BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP-ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC TOÁN 5 GIÚP HỌC SINH KHÁM PHÁ KIẾN THỨC MỚI - Pdf 27

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ SƠ ĐỒ
TƯ DUY TRONG DẠY HỌC TOÁN 5 GIÚP HỌC SINH
KHÁM PHÁ KIẾN THỨC MỚI
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài

Trong thư Bác Hồ gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa Bác đã viết : “ Non sông Việt Nam có nên tươi đẹp
hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với được các cường quốc năm châu
được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Đúng
thật vậy muốn trẻ em trở thành chủ nhân tương lai của đất nước thì chúng ta
phải đào tạo được những thế hệ tiếp nối có trình có trình độ khoa học kĩ thuật
tiên tiến vì vậy người học sinh phải có cơ sở kiến thức khoa học. Bởi khoa học
là chìa khóa mở đường cho con người đi vào tất cả các lĩnh vực khác.
Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế khoa học xã hội phát triển không
ngừng. Đòi hỏi ngành Giáo dục phải đầu tư hơn và luôn đổi mới phương pháp
dạy học để đào tạo lực lượng kế thừa và có khả năng tiếp cận với sự phát triển đi
lên của toàn xã hội. Vì thế, trong mỗi năm học ngành giáo dục đều có từng chủ
đề riêng cho từng năm học cũng là nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng đổi thay
của xã hội. Muốn cho nền giáo dục của nước nhà theo kịp nền giáo dục của các
nước tiên tiến trên thế giới thì ngành giáo dục cần đào tạo ra nhiều nhân tài nhân
lực phục vụ chbo nước nhà sao cho phù hợp với sự phát triển xã hội. Vậy muốn
đào tạo tốt lực lượng kế thừa thì những người làm công tác giáo dục phải luôn
biết đổi mới các phương pháp dạy học và ứng dụng những gì mới nhất phù hợp
với việc dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Vì vậy, người giáo viên
phải biết vận dụng những cái mới cái hay vào dạy học trong đó ứng dụng Công
nghệ thông tin và sơ đồ tư duy vào giảng dạy.
1. Cơ sở lý luận :
Như chúng đã biết, thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có
tính chất khuynh đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những
thành tựu của công nghệ thông tin. CNTT đã góp phần quan trọng cho việc tạo

phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân làm cho CNTT”
+Chỉ thị số 40/CT-TW của Ban chấp hành TW Đảng ra ngày 15/6/2004 về việc
xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã
nêu rõ:
- Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học toán nhằm "Tích cực áp dụng
một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng công nghệ
thông tin vào hoạt động dạy và học.":
Chúng ta đã biết môn toán là một bộ môn vốn dĩ có mỗi liên hệ mật thiết
với tin học. Toán học chứa đựng nhiều yếu tố để phục vụ nhiệm vụ giáo dục tin
học, ngược lại tin học sẽ là một công cụ đắc lực cho quá trình dạy học toán. Các
kiến thức, kĩ năng của môn Toán có nhiều ứng dụng trong đời sống chúng rất
cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu
học và chuẩn bị cho việc học tốt môn toán ở bậc trung học. Giúp học sinh nhận
biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện
thực. Nhờ đó mà học sinh có được phương pháp nhận thức một số mặt của thế
giới xưng quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong học tập và trong đời
sống. Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, phương pháp giải quyết vấn đề ; góp phần phát triển trí thông minh , cách
suy nghĩ dộp lập , linh hoạt; khả năng ứng xử và giải quyết những tình huống 2
nảy sinh trong học tập và trong cuộc sống ; nhờ đó mà hình thành và phát triển
cho HS các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động mới, tư duy
cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực như: trừu tượng hoá, khái quát hoá, khả
năng phân tích tổng hợp, so sánh, dự đoán, chứng minh.
- Môn Toán còn góp phần giáo dục lý trí và những đức tính tốt như: trung thực,
cần cù, chịu khó, ý thức vượt khó khăn, tìm tòi sáng tạo và nhiều kỹ năng tính
toán cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp
cho con người lao động trong thời đại mới. Vì thế với sự hỗ trợ các phần mềm

bảng, xử lý đồ hoạ một sát thực sự thay đổi trong cách chính xác và liên kết 3
chúng với nhau. Việc cho thay đổi một vài thành phần và qua các thành phần
còn lại đã giúp học sinh phát hiện ra mối tương quan giữa các đại lượng.
* Thao tác với các hình động: Giáo viên có thể sử dụng CNTT để biểu diễn các
biểu đồ một cách sinh động. Việc đó đã giúp cho người học hình dung ra các
hình hình học một cách tổng quát từ hình ảnh của máy tính.
* Khai thác tìm kiếm thông tin: CNTT cho phép GV sử dụng làm việc trực tiếp
với các dữ liệu thực, từ đó hình dung ra sự đa dạng của nó và sử dụng để phân
tích hay làm sáng tỏ một vấn đề toán học.
* Dạy học với máy tính: Khi giáo viên thiết kế toán để giúp học sinh tìm ra kết
quả thì học sinh phải hoàn thành dãy các chỉ thị mệnh lệnh một cách rõ ràng,
chính xác. Vì họ đã sắp đặt các suy nghĩ của mình cũng như các ý tưởng một
cách rõ ràng.
* Sử dùng đồ hoạ với máy tính: Đồ thị trên máy tính là nét mới trong các lớp
dạy học toán.
Đổi mới phương pháp dạy học toán phải đi đôi với đổi mới mục tiêu, nội
dung, phương pháp kiểm tra đánh giá, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học …
ở mỗi địa phương , mỗi trường , mỗi lớp học , tùy điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
để xác định mức độ , cách thức đổi mới phương pháp dạy học toán theo khả
năng và sự cố gắng của mình. Tại trường Tiểu học Xuyên Mộc tôi đang dạy thì
cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học …tương đối đầy đủ thuận lợi cho chúng
tôi áp dụng vào việc dạy học. Hiện nay tại trường Tiểu học Xuyên Mộc của
chúng tôi đã được trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối mạng Internet và
máy quét hình (Scanner), Tin học được giảng dạy chính thức, tạo cơ sở hạ tầng
CNTT cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình. Công nghệ thông
tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy
học.

+ Phướng pháp lấy tư liệu :
- Tư liệu về CNTT tương đối rộng. Tư liệu là những thông tin rút ra từ tài
liệu in ấn, từ bạn bè, từ đồng nghiệp viết tay, sách, internet…
+ phương pháp thực nghiệm :
- Đây là phương pháp thực hành bắt tay vào soạn giảng bằng công nghệ
thông tin. Phải thực hành soạn thử dạy thử nhiều lần trước khi lên lớp. từ
thử nghiệm GV nắm bắt được các phương pháp cần đưa vào bài giảng
giúp cho học sinh cách học, cách tự học và có nhu cầu tự học, trong hoạt
động và bằng hoạt động tự giác , tích cực và sáng tạo được thực hiện động
lập hoặc trong giao lưu.
+ Phương pháp kế thừa
- Nhằm phát huy những mặt tích cực của các phương pháp dạy học truyền
thống ; đồng thời tiếp thu có chọn lọc những phương pháp dạy học mới ,
ứng dụng công nghệ thông tin và sơ đồ tư duy đối với các dạng toán
trong đó tiêu biểu là dạng toán có yếu tố hình học thì CNTT sẽ giúp GV
hướng dẫn nhận biết các yếu tố hình học một cách sinh động và hiệu
quả. Sau mỗi tiết dạy có ứng dụng CNTT tôi thấy học sinh như hiểu bài
sâu hơn, nhớ bài chính xác đến từng chi tiết nhỏ mà các em đã quan sát
được qua các slide mà cô đã trình chiếu trong tiết dạy.
+ Phương pháp đàm thoại vấn đáp khi dùng sơ đồ tư duy để dạy toán sẽ giúp
học sinh:
- Sáng tạo hơn.
- Tiết kiệm thời gian.
- Ghi nhớ tốt hơn. 5
- Nhìn thấy kiến thức tổng thể.
- Tổ chức và phân loại phương pháp giải tốt hơn.
+ Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

Đối tượng nghiên cứu:
- Tham khảo Các bài dạy bằng công nghệ thông tin và sơ đồ tư duy trên
mạng Intennet, của bạn bè đồng nghiệp, các bài dạy từ các hội thảo
chuyên đề các cấp đã tổ chức. 6
- Tìm cách đưa các bài dạy có ứng dụng công nghệ thông tin và sơ đồ tư
duy vào dạy học toán. Phải đưa vào bài dạy như thế nào cho phù hợp với
nội dung bài dạy.
- Khi soạn bài có ứng dụng CNTT và sơ đồ tư duy cần chú ý các đặc tính
cơ bản sau:
- Cần tạo ra một môi trường học tập hoàn toàn mới mà trong môi trường
này tính chủ động, sáng tạo của học sinh được phát triển tốt nhất. Học
sinh có điều kiện phát huy khả năng phân tích, suy đoán và xử lý thông tin
một cách có hiệu quả.
- Cung cấp một môi trường cho phép đa dạng hoá mối quan hệ tương tác
hai chiều giữa thầy và trò.
- Tạo ra một môi trường dạy và học linh hoạt, có tính mở. Trong các hình
thức tổ chức dạy - học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin thì vai trò của
người thầy đặc biệt quan trọng. Nó đòi hỏi cao hơn ở người thầy khả năng
các hình thức tổ chức dạy học truyền thống. Về một góc độ nào đó, năng
lực của người thầy thể hiện qua hệ thống định hướng giúp học sinh phát
hiện và giải quyết vấn đề thông qua hệ thống các câu hỏi.
- Hệ thống các câu hỏi của người thầy phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Các câu hỏi phải mang tính gợi mở, định hướng giúp cho học sinh con
đường xử lý thông tin để đi đến kiến thức mới.
- Các câu hỏi phải trợ giúp học sinh củng cố kiến thức mới và tăng cường
khả năng vận dụng kiến thức trong thực hành.
- Các câu hỏi phải có tính mở để khuyến khích học sinh phát huy tính sáng

cách sáng tạo.
B . NỘI DUNG
V. Kế hoạch thực hiện :
- Thực kế hoạch bắt đầu từ năm học 2009 đến nay.
- Hình thức này được áp dụng với quy mô số học sinh từ 25 đến 40 HS . Ngoài
các phương tiện dạy học thông thường của một lớp học truyền thống như bảng
đen, phấn trắng, thước kẻ do tôi chủ nhiệm. một số tiết dạy tôi đã đưa vào lớp
học máy tính, máy chiếu. Trong giờ học, cả lớp quan sát kết quả xử lý của máy
tính trên màn hình lớn.
- Kế hoạch soạn bài toán mà mình nuốn dạy bằng CNTT.
- Nghiên cứu kỹ bài trước khi soạn.
- Nghiên cứu các tình huống có thể xẩy ra khi dạy toán.
- Tìm tài liệu minh họa cho bài dạy.
- Định hình trước thiết kế các slide cho tiết học toán của lớp.
- Sử dụng nhiều các phần mềm chuyên dụng làm các thí nghiệm ảo, lồng
ghép phim ảnh minh họa.
- Chịu khó thu thập tư liệu cho môn toán.
- Vận hết thế mạnh của các loại hiệu ứng trong PowePoint.
Có thể tóm tắt quá trình tìm tòi khám phá kiến thức trên CNTT bằng sơ
đồ sau:
Kiến thức Dự đoán
Kiểm
nghiệm
Điều chỉnh
Kiến thức
mới
Ngoài ra chúng ta có thể vận dụng sơ đồ tu duy cuả thầy Nguyễn Chí Thanh vào
đổi mới trong dạy học toán nhằm hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh phương pháp
giải toán lôgich:


9
Các dạng bài tập
Bài tập cơ bản
Học sinh phân tích đề, tự phát
hiện phương pháp qui về các
bài tốn đã biết cách giải.
Cho học sinh phát hiện ra những vấn đề chưa rõ và xem đó là vấn đề cần
được giải quyết trong tiết học đó.
Sau đó GV dùng câu gợi mở hỏi học sinh:
+ 1 giờ người đo ùđi được bao nhiêu km?
(1 giờ người đó đi được 4km)
+ 2 giờ người đó đi được bao nhiêu km?
(2 giờ người đó đi được 8 km)
+ 2 giờ gấp mấy lần 1 giờ?
(2 giờ gấp 1 giờ 2 lần)
+ 8km gấp mấy lần 4 km?
(8km gấp 4 km 2 lần)
+ Như vậy thời gian đi gấp lên 2 lần thì quãng đường đi được gấp lên mấy
lần? (Thời gian đi gấp lên 2 lần thì quãng đường đi được gấp lên 2 lần)
Hướng dẫn tương tự 3 giờ so với 1 giờ, 12km so với 4 km.
+ Qua ví dụ trên, nêu quan hệ giữa thời gian đi và quãng đường đi được?
(Khi thời gian gấp lên bao nhiêu lần thì quãng đường cũng gấp lên bấy nhiêu
lần)
Bước 3: Tổng hợp, so sánh và đề xuất ý tưởng:
Từ những vướng mắc cần giải quyết ở trên, cho học sinh độc lập suy nghĩ
hoặc thảo luận nhóm để đưa ra các ý tưởng giải quyết vấn đề. Giáo viên nhận
xét, bổ sung thêm để hình thành ý tưởng chung.
Bài toán
-Yêu cầu học sinh đọc đề bài toán.
+Bài toán cho em biết những gì?

được gấp mấy lần quãng đường 2
giờ đi được? Vì sao?
+Vậy 4 giờ đi được bao nhiêu km?
+Làm thế nào để tìm quãng đường
ô tô đi trong 4 giờ?
GV: Bước tìm xem 4 giờ gấp 2 giờ
mấy lần được gọi là bước tìm tỉ số
- 4 giờ gấp 2 giờ mấy lần.
-Quãng đường 4 giờ đi được sẽ gấp 2 lần
quãng đường 2 giờ đi được, vì khi gấp
thời gian lên bao nhiêu lần thì quãng
đường đi được cũng gấp lên bấy nhiêu
lần.
-Trong 4 giờ đi được:
90
×
2=180(km)
+Chúng ta đã:
-Lấy 90 nhân với số lần tìm được.
-Học sinh trình bày bài giải.
H ướ ng dẫn cách giải 3 :
Ngồi 2 cách giải trên ta còn có giải khác :
Nhận xét bài tốn có mấy đại lượng (3 đại lượng)
(Khi thời gian gấp lên bao nhiêu lần thì quãng đường cũng gấp lên bấy nhiêu
lần)
GV kết ln: Dạng tốn đại lượng tỷ lệ thuận :
Quan sát cách giải 1 rút ra cách giải dùng qui tắc tam thức để giải.
Giao việc cho HS làm thế nào để đưa về cách giải ngắn gọn nhất :
Trong 4 giờ đi được:
90 : 2 x 4 =180(km)

Đại lượng thứ hai : đại lượng thứ
nhất x đại lượng thứ ba
Toán đại lượng tỉ lệ
thuận
tỷ lệ thuận
Tương tự cách làm này chúng ta hướng dẫn học sinh cách giải dạng toán đại
lượng tỉ lệ nghịch tuần 4 : Ôn tập và bổ sung về giải toán (tiếp theo trang 20)
Bước 6: Rút ra kiến thức mới:
Sau khi kiểm tra và khẳng định giả thuyết đó là đúng, Giáo viên cho học
sinh phân tích tìm ra kết luận chung về kiến thức, kĩ năng mới.
I/- Mục đích yêu cầu :
Giúp học sinh:
- Biết một dạng quan hệ tỷ lệ (đại lượng gấp lên bao nhiêu lần thì đại lượng
tương ứng cũng gấp lên bấy nhiêu lần).
- Biết giải bài toán liên quan đến quan hệ tỉ lệ này bằng một trong hai cách “Rút
về đơn vị” hoặc tìm tỉ số.
- Với dạng bài có yếu hình học không gian tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin
để áp dụng vào bài dạy của mình nhằm giúp học tiếp nhận kiến thức tích cực
qua khai triển hình cụ thể trên từng slide.
Sử dụng phương tiện công nghệ thông tin dạy trọn vẹn
một tiết học 14
đại lượng thứ
hai giảm
đại lượng thứ
nhất tăng
đại lượng thứ
hai giảm

sát hàm số, dựng hình, quỹ tích mà nếu không sử dụng máy vi
tính thì không thể nào mô tả được với chức năng siêu liên kết
(Hyperlink) cho phép ta kết nối các Slide của bài giảng thành
một hệ thống, từ một vị trí ta có thể truy nhập đến bất kỳ một
nội dung (một Slide) nào khác trong bài giảng. Mặt khác, ta có
thể kết nối hàng loạt các bài giảng với nhau thành một hệ thống
hoàn chỉnh để giảng dạy một vấn đề, một chương. Vì giáo án
điện tử tích hợp sẵn một khối lượng kiến thức được liên kết sẵn
cho phép người giáo viên ôn tập đến phần nào, giáo viên kích
chuột vào tên mục để chuyển đến slide nội dung của mục đó.
Với giáo án điện tử này tiến trình lên lớp rất linh hoạt, tiến trình
ôn tập có thể rẽ nhánh, triển khai đi sâu vào những nội dung
chi tiết, quay lui chuyển về những nội dung đã trình bày Hơn
nữa, khối lượng kiến thức được ôn tập lại trong một tiết rất lớn
và giáo viên tiết kiệm được thời gian để viết kẻ, vẽ lên bảng.
Nhờ sự hỗ trợ của máy tính và giáo án điện tử, giờ ôn tập
chương không còn là cảnh giáo viên liệt kê lại nội dung đã học
mà nó là quá trình làm việc tích cực của trò dưới sự dẫn dắt của 15
thầy. Việc làm việc với "cây" kiến thức góp phần phát triển tư
duy lơgic, biện chứng cho học sinh. Tuy nhiên giáo án điện tử
được thiết kế theo một kịch bản của người giáo viên dự định
trước nên việc đưa ra các tình huống là hữu hạn, các giải pháp
đáp ứng u cầu cố định, trong đó thực tế rất đa dạng và phong
phú. Vậy giáo viên cần phối hợp với các phương pháp, hình thức
dạy học khác để phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của
người học nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Quy trình thiết kế một giáo án điện tử:

Slide 5
Phương pháp quan sát:
- Hình thành kiến thức, kĩ năng mới. 19
- Xây dựng thái độ, niềm tin cho học sinh.
- Rèn luyện khả năng tư duy, năng lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề.
Slide 6
Slide 7
Slide 8
Sử dụng phương pháp đàm thoại:
- Trả lời câu hỏi và đặt câu hỏi. 20
- Lập bảng, biểu đồ, sơ đồ, phân tích dữ kiện.
- Thảo luận vấn đề nêu ra, đề xuất giả thuyết.
- Thông báo kết quả, kiểm định kết quả.
- Đưa ra giải pháp, kiến thức mới.
Slide 9 21
Slide 10
Slide 11 22
Slide 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status