí Phèo xuất hiện ngay từ dòng đầu, đoạn mở đầu của tác phẩm
-Điểm nhìn trần thuật: rất linh hoạt, nhà văn có khả năng nhập vào các vai, chuyển
từ vai này sang vai khác một cách tự nhiên, gây hấp dẫn cho người đọc. Lúc thì
trần thuật theo điểm nhìn của tác giả, lúc thì theo nhân vật Bá Kiến, Thị Nở… tạo
tính khách quan,chân thực cho hình tượng nhân vật, nhân vật được soi rọi từ nhiều

thiện thành kẻ lưu manh, côn đồ.
c) Chí Phèo khi làm tay sai cho Bá Kiến
-Tìm chi tiết:+ hành động: Chí phèo làm tất cả mọi việc như một tên đầu bò chính
cống gây họa cho dân lành như: chửi bới, đập phá, đốt nhà, đòi nợ thuê, đâm
chém…
+Ngoại hình: mặt “không biết tuổi, không ra mặt người, nhìn kĩ giống
mặt con thú”…
-Chi tiết ấn tượng: tả khuôn mặt Chí qua bao lần rạch mặt ăn vạ không còn là mặt
người nữa
-Nhận xét: Bá kiến đã hoàn thành nốt công đoạn cuối cùng biến Chí Phèo thành
con quỷ dữ của làng Vũ Đại, tha hóa cả nhân tính lẫn nhân hình.
*Đánh giá chung:
-Nhận xét nhân vật: Chí phèo từ người nông dân lương thiện nhưng bị đẩy vào
bước đường cùng dần trượt dài trên con đường tha hóa, đây cũng là hiện tượng có
tính quy luật trong xã hội đương thời: người nông dân bị dồn ép đến đường cùng
trở thành lưu manh hóa ( không chỉ Chí Phèo mà đầy rẫy những Binh Chức, Năm
Thọ…), đây cũng là giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm.
- Cách nhìn riêng của tác giả: khi bị đẩy xuống đáy cùng bi kịch lớn nhất của Chí
Phèo không phải là bi kịch của con người đói cơm rách áo, không nơi nương tựa
mà là nỗi đau của con người bị tàn phá về thể xác, bị huỷ diệt về tâm hồn, bị cả xã
hội cự tuyệt không coi là con người.
Nhưng Nam cao vẫn đặt niềm tin ở con người, sưởi ấm trái tim Chí qua biến cố
cho Chí Phèo gặp Thị Nở
*Thao tác 3: Tìm hiểu biến cố xảy đến với nhân vật:
- Biến cố lớn: Chí gặp Thị Nở và bị Thị cự tuyệt
-Tác động của biến cố
d) Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiếu biễn biến tâm trạng Chí Phèo sau khi
gặp Thị Nở:
-Tìm chi tiết:+ Chí tỉnh dậy và nghe thấy tiếng chim hót, tiếng những người đàn bà
đi chợ bán vải về, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá…những âm thanh thì

-Nhận xét: những chi tiết trên vừa có tác dụng tô đậm khát khao yêu thương,vừa
khắc sâu tấn bi kịch tinh thần- bi kịch tình yêu, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm
người của Chí Phèo- một Chí Phèo đang giắng xé đớn đau giữa ước mơ và hiện
thực phũ phàng, đang cố sức níu kéo hạnh phúc được yêu, hạnh phúc được làm
người và đau đớn nhìn nó tan biến trước mắt…
-Đánh giá : Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình của Nam Cao, những trạng thái tâm lí
phức tạp của nhân vật, những tình huống dở say dở tỉnh, dở khóc dở cười, chới với
giữa ước mơ-hiện thực, giữa hạnh phúc- khổ đau, hay quá trình thức tỉnh của Chí
Phèo đều được nhà văn miêu tả hết sức tài tình, thuyết phục, nó chứng tỏ sự am
hiểu sâu sắc con người tinh thần, con người tư tưởng của nhà văn.
*Tìm hiểu kết thúc của tác phẩm:
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu cách kết thúc tác phẩm và ý nghĩa của cách
kết thúc đó.
*Thao tác 3: Đánh giá chung về nhân vật:
Giáo viên hướng dẫn học sinh đánh giá hình tượng nhân vật Chí Phèo
- Ý nghĩa khái quát của hình tượng: Nhân vật Chí Phèo tiêu biểu cho
số phận bi thảm của người nông dân trong xã hội cũ, bị đẩy đến bước
đường cùng và trở thành lưu manh hóa. Chí Phèo chính là hiện tượng có
tính quy luật trong xã hội đương thời, là sản phẩm của tình trạng đè nén,
áp bức ở nông thôn trước Cách mạng.
- Thông điệp của nhà văn: Qua nhân vật Chí Phèo Nam Cao muốn
lên án xã hội vô nhân đạo đã đày đọa con người, làm xói mòn nhân phẩm
và hủy hoại nhân cách con người. Nhưng bằng tấm lòng nhân đạo sâu sắc
nhà văn cũng đặt niềm tin ở con người và đề cao sức mạnh to lớn của
tình người bao la.
- Thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật: xây dựng nhân
vật điển hình vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa có cá tính sinh động, sắc nét;
thành công nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật; điểm nhìn trần thuật linh
hoạt…
Bước 3:Tìm hiểu bức tranh hiện thực- Hình ảnh làng Vũ Đại:

thảm và cuối cùng bị cướp mất quyền làm người và nhà văn đã tỏ ra thực
sự day dứt, trăn trở, đau đớn trước tình trạng xã hội vô nhân đạo đã đày
đọa con người, làm xói mòn nhân phẩm và hủy hoại nhân cách con
người.
+ Nam Cao cũng đặt niềm tin ở con người ,ông quan niệm “ Tội ác hủy
diệt tính người nhưng tình thương sẽ cứu rỗi linh hồn người”.
-Ý nghĩa xã hội và tính thời sự của văn bản: tác phẩm đặt ra nhiều vấn đề có
ý nghĩa xã hội to lớn, chứa đựng nhiều giá trị đời sống, như mối quan hệ giữa tính
cách và hoàn cảnh, lương thiện và lưu manh, tình yêu và tình người…đặc biệt tác
phẩm đấu tranh cho con người, ca ngợi sức mạnh lớn lao của tình người, thể hiện
niềm tin bất diệt vào con người- đó chính là những giá trị muôn thuở của cuộc
sống, đến bây giờ và mai sau vẫn còn nguyên giá trị.
Hoạt động 5: Tổng hợp, kết luận:
Giáo viên hướng dẫn học sinh tổng hợp kiến thức về bài học
-Rút ra giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
- Liên hệ với thực tế, bản thân:
+ Cuộc sống xung quanh ta còn nhiều những số phận bất hạnh, nhiều mảnh
đời đáng thương, các em đừng dửng dưng trước họ, hãy cúi gần xuống họ để lắng
nghe, chia sẻ, giúp đỡ họ, hãy biết quan tâm hơn đến mọi người để sống nhân ái
hơn.
+Cuộc sống sẽ đẹp hơn khi có tình yêu, tình người bao la…
III, KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Trên đây là những suy nghĩ của chúng tôi sau nhiều trăn trở, băn khoăn khi giảng
dạy các văn bản thuộc thể loại truyện ngắn trong chương trình, bước đầu cũng đã
thu được một số kết quả đáng khích lệ:
1, Kết quả:Trước khi dạy theo phương
pháp trên

Với việc hình thành phương
pháp đọc -hiểu thể loại truyện
ngắn, sau khi hướng dẫn học
sinh các kĩ năng cơ bản như
trên trong quá trình học các
văn bản truyện ngắn các em
luôn bám sát văn bản, nắm
vững từng chi tiết trong tác
phẩm, qua sự hướng dẫn của
giáo viên các em đã có thể tự
mình tìm ra ra kiến thức, biết
rút ra ý nghĩa xã hội, ý nghĩa
thời sự của văn bản và rút ra
được những bài học bổ ích, lí
thú cho bản thân, và điều quan
trọng hơn cả là các em đã “
hình dung” được cách đọc-
hiểu đúng về thể loại truyện
ngắn dần hình thành được ở
các em kĩ năng đọc văn bản,
khi đứng trước một tác phẩm
mới các em đã biết “mình
phải làm gì ?” và rất chủ động
nắm bắt kiến thức, các em đã
học tập hứng thú, chủ động
hơn rất nhiều, các em cũng
hồn các em, các em cũng chưa
biết cách nhận ra giá trị của tác
phẩm, đâu là cách nhìn riêng
của tác giả trước hiện thực?

Loại Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số học
sinh
12 22 11 0
Tỉ lệ % 26,7 48,9 24,4 0

2, Kiến nghị:
Chúng tôi thiết nghĩ, việc hình thành, tạo lập nên phương pháp đọc-hiểu thể loại
truyện ngắn là một việc làm cụ thể, thiết thực vừa tạo sự thuận lợi, chủ động cho
giáo viên trong quá trình dạy, vừa tạo sự tích cực, hứng thú cho học sinh trong quá
trình học. Hơn thế nữa, việc làm này cũng là một hướng đi đúng đắn vừa đảm bảo
sự đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong việc phát huy tính tích cực, chủ
động, rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh, vừa phù hợp với xu thế dạy học hiện
đại trong việc đọc- hiểu văn bản văn học dựa trên cơ sở đặc trưng thi pháp thể loại.
Với tính ứng dụng thực tiễn của đề tài, chúng tôi mong muốn mở rộng phạm vi đề
tài để nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi việc hình thành phương pháp đọc- hiểu các
thể loại văn học khác như: phương pháp đọc- hiểu ca dao, phương pháp đọc - hiểu
truyện cổ tích, phương pháp đọc- hiểu văn nghị luận, phương pháp đọc- hiểu thơ,
phương pháp đọc- hiểu kịch…
Tuy nhiên, thiết nghĩ những trình bày của chúng tôi ở đây cũng chỉ là những
suy nghĩ còn chủ quan, là những tìm tòi bước đầu cho nên không tránh khỏi những
bất cập, thiếu sót. Hy vọng nhận được những ý kiến đóng góp, chia sẻ của các
đồng nghiệp để bài viết được tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn!

Tháng 4 năm 2011.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status