Trờng đại học KINH Tế QuốC DÂN
DƯƠNG Đức hiếu
đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển
thể dục thể thao ở việt nam
Hà nội, năm 2013
Trờng đại học KINH Tế QuốC DÂN
Dơng đức hiếu
đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển
thể dục thể thao ở việt nam
chuyên ngành: kinh tế chính trị
Ngời hớng dẫn khoa học:
Gs.ts.Phạm quang phan
Hà nội, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Các số
liệu trong luận văn là trung thực. Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào.
Tác giả luận văn
Dương Đức Hiếu
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy Cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.
Với tấm long trân trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân thành đến
Ban Giám hiệu, Khoa Lý luận chính trị, Viện Đào tạo sau đại học – Trường Đại học
Kinh tế quốc dân. Đặc biệt xin trân thành cảm ơn GS.TS. Phạm Quang Phan đã trực
tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin bày tỏ long cảm ơn đối với các cấp Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp tại
Tổng cục Thể dục thể thao tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn gia đình, ban bè đã quan tâm, chia sẻ và động viên tôi hoàn thành
4 NSNN
Ngân sách nhà nước
5 NQ
Nghị quyết
6
OLYMPIC
thế vận hội mùa hè
7
QĐ
Quyết định
8 SNCL
Sự nghiệp công lập
9 SEA GAMES
Đại hội thể thao Đông Nam Á
10 TCTDTT
Tổng cục Thể dục thể thao
11 TDTT
Thể dục, thể thao
12 TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
13 TW
Trung ương
14 VFF
Liên đoàn Bóng đá Việt Nam
15 VĐV
Vận động viên
16 XHH
Xã hội hóa
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG BIỂU
- Do yêu cầu phát triển của ngành thể dục, thể thao.
- Do yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
- Đáp ứng nhu cầu về tập luyện và giải trí ngày càng cao của nhân dân
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thực tế hiện nay, đối với các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế thì có nhiều
đề tài nghiên cứu về nội dung đa dạng hóa các nguồn lực tài chính cho phát triển các
lĩnh vực này nhưng trong lĩnh vực thể dục thể thao thì tác giả khảng định chưa có công
trình, đề tài nào nghiên cứu. Nó chỉ được nhắc đến trong các báo cáo tổng kết hàng
năm; Chiến lược phát triển của ngành thể dục thể thao hay các Chỉ thị, Nghị quyết của
Bộ chính trị. Vì vậy, hướng nghiên cứu của Đề tài là thiết thực, cần thiết và không bị
trùng lặp với bất kỳ công trình, đề tài nghiên cứu nào công bố trước đây.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về đa dạng
nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục thể thao ở Việt Nam. Vì vậy, nhiệm vụ
nghiên cứu của luận văn là:
+ Đánh giá thực trạng nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục thể thao ở
Việt Nam.
+ Nâng cao nhận thức về việc cần phải đa dạng nguồn lực tài chính cho phát
triển thể dục thể thao ở Việt Nam, không chỉ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.
+ Đề ra các giải pháp cần thiết để đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển
thể dục thể thao ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: “Đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục
thể thao ở Việt Nam”
i
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đứng trên góc độ quản lý nhà nước
để đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục, thể thao ở Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu: Chủ yếu từ năm 2008 đến nay
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn này áp dụng phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp logic với
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được cũng còn không ít những mặt
hạn chế, yếu kém ảnh hưởng đến sự phát triển của thể dục, thể thao. Một trong
những hạn chế cơ bản và quan trọng đó là nguồn lực tài chính, nguồn lực tài chính
đầu tư từ ngân sách nhà nước và cộng đồng xã hội cho phát triển thể dục, thể thao
còn thấp; cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị thể dục, thể thao còn thiếu thốn, lạc
hậu; chưa chú trọng đầu tư cho khoa học, công nghệ và y học thể thao. Tỷ trọng đầu
tư của Nhà nước và xã hội trong những năm qua tuy có xu hướng tăng, song mức
độ đầu tư hiện nay vẫn chưa thỏa đáng nhu cầu phát triển thể dục, thể thao trong bối
cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt về thành tích thi đấu giữa các quốc gia trong khu
vực, châu lục và thế giới; cũng như nhu cầu về tập luyện và giải trí về thể dục, thể
thao của quần chúng nhân dân ngày càng cao. Đòi hỏi ngành thể dục, thể thao phải
đề ra các giải pháp về đa dạng nguồn lực tài chính nhằm đạp ứng tốt nhất những
nhu cầu trên, thúc đẩy sự nghiệp thể dục, thể thao ngày càng phát triển.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Đa dạng nguồn lực tài
chính cho phát triển thể dục, thể thao ở Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp.
Luận văn có những đóng góp cơ bản sau:
Một là, luận văn đã khái quát những vấn đề cơ bản về thể dục, thể thao và đa
dạng nguồn lực tài chính cho phát triển TDTT.
Thể dục, thể thao là sự sáng tạo thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ giải trí và rèn luyện
thân thể của nhân dân, cũng là loại hình hoạt động không ngừng hoàn thiện nhờ ý thức tự
giác và lấy vận động thân thể làm biện pháp chủ yếu.
Xác định vai trò của TDTT trong đời sống kinh tế - xã hội.
Từ những quan niệm về TDTT và vai trò của TDTT, luận văn xác định các nguồn
lực tài chính chủ yếu cho phát triển TDTT bao gồm: nguồn tài chính từ NSNN; nguồn
iii
tài chính huy đông từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân thông qua hoạt động xã hội hóa;
nguồn tài chính từ hoạt động thu sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập; nguồn tài
chính từ hoạt động đầu tư, tài trợ, viện trợ của các đơn vị, tổ chức nước ngoài.
Luận văn đã lý giải sự cần thiết phải đa dạng nguồn lực tài chính cho phát
triển TDTT đó là: đa dạng loại hình dịch vụ TDTT để đáp ứng nhu cầu tập luyện TDTT
Thứ hai, vận dụng chủ trương, chính sách khuyến khích xã hội hóa của
Đảng, Nhà nước các đơn vị, tổ chức xã hội đẩy mạnh phát triển các loại hình kinh
doanh dịch vụ TDTT như: Xổ số thể thao; truyền hình thể thao; đăng cai, tổ chức
các giải thể thao quy mô lớn để bán vé và thu hút tài trợ, quảng cáo,
Thứ ba, từ kinh nghiệm và mô hình phát triển thể thao của Hàn Quốc, các
nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo và định hướng mô hình phát triển cho
thể thao Việt Nam. Trong đó nêu bật sự cần thiết phải có chương trình mục tiêu
quốc gia về thể thao hướng đến ASIAD 2019 và Olympic 2020 và các chương trình
hành động cụ thể về thể thao thành tích cao.
Thứ tư, Chính phủ cho phép thành lập các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
nghề nghiệp chuyên trách về TDTT có nhiệm vụ, chức năng đứng ra tổ chức các sự
kiện TDTT quy mô lớn như SEA GAMES, ASIAD, OLYMPIC, và kinh doanh
trong lĩnh vực TDTT để thu hút, vận động tài trợ và tạo nguồn thu từ nhiều hoạt
động khác, tạo nguồn lực tài chính cho phát triển sự nghiệp TDTT.
Ba là, bám sát vào nội dung chương 1, luận văn đã phân tích thực trạng về
đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển TDTT ở Việt Nam.
Thứ nhất, thực trạng về xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật nhà nước về
đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục, thể thao
Thứ hai, thực trạng về quy hoạch nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục,
thể thao
Thứ ba, thực trạng về bộ máy thực hiện đa dạng nguồn lực tài chính cho phát
triển thể dục, thể thao
Thứ tư, thực trạng về kiểm tra, giám sát việc thực hiện đa dạng nguồn lực tài
chính cho phát triển thể dục, thể thao.
Về kết quả đạt được:
v
Thứ nhất, thành tựu về cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước để đa dạng
nguồn lực tài chính cho phát triển TDTT.
Việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã từng bước tạo quyền tự
chủ, chủ động cho đơn vị sự nghiệp trong quản lý chi tiêu tài chính trên cơ sở mở rộng
thao và Du lịch và Tổng cục Thể dục thể thao); Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
và ngoài công lập TDTT. Cụ thể:
Xây dựng Đề án và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành một số
nội dung quan trọng như Chiến lược phát triển TDTT đến năm 2020; Quy hoạch hệ
thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể thao quốc gia đến năm 2020 và một số chương
trình mục tiêu quốc gia quan trọng khác.
Trình Thủ tướng Chính phủ và phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây
dựng, bổ sung các chế độ chính sách cho vận động viên, huấn luyện viên thể thao
ngày càng tăng dần.
Tham gia tích cực trong công tác xã hội hóa thông qua ban hành nhiều Chỉ
thị, Thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách khuyến khích xã hội hóa, tạo điều
kiện thuận lợi nhất cho các đơn vị vận dụng, triển khai một cách hiệu quả nhất.
Đồng thời, tổ chức tuyên truyền triển khai thực hiện đến quần chúng nhân dân một
cách sâu rộng
Các đơn vị sự nghiệp công lập đã từng bước khẳng định quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm trong việc xác định nhiệm vụ, tổ chức biên chế và tài chính; qua
đó khai thác tiềm năng, phát huy các nguồn lực của đơn vị để cung cấp dịch vụ với
chất lượng tốt, giảm thiểu sự thuộc vào NSNN,
Các đơn vị ngoài công lập bước đầu đã thay đổi nhận thức của xã hội trong
việc sử dụng các dịch vụ sự nghiệp do đơn vị sự nghiệp ngoài công lập cung ứng,
Thứ tư, thành tựu về kiểm tra, giám sát việc thực hiện đa dạng nguồn lực tài
chính cho phát triển thể dục, thể thao.
Luôn bám sát và giám sát chặt chẽ việc thực hiện xây
dựng cơ chế, chính sách, pháp luật nhà nước về đa dạng nguồn lực tài chính
cho phát triển thể dục, thể thao; quy hoạch nguồn lực tài chính cho phát triển thể
vii
dục, thể thao; tổ chức bộ máy thực hiện đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển
thể dục, thể thao giúp hạn chế được những thiếu sót, sai lệch đường hướng, mục
tiêu phát triển TDTT và phát huy những mặt tích cực để thực hiện đa dạng nguồn
lực tài chính cho phát triển TDTT.
Quá trình tự chủ, tự chịu trách nhiệm với cơ quan Nhà nước, đặc biệt là với
các đơn vị sự nghiệp công lập còn bất cập, yếu kém. Việc triển khai ở nhiều lĩnh
vực còn chậm đổi mới, nặng về tư duy bao cấp, các đơn vị chưa chủ động huy động
và sử dụng hiệu quả nguồn lực Nhà nước và xã hội để phát triển dịch vụ.
Các đơn vị ngoài công lập chưa phát huy được các thế mạnh đang có do sự bất
cập và thiếu đồng bộ về các cơ chế, chính sách ưu đãi như chính sách về quy hoạch, đất
đai, thuế, khen thưởng,
Hoạt động của một số Liên đoàn, Hiệp hội Thể dục, thể thao còn bị động, phụ
thuộc vào sự hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước, kinh phí hoạt động chủ yếu do ngân
sách nhà nước cấp; chưa ổn định về bộ máy tổ chức (không có cán bộ chuyên trách); còn
thiếu các quy định pháp lý về việc tham gia thực hiện một số hoạt động tác nghiệp trong
lĩnh vực TDTT.
Thứ tư, hạn chế về kiểm tra, giám sát việc thực hiện đa dạng nguồn lực tài
chính cho phát triển thể dục, thể thao
Trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính trong lĩnh vực TDTT còn
thiếu và chưa đồng đều. Bên canh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
nghiệp vụ tài chính cho cán bộ viên chức, công chức chưa được hoạch định cụ thể
va quan tâm đúng mức.
Hệ thống văn bản pháp luật về công tác tài chính và các lĩnh vực liên quan
đến TDTT còn thiếu và chưa đồng bộ gây khó khăn cho thực hiện đa dạng nguồn
lực tài chính.
Sở dĩ còn một số hạn chế trên là do nguyên nhân:
Thứ nhất, cơ chế quản lý chưa phù hợp
Thứ hai, còn thiếu chính sách, biện pháp cụ thể để khuyến khích phát triển
đơn vị hoạt động trong lĩnh vực TDTT ngoài công lập.
Thứ ba, Chiến lược phát triển TDTT và công tác quy hoạch hệ thống cơ sở vật
chất kỹ thuật của ngành TDTT chưa được điều chỉnh, tổ chức, triển khai một cách kịp
thời và phù hợp với thời điểm hiện tại.
ix
Thứ tư, công tác tổ chức, phối hợp trong quản lý, năng lực quản lý chưa theo
nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục, thể thao ở Việt Nam, Luận văn đã khái
quát các vấn đề lý luận và thực tiễn về đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát
triển thể dục, thể thao, các yêu cầu và định hướng phát triển TDTT ở Việt Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn như vậy, luận văn đánh giá những mặt
đạt được và chưa được đối với đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát triển thể
dục, thể thao ở Việt Nam trong thời gian qua, từ đó, đề xuất những phương hướng,
giải pháp nhằm đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục,
thể thao ở Việt Nam trong thời tới, góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh
tế đất nước.
xi
Trờng đại học KINH Tế QuốC DÂN
Dơng đức hiếu
đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển
thể dục thể thao ở việt nam
chuyên ngành: KINH Tế chính trị
Ngời hớng dẫn khoa học:
Gs.ts. phạm quang phan
Hµ néi, n¨m 2013
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm
vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi
hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng…Vận động thể dục,
thể thao là một biện pháp hiệu quả để tăng cường sức khỏe cho lực lượng sản xuất
và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đó chính là quan điểm của Đảng ta về phát
triển sự nghiệp thể dục, thể thao Việt Nam (thể hiện tại Chỉ thị số 106-CT/TW ngày
02 tháng 10 năm 1958 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về
công tác thể dục thể thao; Điều 41, Điều 43 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ
Chính vì vậy, tác giả đã chọn Đề tài “Đa dạng nguồn lực tài chính cho phát
triển thể dục, thể thao ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn của mình.
Đề tài này không chỉ đáp ứng được về mặt lý luận, mà còn đáp ứng được về mặt
thực tiễn, góp một phần thực hiện thành công những nhiệm vụ, mục tiêu đề ra trong
Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thực tế hiện nay, đối với các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế thì có nhiều
đề tài nghiên cứu về nội dung đa dạng hóa các nguồn lực tài chính cho phát triển các
lĩnh vực này nhưng trong lĩnh vực thể dục thể thao thì tác giả khảng định chưa có công
trình, đề tài nào nghiên cứu. Nó chỉ được nhắc đến trong các báo cáo tổng kết hàng
năm; Chiến lược phát triển của ngành thể dục thể thao hay các Chỉ thị, Nghị quyết của
Bộ chính trị. Vì vậy, hướng nghiên cứu của Đề tài là thiết thực, cần thiết và không bị
trùng lặp với bất kỳ công trình, đề tài nghiên cứu nào công bố trước đây.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về đa dạng
nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục thể thao ở Việt Nam. Vì vậy, nhiệm vụ
nghiên cứu của luận văn là:
2
+ Đánh giá thực trạng nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục thể thao ở
Việt Nam.
+ Nâng cao nhận thức về việc cần phải đa dạng nguồn lực tài chính cho phát
triển thể dục thể thao ở Việt Nam, không chỉ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.
+ Đề ra các giải pháp cần thiết để đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển
thể dục thể thao ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: “Đa dạng nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục
thể thao ở Việt Nam”
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đứng trên góc độ quản lý nhà nước
để đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát triển thể dục, thể thao ở Việt Nam.