Giá trị thông báo của cử chỉ tay và nét mặt trong hệ thống giao tiếp phi lời
ở người việt
LỜI NÓI ĐẦU
Việc thực hiện và hoàn thành niên luận đối với mỗi sinh viên là vô cùng
quan trọng. Để hoàn thành niên luận này, trước hết em xin chân thành cảm ơn sự
dạy dỗ tận tình của các thầy cô giáo trong Khoa Ngôn ngữ. Đặc biệt em xin chân
thành cảm ơn sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn: Thầy
Nguyễn Văn Khang, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành niên luận này.
Do hạn chế về thời gian và giới hạn về kiến thức, niên luận này không
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến nhận
xét, đóng góp của các thấy cô giáo và các bạn để niên luận được hoàn chỉnh
hơn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Hàng ngàn năm qua, ngôn ngữ đã trở thành công cụ tư duy và phương
tiện giao tiếp đặc biệt quan trọng, giúp con người biểu đạt nội dung thông tin,
chia sẻ suy nghĩ, tình cảm…Vì thế, quan niệm truyền thống luôn coi ngôn ngữ
đóng vai trò độc tôn trong giao tiếp mà lãng quên vai trò của cử chỉ, điệu bộ
(ngôn ngữ phi lời). Tuy nhiên, thực tế cho thấy thông điệp mà người nói chuyển
tải bằng ngôn từ chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, trong khi giao tiếp bằng ngôn ngữ
không lời chiếm tỉ lớn hơn nhiêù. Càng quan tâm đến vấn đề giao tiếp, người ta
càng thấy là không thể bỏ qua vai trò của cử chỉ, điệu bộ. Sự hiểu biết thấu đáo
về ngôn ngữ cử chỉ rất cần thiết cho việc giao tiếp trong đời sống cộng đồng.
Với muôn vàn tình huống khác nhau trong sinh hoạt đời thường, không phải ai
và không phải bất cứ lúc nào người ta cũng biết cách sử dụng cử chỉ điệu bộ
đúng mực và hợp phong cách. Biết biểu hiện bằng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ đúng
lúc, đúng tình huống sẽ nâng cao hiệu quả giao tiếp, có khi còn hơn cả ngôn ngữ
có lời.
Trong giao tiếp phi lời, cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt đóng vai trò
quan trọng hơn cả, bởi chúng có tấn số xuất hiện cao, giá trị thông báo lớn hơn
Cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt trong giao tiếp phi lời ở người Việt.
4. Phạm vi nghiên cứu
Ngôn ngữ phi lời bao gồm các phương tiện giao tiếp không dùng đến âm
thanh (không được tiếp nhận qua thính giác) như: cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, điệu
mặt (gọi chung là ngôn ngữ cử chỉ hay ngôn ngữ thân thể), như khoảng cách
trong giao tiếp, các tín hiệu màu sắc, mùi vị…
Như vậy, ngôn ngữ phi lời là phạm trù rộng. Trong phạm vi bài niên luận
này, chúng tôi chỉ đề cập đến một phần của ngôn ngữ thân thể là cử chỉ điệu bộ
của tay và nét mặt.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
- Quan sát các hành vi cử chỉ, điệu bộ của tay và nét mặt trong thực tế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nghiên cứu tài liệu liên quan
- Ghi chép, thu thập, thống kê, phân loại (theo hình thức, giá trị biểu
đạt…) các cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt cả trong thực tế và trong tài liệu.
- Miêu tả, so sánh các cử chỉ điệu bộ đã thu thập
- Phân tích, đánh giá ý nghĩa thông báo của từng cử chỉ đó, xem xét trong
thực tiễn hoạt động giao tiếp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. NỘI DUNG
1. Tổng quan về ngôn ngữ cử chỉ
1.1. Quan niệm về ngôn ngữ cử chỉ
Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi cử chỉ, điệu bộ của chúng ta đều mang
theo nó một vài nét của tâm lý cá nhân, đó là sự thể hiện ra bên ngoài những tình
cảm bên trong. Loại giao tiếp phi văn tự này có tên là “ngôn ngữ cơ thể” hay
“ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ” (gọi tắt là ngôn ngữ cử chỉ).
Qua các nghiên cứu của về loại ngôn ngữ cử chỉ này, các nhà tâm lý coi
cơ thể con người như là một “trạm thu phát thông tin”, nó “phát đi” các động
kỉ XX) khẳng định ngôn ngữ cử chỉ tồn tại cách đây 1 triệu đến 1 triệu rưỡi năm
còn ngôn ngữ âm thanh chỉ tồn tại cách đây 5 vạn đến 50 vạn năm. Theo ông,
ngôn ngữ cử chỉ có thể biểu thị tư tưởng, khái niệm hình tượng hoá, có thể dùng
làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong cùng một bộ lạc, với các bộ lạc
khác, có thể dùng làm công cụ phát triển khái nịêm của mình.
Phải đến thế kỉ XX giao tiếp phi ngôn ngữ mới được quan tâm một cách
thực sự. Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp thông qua các cử chỉ hoạt động của
cơ thể như nét mặt, cách nhìn, điệu bộ và khoảng cách giao tiếp. Có rất nhiều
học thuyết nghiên cứu về loại hình giao tiếp này nhưng nổi bật nhất vẫn là “Học
thuyết tâm lý tinh thần” và “Học thuyết hành vi cư xử”.
Trong “Học thuyết tâm lý tinh thần”, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng
con người dù ở bất cứ một nền văn hoá nào cũng đều có sáu trạng thái tâm lý
( hạnh phúc, buồn khổ, giận giữ, sợ hãi, ghét, ngạc nhiên ) và tất cả các trạng
thái tâm lý đó do sự chi phối của não tạo ra những thay đổi trên mặt nhưng theo
hai dạng là tự nhiên và xã giao có mục đích. Trong một thử nghiệm về ảnh
hưởng của não đến các nét mặt của con người, thực nghiệm đã cho thấy khi các
nét mặt bị tê liệt, người ta không thể cười có mục đích (như để tạo ra sự thân
mật ) nhưng vẫn có thể cười một cách tự nhiên khi có điều làm họ bất ngờ. Và
ngược lại cũng có trường hợp, một người có thể cười một cách xã giao nhưng lại
không thể cười một cách thoải mái được. Tuy nhiên, học thuyết này lại lại nêu ra
nhiều điều tranh cãi. Ngôn ngữ cử chỉ là những từ ngữ được quy ước để chỉ các
trạng thái tâm lý, bản thân các trạng thái tâm lý này lại không được định nghĩa
Website: Email : Tel : 0918.775.368
một cách rõ ràng, chính thức thông qua bất cứ loại hình sách vở nào.
Trong “Học thuyết hành vi cư xử”, các nhà khoa học lại cho thấy không
có mối cảm xúc cơ bản cũng như không có biểu hiện cơ bản mà đơn giản chỉ là
các hành vi cư xử mang mục đích xã hội. Nét mặt chính là biểu hiện của những
việc chúng ta muốn làm hay có ý định làm. Có thể lấy ví dụ trạng thái tức giận
(như Học thuyết tâm lý tinh thần đã nêu ) chính là sự mô tả về hành vi sẵn sàng
để tấn công đối thủ. Nhưng nói một cách khác, không phải lúc nào cử chỉ của
dung được thông báo bằng lời. Tuy vậy, khi viết trên văn bản, nếu loại ra các
yếu tố cử chỉ, điệu bộ thuyết minh thì nội dung từng lời nói vẫn được đảm bảo,
sự nối kết vẫn được duy trì. Như vậy, loại cử chỉ thuyết minh này không có giá
trị liên kết lời nói mà chỉ có giá trị bổ sung, làm rõ ý nghĩa và sắc thái cho ngôn
từ.
VD: - (Xua tay). Không phải nói nữa, tôi biết hết rồi!
- (Bẻ đốt ngón tay). Em… em không biết ạ.
- (Lắc đầu). không, không phải nó.
- (Bĩu môi). Gớm, tôi chả thiết
- ….
2.1.2. Cử chỉ hàm chỉ (cử chỉ thay lời)
Là cử chỉ có khả năng tồn tại độc lập trong giao tiếp và có giá trị tương
đương với một hành vi bằng lời.
Cử chỉ hàm chỉ bắt đầu từ cử chỉ kèm lời. Sau đó dẫn đến thiết lập một
mối quan hệ ổn định giữa hành vi lời nói và các kiểu cử chỉ đi kèm. Đến một lúc
nào đó, trong những tình huống cụ thể, người này chỉ cần thể hiện cử chỉ, điệu
bộ tương ứng đó là người kia hiểu được giá trị bằng lời..
Trên cơ sở chức năng và hoạt động của loại cử chỉ này có thể chia làm ba
loại:
a, Loại cử chỉ biểu thị hành vi tiếp nhận giao tiếp
VD: Trong giờ học, An gọi Bình:
- Này Bình.
Bình ngồi bàn trên, quay đầu lại
An thì thầm:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chiều nay học xong đi đá bóng nhé!
Cô giáo nhắc:
- An!
An ngẩng đầu lên.
…
tương ứng ( “ gật đầu ” = “ ừ ” ).
Hiển ngôn cử chỉ câu trả lời của B sẽ là: “ Ừ.Nhưng dạo này giá cơm tăng
cao lắm, không như trước đâu ”.
Cử chỉ lúc này đóng vai trò quan trọng, đảm bảo sự tồn tại lời nói của B,
làm lời nói của B tương ứng với câu hỏi của A. Nếu bỏ các cử chỉ đi kèm thì
mối quan hệ giữa các lời nói sẽ trở nên rời rạc.
c. Loại cử chỉ tương ứng với một hành vi giao tiếp độc lập.
Các cử chỉ này tồn tại độc lập, hoàn toàn giữ vai trò là một phản ứng,
không cần phải kèm thêm lời nói. Loại cử chỉ này được thể hiện cả trong hoàn
cảnh giao tiếp đặc biệt cả trong hoàn cảnh giao tiếp bình thường. Chúng thường
không có chức năng lên kết, ví dụ :
- Nó về chưa?
- (Lắc đầu)
Trong một số trường hợp, các cử chỉ điệu bộ này vừa tương ứng với một
hành vi giao tiếp độc lập vừa tồn tại như một yếu tố nối kết giữa hai lời nói của
cùng một chủ thể, ví dụ:
- Mày đi thăm lăng Bác chưa? Tao tưởng lên đây chúng mày phải đến đó
rồi chứ?
Lời nói thứ nhất là câu hỏi khi chưa biết người được hỏi đã đi thăm lăng
Bác chưa. Lời nói thứ hai “Tưởng A” với tiền giả định: A không đúng nên có
nghĩa là : “Bọn mày chưa đi lăng Bác”
Nếu tình huống này tồn tại cử chỉ điệu bộ (Lắc đầu) của người đối thoai
thay cho hành vi trả lời thì sự tồn tại của hai phát ngôn này phi logic.
Ngoài ra người ta còn có thể phân chia thành hai loại:
* Cử chỉ tán đồng: gật đầu, cười, vỗ tay, vỗ vai…
*Cử chỉ không tán đồng: lắc đầu, bĩu môi, lè lưỡi…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên, cách phân chia này tỏ ra hạn chế trong những trường hợp mà
cùng một cử chỉ nhưng laị biểu lộ hai ý nghĩa trái ngược.
2.2. Bảng giá trị thông báo của tay và nét mặt
Thể hiện phá bỏ ý kiến của người
khác, tất cả vẫn như trước, bày tỏ sức
mạnh và sự kiên quyết.
7.
Chặt tay (bàn tay để thẳng, các
ngón tay khép chặt với nhau
như một chiếc búa đang chém
xuống)
Thể hiện sự quyết đoán, kiên quyết,
nhanh chóng gỡ rối mọi việc.
8
Lật tay (lòng bàn tay hướng
xuống dưới, ngón tay cái xoè
ra, các ngón còn lại hơi cong
cong)
-Tư thế nhắc nhở người nói cẩn thận,
cần kiềm chế tình cảm nhằm mục
đích khống chế cuộc nói chuyện.
-Tư thế phủ nhận, phản đối …
9 Ngửa tay (lòng bàn tay hướng - Khen ngợi, xin xỏ, khẩn cầu (giơ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lên trên, ngón tay cái xoè ra,
các ngón còn lại hơi cong
cong)
tay cao)
- Động tác ăn xin thể hiện chân thành
lắng nghe ý kiến của mọi người,
giành được sử ủng hộ. (tay để ngang)
-Không biết phải làm sao (tay hạ
thấp).
17 Giơ tay Dấu hiệu xin phát biểu, đưa ra ý kiến
18 Lấy tay che miệng Ngượng ngùng e thẹn thiếu tự tin
19 Tay xoa cằm Thể hiện sự thông minh lão luyện
20 Tay vò đầu
Lúng túng, bối rối, chưa đưa ra giải
pháp hoặc không có ý kiến
21 Vung nắm đấm lên Hăm họa
Website: Email : Tel : 0918.775.368
22 Vặn vẹo bàn tay Lúng túng, bối rối
23 Bẻ đốt ngón tay Lúng túng, bối rối
24 Vân vê gấu áo Lúng túng, bối rối
25 Gãi tai Lúng túng, bối rối
26
Vò nát hoặc xé nhỏ cái gì đó
trong tay
Lúng túng, bối rối
27
Đưa ngón tay trỏ thẳngn lên
môi (thường kèm tiếng
“suỵt!”)
Ra hiệu bí mật không tiếp lộ
28 Giơ ngón tay trỏ
-Răn đe chỉ mặt vạch tội (động tác
mạnh, ngón tay căng)
-Hướng người nghe tập trung vào
điều mình đang nói, tách rõ ràng vấn
đề,ý tứ khúc triết hơn (tay lia theo
từng câu nói).
29 Vỗ vai Động viên, khích lệ
30 Vỗ lưng Động viên, khích lệ
Sốt ruột, hết kiên nhẫn rồi.
42 Tay cầm điếu thuốc run run Căng thẳng, hưng phấn.
43 Vung tay (động tác mạnh)
Sự dứt khoát không chấp nhận,
không muốn.
44 Bắt tay
-Thể hiện sự chào đón trang trọng,
lịch sự,tình hữu nghị.
-Chúc mừng
-Tin tưởng, tin cậy đối tác.
45
Vô tình phủi bụi trên quần áo
hoặc cậy móng tay…
Lơ đãng, không chú ý.
46
Cử chỉ đưa tay vẽ một mặt
phẳng nằm ngang
Dấu hiệu thẻ hiện sự kiên quyết, chắc
chắn, tập trung.
47 Khua tay
Việc nhắc tới được coi trọng (khua
tay múa chân)
48
Cánh tay gập căng lại (ở mức
ngang vai), bàn tay nắm chặt
Cử chỉ khen ngợi, bày tỏ sự ủng hộ,
đoàn kết, tán thưởng.
49
Siết chặt tay người khác (tay
cao quá đầu)
không cần tiếp tục nói nữa.
62 Tay nghịch tóc (vuốt tóc)
-Biểu thị sự bối rối, suy nghĩ vẩn vơ
-Sự làm dáng (thường ở nữ giới).
63 Phủi tay Giũ bỏ và kết thúc một việc gì đó
2.2.2. Giá trị thông báo của mặt
STT CỬ CHỈ CỦA MẶT GIÁ TRỊ THÔNG BÁO
1 Gật đầu -Sự tán đồng, chấp thuận
- Hài lòng.
2 Lắc đầu -Tỏ ý phủ nhận, không tán đồng
-Chê trách, phê phán, không hài lòng
-Kinh hãi hoặc thán phục trước một sự
việc ngoài sức tưởng tượng
-Sự cảm thông, thương cảm trước một
tình cảnh mà mình đành chịu bất lực,
không biết làm gì
-Tâm trạng buồn chán, thất vọng, bi
quan.
3 Xoa đầu Hành vi thân thiện, biểu thị thái độ bề
trên với dưới
4 Cúi đầu Băn khoăn suy nghĩ
5 Ngả đầu vào tay Tỏ ý buồn rầu
6 Nghiêng đầu Thích thú lắng nghe và tôn trọng người
khác nói .
7 Nhăn trán -Ngạc nhiên
-Phẫn nộ, bất mãn.
8 Nhăn mặt (cau mặt) Bực dọc, khó chịu, không hài lòng
Website: Email : Tel : 0918.775.368