Đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
I_Một số khái niệm nguồn nhân lực
1_Một số khái niệm nguồn nhân lực
• Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới
nhiều khía cạnh.Trước hết là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội,bao gồm
toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường(không bị khuyến khuyết hay di
tật bẩm sinh ).
• Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế _xã hội
là khả năng lao động của xã hội hiểu theo nghĩa hẹp hơn,bao gồm nhóm dân cư
trong độ tuôỉ lao động có khả năng lao động.Với cách hiểu nay nguồn nhân lực
được hiểu là nguồn lao động.
• Nguồn nhân lực còn có thể hiêu là tổng hợp cá nhân những con người cụ
thể tham gia vào quá trình lao động,là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh
thần được huy động vào quá trình lao động.Với cách hiểu này nguồn nhân lực
bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên(ở nước ta là 15
tuổi)
• Các cách hiểu trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực
,song đều nhất trí với nhau đó là nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động của
xã hội.
• Cũng như các nguồn nhân lực khác,số lượng và đặc biệt là chất lượng của
nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất
cho xã hội.
2_Vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội
...............................................................................................................................................
1
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người ,và là một trong nhưng nguồn lực
quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội.Vai trò đó bắt nguồn từ vai trò
yếu tố con người.
2.1 _ Con người là động lực của sự phát triển
của xã hội và như vậy nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu
dùng.Mặc dù mức độ phát triển của sản xuất quyết định mức độ tiêu dùng,song
nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hướng
phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị truờng.Nếu
trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, lập tức
thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó và ngược lại.
Nhu cầu con người vô cùng phong phú, đa dang và thường xuyên tăng lên,
nó bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, về số lượng và chủng loại hàng
hoá ngày càng phong phú va đa dạng, điều đó tác động tới quá trình phát triển
kinh tế và xã hội.
2.3 Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội
Con người không chỉ là mục tiêu động lực của sự phát triển,thể hiện mức
độ chế ngự thiên nhiên,bắt thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu của con người ma
còn tạo ra những điều kiện để hoàn thiện cính bản thân con người.
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá trinh lao
động hàng triệu năm mới trở thành con người ngay nay và trong quá trình
đó,mỗi giai đoạn phát triến của con người lại làm tăng thêm sức chế ngự tự
nhiên,tăng thê động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy động lực ,mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển
bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người. Điều đó lí giải tại
sao con người được coi là nhân tố năng động nhất,quyết định nhất của sự phát
triển.
...............................................................................................................................................
3
3 _ Các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua một hệ thống các chỉ tiêu,
trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
3.1_Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ cuả dân cư
Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần chứ không phải đơn
thuần là không có bệnh tật. Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên
• Trình độ tay nghề theo bậc thợ
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau,
thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng
tập thể nguồn nhân lực.
3.4_ Chỉ số phát triển con người HDI
Chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện thông qua chỉ số phát triển
con người (HDI)
Chỉ số này được tính bởi 3 chỉ tiêu chủ yếu:
• Tuổi thọ trung bình
• Thu nhập trung bình đầu người (GDP/1 người)
• Trình độ học vấn ( tỉ lệ biết chữ và số còn đi học trung bình của dân
cư)
...............................................................................................................................................
5
Như vậy chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt
kinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng tiến bộ xã
hội
3.5_ Chỉ tiêu khác
Ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hóa được như trên người ta còn xem xét
chỉ tiêu năng lực phẩm chất của người lao động. Chỉ tiêu phản ánh mặt định tính
mà khó có thể định lượng được. Nội dung của chỉ tiêu này được xem xét thông
qua các mặt:
• Truyền thống dân tộc bảo vệ tổ quốc
• Truyền thống về văn hóa văn minh dân tộc
• Phong tục tập quán, lối sống
Nhìn chung chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí, năng lực tinh thần của người
lao động.
II_ Vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1 Quan điểm về đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư,là việc chi dùng vốn trong
đó có thể thấy rằng Người đã coi trọng sự nghiệp giáo dục đến mức nào,Người
còn giao nhiệm vụ cho các thế hệ trẻ nước nhà mai sau:”Non sông Việt Nam có
bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng với các cường quốc năm châu được
hay không.Chính là nhờ một phần ở công học tập ở các cháu”.
Vì nghiệp giáo dục là quốc sách hàng đầu.Hiểu rõ vai trò quan trọng của
giáo dục con người nên ngân sách đầu tư cho giáo dục không nhỏ.Hàng năm con
số đầu tư đó lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng,trường lơp có mặt ở khắp xã
...............................................................................................................................................
7
thôn,cơ sơ hạ tầng hàng năm đều được quan tâm.Vì lẽ đó hiện nay tỉ lệ người
bíêt chữ đã lớn hơn 95%.Đây cũng chính là con số mà những năm trước đây là tỉ
lệ dân mù chữ của nước ta.Những năm gần đây tỉ lệ học sinh các cấp đều tăng,cả
về số lượng và chất lượng giáo dục đều được nâng cao qua các năm.Nền kinh tế
tri thức đã được nhân dân ta quan tâm đúng mức. Đào tạo nguồn nhân lực là quá
trình trang thiết bị nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động,để họ
có thể đảm nhận được một công việc nhất định.Phát triển nguồn nhân lực bao
gồm các hoạt động học tập trang thiết bị kiến thức kĩ năng để cho người lao
động làm công việc khó khăn phức tạp hơn và để phát triển sự nghiệp của
mình.Để hoàn thành tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực cần phải có sự đầu tư
kĩ lưỡng về mọi mặt.Việc đầu tư cho giáo dục được thể hiện qua các mặt chính
sau:
2.1.1_ Về chương trình giảng dạy :
Chương trình giảng dạy thể hiện những nội dung sẽ được đưa vào nhà
trường nhằm nâng cao tri thức của mỗi người tham gia khóa học.Vì vậy chương
trình giảng dạy cần được coi trọng.Hiện nay ở Việt Nam thì chương trình học
được thể hiện rõ nét trong sách giáo khoa.
Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục
đích dạy và học.Thuật ngữ sách giáo khoa còn được hiểu là một loại sách chuẩn
cho ngành học.Sách giáo khoa được phân loại theo đối tượng sử dụng hoặc chủ
đề của sách.Việc xuất bản sách giáo khoa thường dành cho các nhà xuất bản
cao.
Phương pháp giáo dục (hay còn gọi là phương pháp dạy học, phương pháp
giảng dạy, giáo dục học, sư phạm) là cách thức sử dụng các nguồn lực trong
giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất để
giáo dục người học.
...............................................................................................................................................
9
Hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phương pháp giảng dạy khác
nhau như:
• Phương pháp giáo dục truyền thống: Giáo viên độc thoại, chủ động
truyền đạt kỹ năng còn người học tiếp thu một cách thụ động. Giáo viên làm
mẫu còn học viên làm theo.
• Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức
còn bản thân học viên tự tìm kiếm tri thức, tự hoạt động theo cách riêng độc lập
và sáng tạo.
• Phương pháp giáo dục thụ động: Giáo viên truyền đạt kiến thức, độc
thoại, phát vấn hay đặt câu hỏi, giáo viên áp đặt kiến thức có sẵn, còn học viên
thì học thuộc lòng và nhớ máy móc. Giáo viên độc quyền đánh giá cho điểm.
• Phương pháp giáo dục tích cực: Học viên tự tìm ra kiến thức bằng
hành động thao tác... giáo viên đối thoại với học viên, giáo viên hợp tác và trao
đổi với học viên và giáo viên khảng định kiến thức do hoc viên tìm ra. Học sinh
học cách học, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, cách sống và trưởng thành.
Học sinh tự đánh giá và điều chỉnh làm cơ sở cho giáo viên cho điểm cơ động.
Đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những điều kiện quyết định
đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước
hiện nay. Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Nhà nước ta rất quan tâm
tới việc bồi dưỡng, cập nhật, vận dụng các phương pháp giảng dạy mới trong
nhà trường.
2.1.3_ Chất lượng nhà trường nước ta:
Việt Nam đang trên con đường phát triển với nhiều biến đổi cả về chất và
- Tổ chức giảng dạy ,học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục
tiêu,chương trình giáo dục;
- Quản lý nhà giáo , cán bộ ,nhân viên;
...............................................................................................................................................
11
- Tuyển sinh và quản lý người học;
- Quản lý ,sử dụng đất đai ,trường sở ,trang thiet bị và tài chính theo quy
định của pháp luật;
- Phối hợp với gia đình người học , tổ chức , cá nhân trong hoạt động giáo
dục;
- Tổ chức cho nhà giáo ,cán bộ ,nhân viên và người học tham gia các hoạt
động xã hội;
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật;
Đặc điểm chung nhất cho các loại trường từ tiểu học cho đến đại học , các
học , viện nghiên cứu ở nước ta là: nhiều trường , nhiều trường lớn và đông, chất
lượng nhìn chung thấp.
Có thể thấy nhà nước ta rất quan tâm đến việc đầu tư naxây dựng cơ sở
giảng dạy .
2.2 _ Đầu tư y tế chăm sóc sức khỏe
Chăm sóc sức khỏe là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và
người sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ. Tuy nhiên, không giống
các loại dịch vụ khác, chăm sóc sức khỏe có một số đặc điểm riêng
1
, đó là:
Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở các
mức độ khác nhau. Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên
thường người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước
được.
Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh) thường không
tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết định. Nói
được chức năng của mình, thì thị trường phải có môi trường cạnh tranh hoàn
hảo, thông tin đẩy đủ và không bị ảnh hưởng bởi các thông tin ngoại lai….
Trong lĩnh vực y tế, cơ chế thị trường. Thị trường y tế không phải là thị trường
tự do. Trong thị trường tự do, giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự
thỏa thuận tự nguyện giữa người mua và người bán. Trong thị
...............................................................................................................................................
13
trường dịch vụ y tế không có sự thỏa thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết
định. Không thể vận dụng một cách hiệu quả.
Các nhà phân tích y tế đã thừa nhận trong thị trường y tế luôn tồn tại các
yếu tố: “thất bại thị trường” cụ thể là:
• Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất
định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế. Cụ thể,
muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảo
những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một cách khác, trong thị trường
y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo.
• Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ.
Như trên đã trình bày, trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và các
chỉ định điều trị, do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các quyết
định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do cung quyết
định). Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng
dịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế.
• Dịch vụ y tế là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng ” và mang
tính chất “ngoại lai”. Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích không
chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những người
không trả tiền (Ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe). Chính điều
này không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm việc cung ứng
các dịch vụ đó thấp. Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho cầu cần có sự
can thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế mang tính công
cộng.
bộ, nhằm từng bước nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống bệnh viện, cả
về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và phát triển chuyên môn kỹ thuật ngang tầm với
các nước trong khu vực.
Việc đầu tư xây dựng bệnh viên tổ chức tuyến điều trị theo ba cấp
độ chuyên môn như sau:
• Tuyến 1( tuyến chăm sóc sức khỏe cơ bản ban đầu hay tuyến
huyện): thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khỏe cơ bản, mang tính đa khoa;
...............................................................................................................................................
15
• Tuyến 2( tuyến tỉnh ): chăm sóc sức khoẻ với các kỹ thuật phức tạp
hơn, mang tính chuyên khoa chuyên ngành; là tuyến kỹ thuật cao hơn Tuyền 1
và tiếp nhận người bệnh do Tuyến 1 chuyên đến.
• Tuyến 3( tuyến trung ương ): tuyến cuối cùng trong bậc thang điều
trị, thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa sâu và tiếp nhận người bệnh từ tuyến
dưới chuyển đến.
Theo vùng lãnh thổ:
•Vùng I - Đồng bằng Sông Hồng: Hà Nội. Hải Phòng, bao gồm một số
BVĐK và chuyên khoa thuộc Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng và một số BV của Hà
Nội; một số BV của Hải Phòng (Việt - Tiệp, Phụ Sản, Nhi);
•Vùng II - Đông Bắc: Thái Nguyên và Quảng Ninh, bao gồm BVĐK TW
Thái Nguyên, BVĐK Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí và BVĐK tỉnh Quảng
Ninh;
•Vùng III - Tây Bắc : Hạt nhân là BVĐK tỉnh Sơn La;
•Vùng IV- Bắc Trung Bộ : Hạt nhân là BVTW Huế thuộc Bộ Y tế;
•Vùng V - Nam Trung Bộ : TP Đà Nẵng, TP Quy Nhơn, thành phố Nha
Trang;
•Vùng VI - Tây Nguyên: Hạt nhân là BVĐK tỉnh Đắk Lắk;
•Vùng VII: Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm các BV thuộc Bộ Y tế (Chợ
Rẫy, Răng Hàm Mặt, Thống nhất) và một số BVĐK và chuyên khoa của thành
phố Hồ Chí Minh: Phụ Sản Từ Dũ, Nhi đồng, Ung bướu, Chấn thương - Chỉnh
Xây dựng kế hoạch đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ sản xuất trang thiết
bị y tế mà trong nước có ưu thế. Trước hết tập trung sản xuất các thiết bị y tế
thông dụng phục vụ y tế cơ sở, chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình,
chăm sóc sức khỏe ban đầu, dụng cụ sử dụng một lần và các trang thiết bị phục
vụ y tế học đường và gia đình, người lao động.
Xây dựng quy chế nhằm tạo môi trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp, các
cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ thuộc các ngành, các địa phương tham
gia sản xuất trang thiết bị y tế. Khuyến khích dùng trang thiết bị y tế sản xuất
...............................................................................................................................................
17
trọng nước, giảm dần nhập khẩu, đến năm 2010 chỉ nhập khẩu những thiết bị y
tế chưa sản xuất được trong nước.
Từng bước xây dựng và đệ trình Nhà nước xem xét ban hành các chính sách
khuyến khích, ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất trang thiết bị y tế trong nước.
Có chính sách ưu tiên thích đáng trong việc cử cán bộ đi đào tạo về nghiên
cứu sản xuất trang thiết bị trong nước.
Thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh , xuất nhập khẩu trang thiết bị
y tế từ trung ương đến địa phương. Thiết lập hệ thống thanh tra, kiểm tra và
giám sát chất lượng trang thiết bị y tế đang lưu hành trên thị trường.
Có chính sách hỗ trợ về vốn và kỹ thuật cho các cơ sở thuộc thành phần
kinh tế nhà nước nhằm phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực kinh doanh trang
thiết bị y tế.
Tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế có thể tham gia hoạt động
kinh doanh trang thiết bị y tế theo quy định của Nhà nước và hướng dẫn của Bộ
y tế.
Bộ Y tế thành lập cơ sở nghiên cứu với sự tham gia của các cơ quan trực
thuộc Bộ Y tế, các cơ sở khoa học công nghệ, các nhà khoa học để nghiên cứu
khả năng ứng dụng những trang thiết' bị y tế, các phương pháp điều trị và chẩn
đoán mới xuất hiện trên thế giới để áp dụng có chọn lọc vào Việt Nam.
Có chính sách khuyến khích các nhà khoa học, các cơ sở khoa học và công
• Các bệnh có tỷ lệ chết cao nhất
……
...............................................................................................................................................
19
Các mô hình bệnh tật la thay đổi theo từng vùng và địa phương chính vì vậy
mà việc đầu tư nghiên cứu mô hình bệnh tật là rất tốn kém và cần phải được chú
trọng đầu tư.
Vấn đề về bảo hiểm y tê và bảo hiểm xã hội:
Bảo hiểm y tê: Chủ lao động đóng 2% còn người lao động dóng 1% trên
tổng số lương. Trong bảo hiểm y tế thì có bảo hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm
y tế bắt buộc
Theo nghị định 63/2005 của Chính Phủ ban hành ngày (1/7):
Nội dung nghị định nêu rõ, bệnh nhân được hỗ trợ một phần chi phí để
thanh toán các dịch vụ kỹ thuật cao như chẩn đoán hình ảnh, can thiệp tim mạch,
được thanh toán các chi phí điều trị do tai nạn giao thông xét theo nguyên nhân
bị tai nạn và được chi phí về phục hồi chức năng trong thời gian điều trị, khám
chữa bệnh.
Những người nghèo (theo tiêu chí người nghèo do nhà nước ban hành),
người có công với cách mạng, người đang sinh sống hoặc công tác ở vùng sâu,
vùng xa được thanh toán chi phí vận chuyển khi chuyển tuyến điều trị.
Ngoài ra, người tham gia bảo hiểm y tế sẽ được thanh toán 100% chi phí
khám chữa bệnh (trừ các dịch vụ kỹ thuật cao) thay vì chỉ được thanh toán 80%
tổng chi phí điều trị như hiện nay. Đồng thời, sẽ có nhiều phương thức thanh
toán bảo hiểm y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm và chủ
động cho các cơ sở khám chứa bệnh, trong đó có phương thức thanh toán theo
phí dịch vụ, theo định suất, thanh toán từng nhóm bệnh...
Bảo hiểm xã hội: Chủ lao động đóng 15% và người lao động đóng 5% trên
tổng số lương.
...............................................................................................................................................
20
cả những vấn đề về chính sách đối với người lao động như: vấn đề lao động và
nghỉ ngơi, vấn đề lao động nữ, vấn đề bồi dưỡng độc hại
2.3.2 _ Điều kiện lao động
Trong hoạt động sản xuất, người lao động phải làm việc trong một điệu
kiện nhất định, gọi chung là điều kiện lao động.
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế được
biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động,
quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong
không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với
người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người
trong quá trình lao động. Tình trạng tâm sinh lý của người lao động trong khi lao
động tại chỗ làm việc cũng được coi như một yếu tố gắn liền mới điều kiện lao
động
Việc đánh giá, phân tích điều kiện lao động cần phải tiến hành đồng thời
trong mối quan hệ tác động qua lại của các yếu tố nói trên và sự ảnh hưởng, tác
động của chúng đến người lao động như thế nào? Từ đó mới có thể có được
những kết luận chính về điều kiện lao động ở cơ sở đó và có các biện pháp phù
hợp nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ sức khoẻ người lao động.
2.3.3 _ Tai nạn lao động
Là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do kết quả của sự tác động đột
ngột từ bên ngoài của các yếu tố nguy hiểm có thể gây chết người hoặc làm tổn
thương hoặc làm phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận
...............................................................................................................................................
22
nào đó trên cơ thể. Khi người lao động bị nhiễm độc đột ngột một lượng lớn
chất độc gây chết người hoặc huỷ hoại chức năng hoạt động của một bộ phận cơ
thể ( nhiễm độc cấp tính) cũng được coi là tai nạn lao động. Tai nạn lao động
được chia làm 3 loại : Tai nạn lao động chết người, Tai nạn lao động nặng,Tai
nạn lao động nhẹ.Tai nạn lao động không chỉ ảnh hưởng đến tài sản vật chất mà
còn ảnh hưởng đến tinh thần của người lao động, gián tiếp ảnh hưởng đến năng
Mức lương tối thiểu hiện nay ở nước ta như thế nào? Nó đã đáp ứng đựơc
nhu cầu thiết yếu của người lao động? Thực trạng của việc thực hiện các công
việc liên quan tới tiền lương trong các doanh nghịêp cũng như trong toàn bộ nền
kinh tế đang được triển khai như thế nào? Những thụân lợi, cũng như hạn chế
mà ta đẫ nhận được là gì? Bên cạnh đó là những giải pháp để hoàn chỉnh vấn đề
tiền lương …Tất cả được trình bày lần lượt ở các mục sau:
Đối với người lao động, tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ,
phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã hội. Phấn đấu nâng
cao TL là mục đích của hết thảy mọi người lao động. Mục đich này tạo ra động
lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình.
Còn đối với doanh nghiệp, TL là một phần chi phí cấu thành chi phí sản
xuất của doanh nghiệp. Tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấu
thành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp toạ ra. Các doanh nghiệp sử
dụng tiền lương để làm đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần tích cực lao
động, là nhân tố thúc đẩy để phát triển năng suất lao động.
Để có được cơ chế trả lương xứng đáng cho người lao động cũng như phù
hợp với từng doanh nghiệp thì cần co nhiều sự điều chỉnh xuyên suốt từ các cấp
cao đến từng cấp ngành cơ sở, địa phương.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC VIÊT NAM
I_ Thực trạng đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
...............................................................................................................................................
24
1_ Đầu tư giáo dục – Đào tạo nguồn nhân lực
Lâu nay những người am hiểu về giáo dục nước nhà vẫn thường nhắc đến
một khái niệm không hề có trong từ điển là "giáo dục ảo" để nói về thực trạng
giáo dục nước ta hiện nay. Vậy phải chăng "giáo dục ảo" chính là yếu tố tạo nên
cái "thực" của chất lượng giáo dục hiện nay?
Giáo sư Phạm Minh Hạc khi bàn về vấn đề chất lượng giáo dục đã nhấn
mạnh: "Chất lượng giáo dục là vấn đề số một của sự nghiệp giáo dục. Hiện ở