BỘ GIÁO GIỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HỮU QUY
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP
ĐỒNG ĐẠI LÝ TẠI CTY CP PHẦN MỀM DOANH
NGHIỆP NHẬT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011 BỘ GIÁO GIỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
tôi thực hiện bài viết của mình. Thứ đến tôi xin chân thành cám ơn các Quý
cộng sự trong Công ty CP Phần Mềm Doanh Nghiệp Nhật Nam đã cùng tôi
bàn luận về những vấn đề thực trạng và hướng giáp cho các vấn đề đó.
Xin chân thành cám ơn!
NHẬN XÉT & XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Nhận xét:
TP. Hồ Chí Minh, ngày .tháng năm 2011
Xác nhận của đơn vị thực tập
Điểm tổng cộng (1) + (2) + (3)…………………………
Tp.HCM, ngày …… tháng … năm 2011
Người hướng dẫn thực tập
TH.S VÕ PHƯỚC LONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT KINH TẾ
PHIẾU CHẤM ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN THỨ 2
Sinh viên thực tập: NGUYỄN HỮU QUY
Mã số sinh viên: 33101027635
Lớp : Luật kinh doanh Khóa : 13 Hệ : Văn bằng 2 – chính quy
Đơn vị thực tập: CTY CP PHẦN MỀM DOANH NGHIỆP NHẬT NAM
Đề tài nghiên cứu:
TÊN ĐỀ “CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ TẠI
CTY CP PHẦN MỀM DOANH NGHIỆP NHẬT NAM”
Nhận xétchung:
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
1.2.4 Nội dung giao kết hợp đồng đại lý 13
1.2.5 Hình thức giao kết hợp đồng đại lý 14
1.2.6 Trình tự thủ tục giao kết hợp đồng đại lý 15
1.3 Thực hiện hợp đồng đại lý 16
1.3.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng đại lý 16
1.3.2 Các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng đại lý 17
1.4 Sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng đại lý. 18
1.5 Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng 19
1.5.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng 19
1.5.2 Phạt vi phạm 20
1.5.3 Bồi thường thiệt hại 21
1.5.4 Tạm ngừng thực hiện hợp đồng 22
1.5.5 Đình chỉ thực hiện hợp đồng 22
1.5.6 Huỷ bỏ hợp đồng 23
1.6 Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý 23
1.6.1 Giải quyết bằng thương lượng 24
1.6.2 Giải quyết bằng hoà giải 24
1.6.3 Giải quyết bằng trọng tài 24
1.6.4 Giải quyết bằng toà án 26
CHƢƠNG 2. THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG ĐẠI
LÝ TẠI CÔNG TY 30
2.1 Khái quát về hoạt động đại lý tại công ty 30
2.2 Quy trình phát triển đại lý 32
2.3 Những nội dung cơ bản trong giao kết hợp đồng đại lý 33
2.3.1 Điều khoản điều kiện đại lý 33
2.3.2 Điều khoản chi phí giá cả 33
2.3.3 Điều khoản hoa hồng và thanh toán 33
2.3.4 Điều khoản Quyền và nghĩa vụ của đại lý 34
2.3.5 Điều khoản Quyền và nghĩa vụ của Nhật Nam 34
2.3.6 Điều khoản xử lý tranh chấp 35
cho thấy nếu có một hợp đồng đại lý hoàn thiện quy định rõ ràng quyền và
nghĩa vụ các bên cũng như cách thức giải quyết khi có tranh chấp xẩy ra thì
tôi tin rằng sẽ có thể tăng doanh thu từ kênh bán hàng này từ việc những
người tham gia đại lý thấy được sự tương xứng những mặt lợi cũng như trách
nhiệm của mình trong hợp tác kinh doanh.
Vì những lợi ích có thể mang lại trong tương lai từ lý do đã nêu trên, tôi quyết
định chọn đề tài “Chế độ pháp lý và thực tiễn tại về hợp đồng đại lý Công ty
CP Phần Mềm Doanh Nghiệp Nhật Nam”. Tôi hy vọng, kết quả của việc
nghiên cứu này mang lại lợi ích cho bản thân tôi trong việc tìm hiểu và nghiên
cứu luật pháp và có thể giúp Nhật Nam tốt hơn trong hoạt động kinh doanh từ
đại lý.
Mục tiêu nghiên cứu hay các câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu của khóa luận này nhằm đánh giá sự hợp lý giữa hợp đồng đại lý của
Công ty Nhật Nam mới các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng đại
lý. Từ đó, tìm ra sự hạn chế (nếu có) và kiến nghị bổ sung sửa đổi về hợp
đồng đại lý của Nhật Nam. Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu hướng tới
tìm hiểu về sự hoàn thiện về các quy định hiện hành đối với pháp luật về hợp
đồng đại lý.
2
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sẽ trả lời các câu hỏi sau đây:
Câu hỏi 1: Hoạt động đại lý của doanh nghiệp có thực hiện theo các quy định
hiện hành về đại lý hay không?
Câu hỏi 2: Những vấn đề pháp lý gì cần sửa đổi và bổ sung trong việc soạn
thảo và thực hiện hợp đồng đại lý của doanh nghiệp?
Phƣơng pháp và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: so sánh đối chiếu giữa hợp đồng đại lý với các quy
định hiện hành, từ đó tìm thấy sự phù hợp và không phù hợp giữa Hợp đồng
đại lý của Nhật Nam với pháp luật hiện hành.
Phạm vi nghiên cứu: Nội dung pháp luật về Hợp đồng đại lý của Nhật Nam,
xuất phát từ ý chí chủ quan của các bên muốn tham gia vào quan hệ hợp đồng
trong đó các bên ràng buộc với nhau bởi quyền và nghĩa vụ đối ứng của bên
còn lại để đạt được mục đích mà các bên hướng tới.
Trong hoạt động dân sự có nhiều mục đích khác nhau mà các bên muốn
hướng tới bao gồm mục đích phi lợi nhuận và mục đích lợi nhuận. Ứng với
mỗi hình thức khác nhau sẽ có một loại hợp đồng tương ứng và các quy định
pháp luật đi kèm để điều chỉnh quan hệ đó bằng pháp luật. Trong đề tài này
tập trung vào hợp đồng đại lý trong hoạt động thương mại. 1
Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, Đại học Luật TP.HCM, tr. 8.
4
1.1.2 Bản chất của hợp đồng
Như đã được thể hiện trong khái niệm hợp đồng, bản chất của hợp đồng được
tạo nên bởi hai yếu tố pháp lý là sự thỏa thuận và sự ràng buộc pháp lý giữa các
bên.
1.1.2.1 Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên
Hợp đồng là một giao dịch có nhiều bên tham gia để tạo lập sự ràng buộc
pháp lý với nhau dựa trên sự cam kết, thỏa thuận. Bởi vậy, mặc dù trong luật
thực định và trong lý luận có nhiều định nghĩa khác nhau về hợp đồng, nhưng
chung qui lại, tất cả các định nghĩa đó đều thể hiện một quan điểm nhất quán
là luôn xem sự thỏa thuận giữa các bên là một trong các yếu tố thể hiện bản
chất của hợp đồng.
Yếu tố thỏa thuận vừa là nguồn gốc, vừa là cơ sở nền tảng tạo nên hợp đồng. Không
có hợp đồng nào mà không do thỏa thuận và không có hợp đồng nào được tạo ra mà
thiếu yếu tố thỏa thuận. Bởi vậy, do đó tiền đề của hợp đồng là sự thỏa thuận.
Trên phương diện pháp lý, để có thể hình thành nên hợp đồng, pháp luật quy
định các bên tham gia cùng thương lượng, trao đổi, bàn bạc để đi đến sự nhất
qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các cam kết đó không phải là hợp
đồng. Quan điểm của các luật gia cũng thừa nhận đây chỉ là những thỏa thuận
tư nhân nhằm “thừa nhận một qui chế pháp định”, chấp nhận thực hiện các
nghĩa vụ “luật định sẵn”, chứ không phải là hợp đồng.
Vì vậy, mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng không phải sự
thỏa thuận nào của các bên cũng là hợp đồng. Chỉ những thỏa thuận tạo ra
một sự ràng buộc pháp lý mới được coi là hợp đồng. Bởi vậy, “sự thỏa thuận”
và “sự tạo ra một ràng buộc pháp lý” là hai dấu hiệu cơ bản tạo nên bản chất
của hợp đồng. Nghiên cứu bản chất hợp đồng là tiền đề lý luận để xác định
các điều kiện có hiệu lực (hay tính hợp pháp) của hợp đồng, nguyên tắc tự do
hợp đồng, giá trị pháp lý của hợp đồng, trình tự giao kết hợp đồng, thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng và các vấn đề pháp lý quan trọng khác của chế định
hợp đồng, đặc biệt là hiệu lực hợp đồng.
1.1.3 Hợp đồng đại lý là gì
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thương Mại 2005 định nghĩa về hoạt động
thương mại như sau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
6
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.” Theo quy định
định này cho thấy hoạt động nào nhằm mục đích sinh lợi thì thuộc hoạt động
thương mại và thuộc điều chỉnh của Luật Thương Mại 2005. Vì vậy hoạt động
đại lý cũng là một hoạt động sinh lợi vì vậy hoạt động này thuộc phạm vi điều
chỉnh của Luật Thương mại 2005.
Theo Điều 166 Luật Thương mại 2005 định nghĩa đại lý thương mại như sau:
“Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên
đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá
cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách
hàng để hưởng thù lao.” Mục đích của bên giao đại lý là làm sao tiêu thụ
được sản phẩm dịch vụ của mình thông qua đại lý để thu về tiền bán hàng
định là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho khách
hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định cho bên đại lý.
4. Trường hợp các bên không có thoả thuận về mức thù lao đại lý thì mức thù
lao được tính như sau:
a) Mức thù lao thực tế mà các bên đã được trả trước đó;
b) Trường hợp không áp dụng được điểm a khoản này thì mức thù lao đại lý là
mức thù lao trung bình được áp dụng cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ mà bên
giao đại lý đã trả cho các đại lý khác;
c) Trường hợp không áp dụng được điểm a và điểm b khoản này thì mức thù
lao đại lý là mức thù lao thông thường được áp dụng cho cùng loại hàng hoá,
dịch vụ trên thị trường.
1.1.4 Các hình thức đại lý
Phương thức đại lý có một số khác biệt căn bản với các phương thức khác.
Bên đại lý không phải là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ của bên giao đại lý.
Hàng hoá, dịch vụ được giao cho bên đại lý để cung cấp cho người thứ ba
nhưng khi giao hàng thì hàng hoá, dịch vụ vẫn thuộc sở hữu của bên đại lý
nếu không có thoả thuận khác. Như vậy, đại lý là trung gian giữa người mua
và người bán.
Bên giao đại lý được hưởng thù lao từ bên giao đại lý qua việc bán hàng, cung
cấp dịch vụ, khoản thù lao này chủ yếu dưới hình thức là hoa hồng. Như vậy,
số tiền thù lao này cao hay thấp phụ thuộc vào số lượng hàng hoá, dịch vụ
tiêu thụ của bên đại lý. Ngoài ra để khuyến khích các đại lý bên giao đại lý
còn có các phần thưởng, sự hỗ trợ để các đại lý hoạt động tốt. Bên đại lý phải
thoả mãn cơ sở vật chất cũng như kênh phân phối sản phẩm và các điều kiện
8
khác nếu có, vì đại lý với tư cách là người đại diện của bên giao đại lý đối với
khách hàng, họ phải bảo đảm được uy tín và hình ảnh của bên giao đại lý đối
với khách hàng.
Trong thực tế hoạt động có nhiều hình thức đại lý khác nhau như:
Điều 389 Bộ luật Dân sự năm 2005, nên việc giao kết hợp đồng dân sự phải
tuân theo các nguyên tắc sau đây:
Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
2
Bộ luật Dân sự quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhằm
tạo điều kiện cho các chủ thể có thể thoả mãn nhu cầu vật chất cũng như tinh
thần. Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện
tư cách chủ thể đều có thể tham gia giao kết bất kỳ một giao dịch/ hợp đồng
dân sự nào, nếu muốn. Tuy nhiên, hợp đồng chỉ có hiệu lực pháp luạt, được
pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí của các bên giao kết hợp đồng phù
hợp với ý chí của nhà nước. Hay nói cách khác, sự tư do ý chí giao kết hợp
đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định – giới hạn
lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng.
Nếu để các bên tự do vô hạn, thì hợp đồng dân sự sẽ trở thành phương tiện để
kể giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung của xã hội.
Vì vậy, phải đi xa hơn nữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của nhà nước
vào các quan hệ pháp luật tư, các việc dân sự… không được bỏ qua một khả
năng tối thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ dân
luật. Chính vì vậy, trong xã hội ta – xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung của
toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xã hội không cho phép bất cứ cá
nhân, tổ chức nào được lợi dụng ý chí tự do để biến những hợp đồng dân sự
thành phương tiện bóc lột. Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của mình, các chủ
thể phải chú ý tới quyền, lợi ích của người khác, của toàn xã hội; tự do của
mỗi chủ thể không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Lợi ích của cộng đồng,
của toàn xã hội được quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới
hạn cho sự tự do ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng nói
riêng, và trong mọi hành vi của chủ thể nói chung.
hay bị đe doạ
4
đều không đáp ứng được nguyên tắc
tự nguyện khi giao kết và do đó bị vô hiệu.
Tóm lại, việc phân loại hợp đồng và xác định các nguyên tắc khi giao kết hợp
đồng có một ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tiễn áp
dụng chế định hợp đồng, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình điều 3
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai
lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đó xác lập giao dịch đó.
4
Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện
giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của
cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.
11
chỉnh các quan hệ hợp đồng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu nó một
cách chi tiết, khoa học vấn đề này luôn được đặt ra nhằm ngày càng làm hoàn
thiện hơn các quy định pháp luật về hợp đồng, giúp các chủ thể có thể tự bảo
đảm được lợi ích cá nhân cũng như lợi ích cộng đồng khi tham gia giao kết
hợp đồng.
1.2.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng hợp đồng thƣơng mại
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động
thương mại
5
: Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước
pháp luật trong hoạt động thương mại. Nguyên tắc này cho phép mọi thương
nhân đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia vào thương mại. Pháp
Điều 12 Luật Thương mại 2005
12
thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải
biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật” các thói quen đã được
các bên thiết lập là những hành vi mà những giao dịch trước đây đã sử dụng
và điều trở thành thông lệ của các chủ thể nếu các bên không thỏa thuận điều
này khi giao kết các giao dịch tiếp theo thì hiển nhiên được áp dụng những
thông lệ trước đây của các chủ thể.
Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại
8
: Tập quán thương
mại là những thông lệ được sử dụng trong quan hệ buôn bán. Trong buôn bán
quốc tế, tập quan thương mại có tác dụng không những giải thích những điều
khoản của hợp đồng, mà còn hướng dẫn việc thực hiện các hợp đồng đó và bổ
sung cho hợp đồng những điều khoản mà các bên chưa quy định hoặc quy
định chưa cụ thể. Tập quan thương mại có thể là tập quán ngành (của một
ngành cụ thể), tập quán địa phương, tập quán chung của cả nước hay tập quán
quốc tế.
9
Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng
10
: Nguyên tắc này
hướng đến bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cuối cùng. Trong hoạt động vị
lợi của mình, đôi khi các thương nhân bất chấp các thủ đoạn của mình để đạt
được mục đích sẽ xâm hại đến lợi ích của người tiêu dùng như hàng gian,
hàng giả, hàng kém phẩm chất.
1.2.3 Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý
uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ. Bên đại lý là thương
nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua
hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ.
Điều 167. Bên giao đại lý, bên đại lý
1. Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền
mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho
đại lý cung ứng dịch vụ.
2. Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua
hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ.
1.2.4 Nội dung giao kết hợp đồng đại lý
Theo LTM2005 không quy định nội dung giao kết của hợp đồng đại lý
thương mại, nhưng trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của các bên, chúng ta có thể
khái quát nội dung giao kết thành các điều khoản sau.
* Điều khoản chủ yếu: Đây là những điều khoản bắt buộc không thể
thiếu trong hợp đồng. Nếu thiếu một trong các điều khoản này thì hợp đồng
không có giá trị pháp lý. Các điều khoản chủ yếu gồm các điều kiện sau:
Họ tên và địa chỉ pháp lý của các bên giao kết hợp đồng thương mại.
14
Hàng hoá dịch vụ mà các bên thoả thuận làm đại lý.
Chủng loại hàng hoá các bên thoả thuận đại lý.
Phương thức đại lý
Thời hạn phương thức và điạ điểm giao hàng.
Giá cả và chiết khấu.
Thù lao đại lý
Phương thức và địa điểm thanh toán.
Chế độ thưởng phạt và bồi thường thiệt hại.
Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng.
* Điều khoản tuỳ nghi: là những điều khoản mà các bên thoả thuận với
nhau trong khuôn khổ pháp luật và không trái với đạo đức xã hội. Khi một
bằng văn bản. Còn theo Công ước Viên 1980 thì quy định hợp đồng không bị
giới hạn bởi hình thức, miễn là các bên có thể chứng minh hợp đồng đã được
giao kết.
1.2.6 Trình tự thủ tục giao kết hợp đồng đại lý
Bất cứ loại hợp đồng nào cũng phải được giao kết theo một trình tự thủ tục
nhất định, đó là các cách thức, các bước mà các bên phải tiến hành nhằm xác
lập một quan hệ hợp đồng có giá trị pháp lý. Trong hoạt động thương mại tồn
tại hai hình thức giao kết hợp đồng, giao kết trực tiếp và giao kết gián tiếp.
* Giao kết trực tiếp: là trường hợp đại diện của các bên trực tiếp gặp gỡ
nhau và cùng trao đổi với nhau về các điều khoản trong hợp đồng. Sau khi
trao đổi bàn bạc kỹ lưỡng các bên đi đến thống nhất các nội dung và tiến hành
ký kết hợp đồng. Hiện nay hình thức này là hình thức giao kết nhanh chóng
và hiệu quả nhất. Trong hoạt động thương mại, những hợp đồng quan trọng
các bên thường trực tiếp gặp gỡ nhau rồi tiến hành đàm phán đi đến kí hợp
đồng.
* Giao kết gián tiếp: là phương thức giao kết mà theo đó các bên gửi
cho nhau văn bản, tài liệu giao dịch (công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn
đặt hàng) chứa đựng các nội dung giao dịch. Quá trình giao kết gián tiếp
thường trải qua hai giai đoạn.
- Giai đoạn một: Một bên đề nghị hợp đồng thông báo ý định giao kết
cho bên mời giao kết. Trong đề nghị đưa ra phải đưa ra đầy đủ các nội dung
16
định giao dịch. Lời đề nghị này phải rõ ràng chính xác tránh gây hiểu lầm cho
bên kia.
- Giai đoạn hai: Bên được đề nghị sau khi nhận được văn bản tài liệu
giao dịch tiến hành xem xét kiểm tra các nội dung nghi trong tài liệu. Sau khi
tìm hiểu kĩ các nội dung sẽ trả lời cho bên đề nghị biết có đồng ý hay không
đồng ý với những nội dung trong tài liệu. Nếu đồng ý một số nội dung và bổ
xung thêm nội dung mới thì coi như một đề nghị giao kết mới. Bên dược đề
3. Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền,
lợi ích hợp pháp của người khác.
1.3.2 Các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng đại lý
Các biện pháp bảo đảm được quy định hết sức cụ thể trong bộ luật dân sự.
Theo điều 324 BLDS 005 có các biện pháp sau:
Cầm cố tài sản: Là dùng tài sản thuộc quyền sở hửu của mình để đảm
bảo cho việc thực hiện hợp đồng. Việc cầm cố tài sản phải lập thành
văn bản. Người giữ vật cầm cố phải có nghĩa vụ bảo quản, không được
bán, tặng, cho thuê, cho mượn, trao đổi tài sản cầm cố trong thời hạn
văn bản cầm cố tài sản còn hiệu lực.
Thế chấp tài sản: là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở
hữu của mình để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng. Bên thế chấp
tài sản phải có nghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của tài sản, không được
chuyển dịch quyền tài sản cho người khác trong thời hạn văn bản thế
chấp có hiệu lực pháp lý.
Bảo lãnh tài sản: là sự bảo đảm tài sản thuộc quyền sở hữu của người
nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệm về tài sản thay cho người được bảo
lãnh khi người này vi phạm hợp đồng đã giao kết. Người nhận bảo lãnh
phải có tài sản không ít hơn giá trị hợp đồng được bảo lãnh.
Đặt cọc: là trường hợp một bên gaio cho bên kia một tài sản (tiền, kim
khí quý, ) để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng.
Ngoài các hình thức trên trong Bộ luật dân sự còn có các hình thức
khác như là: kí cược, kí quỹ, phạt vị phạm và các hình thức khác theo
thoả thuận của các bên.