MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ HỌC TỐT MÔN LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC - Pdf 27

Bài tập nghiên cứu khoa học
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BẮC GIANG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGÔ GIA TỰ BẮC GIANG
BÀI TẬP
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ HỌC TỐT MÔN LÀM
QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC
Người hướng dẫn: Nguyễn Thị Yến
Người thực hiện : Nguyễn Thị Trường
Lớp: K3A(07) – Hiệp Hòa.
Hiệp Hòa, tháng 4 năm 2014
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
1
Bài tập nghiên cứu khoa học
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết giáo dục mầm non là một bộ phận trong hệ thống
giáo dục toàn quốc, thực hiện nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ từ 3 tháng
đến 6 tháng tuổi, mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn
diện cácr về đức, trí, thể, mỹ, giáo dục mần non là mắt xích đầu tiên trong hệ
thống giáo dục quốc dân, nó có tầm quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và
đào tạo, khởi đầu cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Nhiều
nhà nghiên cứu tâm sinh lý đã chứng minh rằng những năm đầu tiên của
cuộc đời con người hình thành tương đối đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần:
“ Uốn cây từ thủa còn non
Dạy con từ thủa con còn bé thơ”
Vì vậy, các cháu phải được chăm sóc, nuôi dậy, uốn nắn ngay từ thủa
nhỏ, ở lứa tuổi này trẻ luôn học hỏi, bắt chước người lớn về mọi mặt. Do
vậy, đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có trình độ, năng lực nắm vững
được đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ, cô giáo phải gần gũi, yêu thương trẻ để
thu hút trẻ trong việc học tập.
Giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống con người nhất là

năng phát triển ngôn ngữ một cách hữu hiệu nhất, diễn đạt ngắn gọn, biết sử
dụng từ đúng lúc, đúng chỗ không những thế mà việc dậy trẻ làm quen với
những từ ngữ nghệ thuật như từ tượng hình, từ tượng thanh giúp trẻ phát
triển trí tưởng tượng, óc quan sát, khả năng tư duy độc lập trong suy nghĩ.
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
3
Bài tập nghiên cứu khoa học
Thông qua nội dung các tác phẩm có rút ra bài học giáo dục trẻ biết yêu
quý người hiền lành, biết ơn và kính yêu ông bà, bố mẹ, anh chị, bạn bè, biết
nhường nhịn em nhỏ.
Xuất phát từ những vai trò cụ thể đó cho nên hoạt động dậy trẻ làm
quen với văn học là môn học không thể thiếu trong chương trình chăm sóc
giáo dục trẻ. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng dậy trẻ làm quen với tác phẩm
văn học là vấn đề quan trọng trong đổi mới hình thức tổ chức giáo dục mầm
non.
Làm quen với tác phẩm văn học chỉ ra mức độ, giới hạn, yêu cầu của
việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghệ thuật đọc và kể chuyện
của cô giáo hoạt động này nhằm dẫn dắt, hướng dẫn trẻ cảm nhận những giá
trị nội dung, nghệ thuật phong phú trong tác phẩm, khơi gợi cho trẻ sự dung
động, hứng thú đối với văn học, có ấn tượng về những hình tượng nghệ
thuật, cái hay cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cẩm nhận đó qua các hoạt
động mang tính chất văn học nghệ thuật như: đọc thơ, kể chuyện, chơi trò
chơi đóng kịch. Cao hơn là tiến tới sáng tạo ra những vần thơ, câu truyện
theo tưởng tượng của mình góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân
cách trẻ.
Trong mỗi tác phẩm văn học, thế giới mới của cuộc sống thực tại bao
gồm thiên nhiên, xã hội, con người được diễn tả, biểu đạt, truyền đạt trong
những hình thức đa dạng độc đáo. Văn học nói về thế giới loài vật, cỏ cây,
hoa lá, mội hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ mà trẻ nhìn thấy được, cũng nói về
những gì gần gũi trong môi trường sống của trẻ như làng quê, cánh đồng,

nhận ra ngôn ngữ đời thường (khẩu ngữ) và ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính.
Qua tác phẩm văn học, trẻ quen dần tính chất nhiều ý nghĩa và tinh luyện
của ngôn ngữ văn hóa, dần dần tiến tới hiểu được nghĩa thực đến nghĩa
bóng, từ nghĩa văn cảnh đến ý tưởng nhà văn muốn truyền đặt.
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
5
Bài tập nghiên cứu khoa học
Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học góp phần mở rộng nhận
thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển ngôn
ngữ, phát triển ở trẻ hứng thú “ đọc sách” kỹ năng đọc và kể tác phẩm.
Sức mạnh của tác phẩm văn học rất là to lớn. Trong quá trình cho trẻ
tiếp xúc với tác phẩm bằng tài năng sư phạm cùng với nghệ thuật đọc và kể
truyện văn học, cô giáo ở trường mầm non sẽ hướng trẻ vào những vẻ đẹp
nội dung và nghệ thuật tác phẩm, gây ấn tượng đầu tiên cho trẻ về hình
tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn ngữ dân tộc.
Cần phải dạy trẻ biết lắng mình với tác phẩm văn học, hòa vào cõi
mộng mơ, trau dồi thói quen đón nhận được các hòa âm tinh tế thoáng qua,
bất chợt đến từ các nguồn sống khác, nghĩa là dạy trẻ tập trung rung động,
cái rung động của mình chứ không phải của người khác.
Tác phẩm văn học thể hiện hiện thực cuộc sống bằng hình tượng nghệ
thuật. Bằng sức mạnh của tính hình tượng, sự biểu cảm của ngôn ngữ, những
hình tượng con người, con vật, bức tranh thiên nhiên được vẽ lên bằng ngôn
ngữ đã tác động mạnh mẽ đến trẻ em. Ấn tượng trẻ thu nhận từ tác phẩm văn
học khi nghe đọc, kể tác phẩm vào trình độ phát triển nhận thức thẩm mĩ của
trẻ vào khả năng cảm nhận văn học trong sự thống nhất giữa hình thức nội
dung và nghệ thuật tác phẩm. Chúng ta đều nhận thấy rằng, trẻ mẫu giáo có
khả năng cảm nhận nghệ thuật trong thể hoàn chỉnh, thống nhất giữa nội
dung và hình thức tác phẩm bằng cách nghe người lớn đọc và kể tác phẩm.
Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nhà sư phạm cần hướng trẻ đến
vẻ đẹp mang “bản chất người” của hình tượng văn học. Vẻ đẹp của tính

thân, tủi phận “tấm bưng mặt khóc”. Trẻ thể hiện nỗi lo lắng, thương tâm
với nhân vật. Khi cô kể đến đoạn tấm thử hài, được về cung làm hoàng hậu
trẻ vui mừng, thốt lên phấn khởi…
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
7
Bài tập nghiên cứu khoa học
Tiếp nhận của trẻ là tiếp nhận ngây thơ, triệt để. Trong tiếp nhận văn
học trẻ thường vận dụng kinh nghiệm trực tiếp và nguyên hợp, không phân
biệt sự khác nhau giữa chúng. Trẻ em không đòi hỏi lí lẽ mà đòi hỏi sự hợp
lí về tình cảm trong khuôn khổ hạn hẹp của mình. Cho nên giáo viên khi giải
thích cho trẻ cần nhất quán và tạo dựng niềm tin. Với niềm tin ngây thơ trẻ
em có tôn giáo của mình. Chúng luôn đứng về cái thiện, chia sẻ, bênh vực
những nhân vật tốt, dũng cảm và cao cả, những nhân vật nhỏ bé, yếu ớt cần
được bảo vệ. Chẳng hạn, khi cô giáo tổ chức cho trẻ chơi trò chơi đóng kịch
tác phẩm “Chú dê đen” trẻ rất thích nhân vật chú dê đen và hứng thú ghi
nhớ. Đó là bởi trẻ tiếp nhận ngây thơ, không phân biệt thế giới nghệ thuật
trong tcá phẩm và hiện thực đời sống.
Tiếp nhận văn học của trẻ em ít bị ràng buộc bởi lí trí và chứa đựng
tưởng tượng mạnh mẽ. Ở trẻ em , tưởng tượng về cái có thật. Do vậy trẻ em
rất dẽ bị cuốn hút bởi những hình tượng hoang đường, kỳ vĩ, tác động mạnh
vào trí tưởng tượng của các em như: Hình tượng cậu bé làng gióng vươn vai
bỗng lớn thành một tráng sỹ, những chi tiết về sự hoaá thân kỳ diệu của
nhân vật, cco tấm, phép màu kỳ lạ của “Quả bầu tiên”….Như vậy, trí tưởng
tượng phát triển sớm ở trẻ mẫu giáo là một thứ của trời cho có tính chất tự
nhiên, là tiền đề để cô giáo thực hiện tốt hoạt động đọc và kể tác phẩm.
2.Cơ sở thực tiễn:
Trường Mầm non Đồng Tân là một trường miền núi, với trình độ dân
trí còn thấp, điều kiện kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, việc đầu tư hỗ
trợ xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động còn hạn chế, đồ
dùng, đồ chơi trang thiết bị phục vụ cho môn học con chưa đáp ứng đối với

Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập tài liệu lý luận giaỉ quyết
nhiệm vụ thứ nhất của đề tài. Ví dụ như: Phương pháp làm quen văn học,
giáo dục học mầm non…
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
9
Bài tập nghiên cứu khoa học
+ Phương pháp quan sát:
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập tài liệu tthực tiễn giải quyết
nhiệm vụ thứ 2 của đề tài, quan sát trẻ mẫu giáo khi tham gia hoạt động vui
chơi, trò chơi dân gian. Quan sát trẻ mẫu giáo và cô giáo khi tổ chức hoạt
động làm quen văn học ở trường mầm non Đồng Tân.
+ Phương pháp điều tra:
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập tài liệu thực tiễn để giải quyết
nhiệm vụ thứ 2 của đề tài. Tôi sử dụng hệ thống các câu hỏi điều tra giáo
viên mầm non trường mầm non Đồng Tân.
+Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại với trẻ để thu thập thông tin về
tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen văn học tại trường
+ Phương pháp thực nghiệm:
Sử dụng phương pháp này nhằm để kiểm tra biết được kết quả thử
nghiệm trên trẻ có tốt hơn không và tốt hơn là bao nhiêu.
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC CÁC HOẠT
ĐỘNG CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở
TRƯỜNG MẦM NON HIÊN NAY
I.Thực trạng:
Hiện nay, Tôi đang là giáo sinh thực tập tại trường Mầm non Đồng Tân.
Đội ngũ giáo viên:
Tổng số cán bộ giáo viên: 16 đồng chí
Trong đó: Ban giám hiệu 03 đồng chí
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường

11
Bài tập nghiên cứu khoa học
ngụ ngôn, truyện cười, truyện ngắn hiện đại, thơ. Số lượng các tác phẩm văn
học dân gian được tuyển chọn vào chương trình với một tỷ lệ thích hợp,
nhằm dẫn dắt các em trở về với đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tonh
thần của cha ông và trở về với cuội nguồn của dân tộc. Một số tác phẩm văn
học nước ngoài được dịch, được biên soạn lại cũng có trong chương trình.
Với những tác phẩm ấy, trẻ em ngay từ nhỏ đã có điều kiện tiếp xúc với
nhiều nền văn hóa của các nước trên thế giới.
Nội dung chương trình “Làm quen với văn học” ở độ tuổi mẫu giáo đa
dạng, phong phú hơn nhiều so với chương trình của nhà trẻ. Ở độ tuổi này
các em được tiếp xúc với những tác Sơn Tinh, Thủy Tinh, Thánh Gióng), về
những sinh hoạt của chính các em ở trường và ở nhà (Ai ngoan hơn, Giúp
mẹ), có những tác phẩm truyền đến các em những tri thức khoa học như Cô
Mây, Chú Đỗ Con.
Văn học là một loại hình nghệ thuật mà trẻ thơ được tiếp xúc rất sớm.
Ngay từ tuổi ấu thơ các em được làm quen với giai điệu nhẹ nhàng, tha thiết
của lời hát ru. Lớn hơn một chút, các câu truyện dân gian, các tác phẩm thơ
chuyện hiện đại đã gieo và lòng các em sự mến yêu với thế giới xung quanh,
giúp các em hiểu về truyền thống lao động, chiến đấu bền bỉ nhưng vô cùng
anh dũng của dân tộc.
*Văn học luôn đem đến cho các em những hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng,
gợi mở cho các em những xúc cảm thẩm mỹ và hình thành thị hiếu thẩm mỹ.
Tiếp xúc với tác phẩm văn học là các em được tiếp xúc với cả một thế giới
bao la đầy âm thanh và màu sắc với những hình ảnh đẹp đẽ, sinh động,
muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên và cuộc sống.
Ví dụ: Bài thơ “Hoa kết trái” của Mẫu giáo nhỡ, bằng cách miêu tả cụ
thể những bông hoa rực rỡ màu sắc, Thu Hà đã giúp các em cảm nhận được
vẻ đẹp lộng lẫy, tươi tốt của mảnh vườn với nhiều loài hoa đẹp:
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường

Bài tập nghiên cứu khoa học
Tình cảm với thầy cô, bạn bè và những người lao động, những người có
công với đất nước cũng là một nội dung được nhắc nhiều trong văn học viết
cho trẻ em lứa tuổi Mầm non.
Ví dụ bài “Hạt gạo làng ta” – mẫu giáo lớn của Trần Đăng Khoa giúp
trẻ hiểu được sự vất vả, lam lũ của người nông dân trong quá trình làm ra hạt
gạo. Hạt gạo không chỉ là kết tinh của những giá trị vật chất và những giá trị
tinh thần mà còn là kết quả của những vật lộn của người nông dân để chống
chọi với sự khắc nghiệt của thời tiết và sự khốc liệt của chiến tranh vì thế
mỗi hạt thóc, hạt gạo làm ra không chỉ mang nặng công ơn cô bác nông dân
mà còn mang trong đó niềm vui, niềm tự hào của cả dân tộc vượt lên khó
khăn để chiến thắng kẻ thù.
Đó là tình làng nghĩa xóm “tối lửa tắt có nhau”, là tình cảm với muôn
người trong cùng đất nước:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
*Văn học đối với việc mở rộng và nâng cao nhận thức cho trẻ em lứa
tuổi Mầm non:
Văn học là một phương tiện hữu hiệu giúp trẻ mở rộng và nâng cao
nhận thức về thế giới xung quanh. Giúp các em nhận biết về các hiện tượng
tự nhiên như mây, mưa, sấm, chớp….
Ví dụ: Bài thơ “Mưa” được Trần Đăng Khoa thể hiện hết sức sống
động: Lộp độp
Lộp độp
Rơi
Trời đất
Mù trắng
Khác hẳn với mưa xuân:
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
14

Bài tập nghiên cứu khoa học
Lông vàng mát dịu
Mắt đen sáng ngời….
*Văn học đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi Mầm non:
Phát triển ngôn ngữ là nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục Mầm non, đặc
biệt là giáo dục mẫu giáo. Bởi lẽ, ngôn ngữ gắn liền với tư duy. Nếu trẻ
không được trang bị vốn ngôn ngữ nhất định trẻ sẽ không thể đến trường
phổ thông để lĩnh hội tri thức và nền văn hóa của nhân loại. Văn học giúp trẻ
mở rộng vốn từ đặc biệt là từ ngữ nghệ thuật., giúp trẻ phát triển lời nói
mạch lạc, nâng cao khả năng biểu đạt. Quá trình trẻ nghe kể chuyện, nghe
đọc thơ đặc biệt là khi trẻ được trực tiếp kể lại truyện hoặc học thuộc lòng
thơ, chính là quá trình trẻ tích lũy thêm được nhiều từ mới, đặc biệt là từ
nghệ thuật và học thêm được những cách diễn đạt giàu hình ảnh, giàu sức
biểu cảm, ví dụ: Khi đọc câu thơ: Hoa lựu chói chang- Đỏ như đốm lửa, có
cháu đã nhận xét: Cái áo của bạn Hà đỏ như màu hoa phượng…
Vai trò của văn học đối với việc giáo dục trẻ em lứa tuổi Mầm non là
rất to lớn. Văn học góp phần giúp cho trẻ phát triển nhân cách toàn diện. Sẽ
là rất thiệt thòi cho những đứa trẻ không thường xuyên được tiếp xúc với tác
phẩm văn học. Chính vì vậy cần đưa văn học – nghệ thuật của ngôn từ đến
với trẻ từ rất sớm, thậm chí ngay từ khi trẻ mới chào đời, bằng những lời ru,
những câu chuyện. Giáo viên Mầm non phải trau dồi những kiến thức cơ bản
để cảm thụ thật tốt các tác phẩm văn học thì mới có thể truyền dạy cho trẻ
được những cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Với sự hướng dẫn của cô giáo,
trẻ được nghe, được học các tác phẩm văn học, đó là những bài học làm
người đầu tiên và những bài học đó sẽ cùng trẻ lớn dần lên theo năm tháng,
trong suốt cả cuộc đời.
2.Thuận lợi:
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
16
Bài tập nghiên cứu khoa học

môn của giáo viên trong trường.
*Về sự phối kết hợp:
Hàng năm, nhà trường và chính quyền địa phương thường xuyên quan
tâm đầu tư muc sắm trang thiết bị, phương tiện dạy học. Một số bậc phụ
huynh, học sinh không những luôn quan tâm đến việc học của con cái mà
còn mua sắm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho công tác chăm sóc, giáo dục
được tốt hơn.
3.Khó khăn:
Cơ sở vật chất tuy đã đầy đủ nhưng còn hạn chế về chất lượng, diện
tích lớp học còn chật trội, số học sinh so với số lớp luôn là quá tải gây khó
khăn cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục và công tác chăm sóc giáo dục
trẻ.
Thời gian làm việc của giáo viên quá nhiều thường từ 10 đến 12
tiếng/ngày nên ảnh hưởng rất lớn đến việc làm đồ dùng đồ chơi, học tập,
trao đổi, nghiên cứu nâng cao trình độ nghiệp vụ của giáo viên. Trình độ
chuyên môn chưa đồng đều, hạn chế năng khiếu như hát, múa, kế
truyện….nên chưa thực sự thu hút được trẻ. Do trẻ trong trường đều là nhà
nông nên khả năng nhận thức còn hạn chế.
Một số giáo viên vận dụng đổi mới hình thức, phương pháp dạy học
chưa linh hoạt, chưa phù hợp với yêu cầu. Đặc biệt qua quá trình tìm hiểu
môn Làm quen văn học ở trường Mầm non Đồng Tân em thấy nguyên nhân
giáo viên ngại dạy môn văn học là do một số giáo viên chưa hiểu rõ tầm
quan trọng, mục đích, ý nghĩa của môn văn học đối với trẻ Mầm non, một số
giáo viên còn nói ngọng, giọng kể chưa diễn cảm, chưa lôi cuốn trẻ, một số
giáo viên chưa nắm vững được phương pháp dạy văn học nên chất lượng
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trong trường mầm non còn hạn chế.
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
18
Bài tập nghiên cứu khoa học
Nhân dân địa phương phần lớn là làm nông nghiệp, rất bận rộn với

Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự thành công của tác phẩm:
Có nhiều định nghĩa về vấn đề này, song hiểu một cách đơn giản có thể
quan niệm việc đọc, kể tác phẩm văn học một cách diễn cảm hay còn gọi là
đọc kể nghệ thuật là người đọc, người kể, sử dụng mọi sắc thái của giọng để
trình bày tác phẩm, giúp người nghe có thể nhìn thấy những cái đã được
nghe và khơi gọi lên những dung động, những cảm xúc ở họ. Muốn thực
hiện tốt việc đọc kể diễn cảm tác phẩm văn học trước hết cô giáo phải rèn
luyuên để đọc đũng tác phẩm.
Để thực hiện tốt được hoạt động nghệ thuật này thì giáo viên Mầm non
đọc, kể phải tập luyện nhiều để có kỹ năng, kỹ xảo và phải nắm được các thủ
thuật cơ bản của việc đọc, kể diễn cảm như: giọng điệu, ngữ điệu, nhịp điệu,
cách ngắt giọng, cường độ âm thanh phù hợp với tác phẩm.
1. Xác định giọng điệu:
Việc xác định giọng điệu cơ bản giúp cho người nghe cảm nhận được
giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và nó phụ thuộc vào thể loại, nội
dung và phong tác ngôn ngữ. Ví dụ như truyện cười thường kể bằng giọng
điệu dí dỏm, hài hước, truyện ngụ ngôn thường có các nhân vật rõ ràng nên
giọng điệu phải thể hiện được tính cách từng nhân vật, câu kết của truyện là
đúc rút kinh nghiệm thường kể giọng triết lý, hóm hỉnh, truyện cổ tích kể với
giọng thủ thỉ, tâm tình…
Ví dụ: Truyện “Mèo lại hoàn mèo” (lớp mẫu giáo nhỡ)
-Đoạn đầu, dẫn dắt truyện: Kể với giọng điệu chậm rãi, nhấn mạnh vào
chi tiết chủ nhà đặt tên cho con mèo là trời.
-Phần nội dung chính của truyện: chú ý thay đổi giọng điệu và ngắt
giọng sau mối câu để trẻ phân biệt lời đối thoại của hai nhân vật và tính chất
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
20
Bài tập nghiên cứu khoa học
hài hước của câu chuyện. Giọng của người bạn thể hiện sự ngạc nhiên, hóm
hỉnh (có ý nghĩa châm biếng), cường độ giọng hơn cao hơn bình thường.

Ví dụ: Khi cô kể chuyện “Chú vịt xám” (Lớp mẫu giáo nhỡ), chủ đề là
tác giả phê phán chú vịt xám không vâng lời mẹ, cô kể với thanh điệu cơ bản
êm nhẹ, vui tươi (đoạn đầu chậm rãi, rõ ràng).
Ví dụ: thanh điệu vui tươi náo nhiệt được thể hiện trong bài “Kể cho bé
nghe” của Trần Đăng Khoa:
Hay nói ầm ĩ
Là con vịt bầu
Hay hỏi đâu đâu
Là con chó vện
Hay chăng dây điện
Là chị nhện con….
Trong các loại thanh điệu cơ bản được sử dụng trong việc đọc, kể diễn
cảm tác phẩm thì thanh điệu vui tươi, thanh điệu êm nhẹ thường được sử
dụng nhiều đối với em nhỏ. Do đó, nhiệm vụ của cô giáo Mầm non khi đọc,
kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ nghe là phải nghiên cứu kĩ tác phẩm
để định ra đúng thanh âm cơ bản , từ đó định ra cách trình bày phù hợp.
1.2. Nắm vũng ngữ điệu:
Ngữ điệu giọng là toàn bộ sắc thái đa dạng trong giọng của người đọc,
người kể để bộc lộ những tình cảm và ý nghĩa của người kể, người đọc giúp
cho họ vẽ ra được những hình tượng nghệ thuật. Ngữ điệu giọng đóng vai
trò quan trọng trong việc trình bày tác phẩm và nhờ có ngữ điệu mà người
đọc có thể tác động mạnh đến các xúc cảm của người nghe, khiến người
nghe có được những rung cảm đúng đắn, lành mạnh. Nhờ có ngữ điệu nên
người đọc tạo cho người nghe thấu hiểu nội dung, tư tưởng của tác phẩm.
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
22
Bài tập nghiên cứu khoa học
Muốn cho sắc thái ngữ điệu được phong phú, người ta thường sử dụng
các yếu tố: cường độ giọng, ngắt hơi, lên giọng, xuống giọng và âm sắc về
chất của giọng…Để có thể sử dụng tốt các yếu tố trên của ngữ điệu giáo viên

nghe.
+Ngắt giọng thơ ca thường đặt ở cuối câu đọc.
Ví dụ: Bài thơ “Em yêu nhà em” ở lớp mẫu giáo nhỡ:
Chẳng đâu bằng chính nhà em
Có đàn chim sẻ / bên thềm líu lo
Có đàn gà mái hoa mơ
Cục ta / cục tác / khi vừa đẻ xong
Có bà chuối mật / lưng ong
Có ông ngô bắp / râu hồng như tơ
Có ao muống / với lá cờ
Em làm chị Tấm / đợi chờ bống lên…
Toàn bài đọc với nhịp điệu vừa phải và có thay đổi thanh các câu từ là
ta phải ngắt giọng trong các câu thơ: câu số 4 (2/2/4), câu số 6 (4/4), câu 7
(3/3), câu 10 (4/4) lâu hơn bình thường.
1.4 Nhịp điệu là một trong những yếu tố của ngữ điệu, là phương
tiện của tính truyền cảm nghệ thuật.
Nhịp điệu là sự thể hiện của giọng đọc nhanh hay chậm, khẩn trương
hay vừa phải. Nhịp điệu do nội dung tác phẩm quy định. Khi trình bày tác
phẩm, cần phải lựa chọn nhịp điệu cho phù hợp và thay đổi từng đoạn trong
tác phẩm khi cần thiết. Giáo viên Mầm non biết sử dụng các sắc thái khác
nhau của nhịp điệu, sẽ đem lại cho giọng nói một sức mạnh đặc biệt bởi lẽ
trong khi truyền thu tác phẩm mà chỉ sử dụng một nhịp điệu đều đều thì tác
phẩm sẽ trở nên khô héo, không có sức sống, đặc biệt đối với trẻ từ 1 đến 6
Giáo sinh: Nguyễn Thị Trường
24
Bài tập nghiên cứu khoa học
tuổi, do nhận thức và ngôn ngữ có đặc điểm riêng nên sức cảm thụ văn học
còn chậm.
Ví dụ: Khi đọc bài thơ “Em yêu nhà em” ở lớp mẫu giáo nhỡ, Bài thơ
miêu tả cảnh vật tươi đẹp, phong phú và đàm ấm trong ngôi nhà của bé – từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status