BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ CẤP TRƯỜNG
“ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY – HỌC
PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4”
PHẦN I: NHẬN THỨC – THỰC TRẠNG
Dân tộc Việt Nam ta có một nền văn hóa, một bề dày lịch sử lâu đời .Đó là
những ngày đầu của vua Hùng dựng nước cho đến những năm tháng đấu tranh giữ
nước và xây dựng Tổ quốc. Từng chặng đường, từng giai đoạn đã ghi lại những
mốc son chói lọi, là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam. Ai đã đi qua những
chặng đường ấy luôn cảm thấy yêu quê hương và con người Việt Nam biết chừng
nào. Thế hệ trẻ hôm nay sẽ viết tiếp những trang sử vàng cho dân tộc bằng tài
năng, trí tuệ và nhiệt huyết của mình. Để làm được điều đó, trước hết các em phải
yêu thích lịch sử quê hương, bởi vì “ Yêu Sử chính là làm cho tâm hồn ta luôn
hướng về đất nước”.
Ngay từ bậc tiểu học ở lớp 4 các em đã được học lịch sử qua một phân môn
rõ rệt mà không lồng ghép chung với bất cứ phân môn nào. Trong chương trình
Lịch sử lớp 4 giúp các em có những kiến thức cơ bản, thiết thực về những sự kiện,
nhân vật lịch sử tiêu biểu, phản ánh những vấn đế về sự phát triển các giai đoạn
lịch sử, những thành tự trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta
khoảng 700 năm trước Công Nguyên đến buổi đầu thời Nguyễn năm 1858.
Nội dung chương trình Lịch sử lớp 4 gồm 8 giai đoạn:
1. Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng 700 năm TCN đến năm 179). Gồm 2
bài.
2. Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập (Từ năm 179 TCN đến năm
938). Gồm 4 bài, trong đó có 1 bài ôn tập.
3. Buổi đầu đọc lập. (Từ năm 938 đến năm 1009). Gồm 2 bài.
4. Nước Đại Việt thời Lý. (Từ năm 1009 đến năm 1226). Gồm 3 bài.
5. Nước Đại Việt thời Trần. (Từ năm 1226 đến năm 1400). Gồm 4 bài.
6. Nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê (Thế kỉ XV). Gồm 5 bài, trong đó có 1 bài
ôn tập.
7. Nước Đại Việt thế kỉ XVI – XVII. Gồm 6 bài.
dựa vào các câu hỏi trong sách giáo khoa ở giữa bài và cuối bài chuẩn
bị hệ thống câu hỏi phù hợp, vừa sức giúp cho các em phát huy khả năng nói.
Ví dụ ở bài: “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyến lãnh đạo (năm 938)”.
Các em muốn biết nguyên nhân nào có trận Bạch Đằng , thì các em phải đọc
thầm kênh chữ nhỏ và nắm được thông tin ở đầu bài …
Hoặc bài: “Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân” .
Để biết được tình hình nước ta sau khi Ngô Quyền mất, các em đọc thầm
kênh chữ nhỏ nắm chắc nội dung kênh chữ sau đó trả lời câu hỏi:
Sau khi Ngô Quyền mất tình hình nước ta như thế nào ? (Sau khi Ngô
Quyền mất triều đình lục đục, tranh nhau ngai vàng… ).
Hay bài: “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)”. Giúp học sinh ghi nhớ
nguyên nhân Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Giáo viên đọc cho học sinh nghe 1
số câu thơ: “Giận thay Tô Định bạo tàn. Nay ta dấy nghĩa diệt loài sói lang ! Một
xin rửa sạch nước thù. Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. Ba kẻo oan ức lòng
chồng . Bốn xin vẹn vẹn sở công lệnh này”.
2. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong kĩ năng quan sát và kể
lại, trình bày lại diễn biến cuộc kháng chiến qua bản đồ , lược đồ, …
Qua 3 bài đầu của môn Lịch sử - Địa lí đã hướng dẫn cho các em kĩ năng
quan sát, chỉ, mô tả, kể những sự kiện lịch sử trên bản đồ, lược đồ. Vì vậy, một số
bài có bản đồ, lược đồ, giáo viên cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, dễ cho học sinh
quan sát. Phóng to để hấp dẫn, thu hút sự chú ý, giúp các em có ấn tượng sâu sắc
và không bị quên lãng khi học xong.
Giáo viên chuẩn bị một hệ thống câu hỏi phù hợp, vừa sức, giúp các em phát
huy kĩ năng nói, khả năng diễn đạt khi kể hoặc trình bày, diễn biến theo bản đồ
hoặc lược đồ.
Ví dụ bài: “Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất
(năm 981)”. Để học sinh trình bày được diễn biến cuộc kháng chiến,
tôi xây dựng câu hỏi như sau:
1. Quân Tống xâm lược nước ta vào thời gian nào?
2. Chúng tiến vào nước ta theo mấy đường, là những đường nào?
phân tích qua tranh ảnh (làm bài tập trắc nghiệm) để hiểu và nhớ thời gian
lịch sử, sự kiện và nhân vật lịch sử.
Các bài Lịch sử lớp 4 đa số bài nào cũng có kênh hình minh họa giúp học
sinh hình dung rõ hơn các sự kiện lịch sử của từng giai đoạn lịch sử. Giáo viên
nắm vững kiến thức lịch sử để qua các hình ảnh giới thiệu cho học sinh. Các em
bằng cặp mắt quan sát, óc phân tích của mình, các em sẽ mô tả, trình bày, nêu nội
dung tranh, làm bài tập, …từ đó giúp các em ghi nhớ sâu sắc những hình ảnh của
lịch sử để lại.
Ví dụ bài: Trịnh – Nguyễn phân tranh . Các em quan sát lược đồ để biết được
địa phận Bắc triều – Nam triều và Đàng Trong, Đàng Ngoài, sông Gianh là nơi
chia cắt đất nước (thế kỉ XVI).
Bài : “Quang Trung đại phá quân Thanh (năm 1789)”. Yêu cầu dựa vào
lược đồ hình 1 Hãy kể lại trận Ngọc Hồi, Đống Đa .
Hay bài: “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)” . Các em quan sát lược đồ
hình 1 và nêu nội dung tranh (Vẽ cảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận).
4. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh qua các hình thức tự học
tập và đánh giá.
Muốn học sinh nhớ lâu và không bị sai lệch thời gian, nhân vật, sự kiện lịch
sử thì giáo viên phải tổ chức nhiều hình thức học tập, các hình thức vừa mang tính
khoa học, mềm dẻo, vừa mang tính thực tế sâu sắc. Phối hợp các hình thức khác
nhau để gây hứng thú cho học sinh trong giờ học. Phát huy tính độc lập suy nghĩ,
sáng tạo, mạnh dạn trình bày ý kiến riêng, hăng hái và biết bảo vệ ý kiến của mình
đồng thời biết lắng nghe ý kiến người khác, chia sẻ, hợp tác công việc với bạn.
Ví dụ bài: “Nước ta cuối thời Trần”.
Câu hỏi giữa bài: Tình hình nước ta cuối thời Trần như thế nào ?
Giáo viên cho học sinh làm bài tập : Viết tiếp vào chỗ chấm trong các câu sau
đây cho đủ ý về tình hình nước ta cuối thời Trần:
- Vua quan …………………………(1).
- Những kẻ có quyền thế…………………… (2) của dân để làm giàu.
- Đời sống của nhân dân………………………(3).
no ; từ miền núi chật hẹp) vào chỗ trống để hoàn chỉnh đoạn văn nói về suy nghĩ
của vua Lý Thái Tổ khi quyết định dời đô về thành Đại La.
Vua thấy đây là vùng đất (1) đất rộng lại bằng
phẳng (2) vì ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi. Càng nghĩ, vua
càng tin rằng muốn cho con cháu đời sau xây dựng được
(3) thì phải dời đô (4) Hoa Lư về vùng đất đồng bằng rộng lớn
màu mỡ này.
Các bước tiến hành:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc kênh chữ SGK, thảo luận nhóm đôi suy nghĩ tìm từ
thích hợp điền vào chỗ ….sao cho phù hợp
- Bước 2: Yêu cầu trình bày các ý, các em khác nhận xét.
- Bước 3: Nhận xét, tuyên dương nhóm làm đúng.
Cách học này tạo cho các em ý thức học tập tích cực.
Hoặc bài: « Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân ».
Để học sinh trả lời đúng câu hỏi giữa bài và ghi nhớ những việc Đinh Bộ
Lĩnh đã làm được. Tôi xây dựng câu hỏi như sau :
- Những việc Đinh Bộ Lĩnh đã làm được là :
a. Thống nhất giang sơn lên ngôi Hoàng Đế.
b. Chấm dứt thời kì đô hộ phong kiến phương bắc, mở đầu cho thời kì độc lập dân
tộc lâu dài của đất nước ta.
c. Đánh tan quân xâm lược Nam Hán.
d. Đặt tên nước là Đại Cồ Việt.
Tôi tiến hành các bước sau:
- Bước 1: Yêu cầu đọc kênh chữ SGK, thảo luận nhóm đôi suy nghĩ tìm ý đúng.
- Bước 2: Yêu cầu trình bày các ý, các em khác nhận xét.
- Bước 3: Nhận xét, tuyên dương nhóm làm đúng.
Cách làm này kích thích trí óc tìm kiếm suy luận, tư duy tưởng tượng của
học sinh giúp các em nhớ lại, nhớ lâu, nhớ chính xác các sự kiện lịch sử đã diễn ra.
Tạo cho các em ý thức học tập tích cực tinh thần hợp tác giúp đỡ lẫn nhau.
Và còn vận dụng nhiều phương pháp khác nữa, nó đem lại cho các em lòng
Người viết
Bùi Gia Hùng