MỐI LIÊN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
__
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
PHÒNG ĐT SĐH-KHCN&QHĐN
MỐI LIÊN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC TỰ
NHIÊN
Tiểu Luận Môn Học
Triết Học
HVTH: Huỳnh Văn Trận
MSHV: CH1301066
GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
TP HỒ CHÍ MINH – Tháng 8/2014
2
Mở đầu
Giới thiệu
Triết học và khoa học tự nhiên là hai lĩnh vực cùng tồn tại trong thế giới quan, có
mối quan hệ mật thiết với nhau, chứng minh bổ sung cho nhau. triết học duy vật biện
chứng tìm thấy ở khoa học tự nhiên những cơ sở khoa học vững chắc để khái quát nên
những nguyên lý, quy luật chung nhất của mình, còn khoa học tự nhiên lại tìm thấy
trong triết học duy vật biện chứng thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn, sắc bén
để đi sâu nghiên cứu giới tự nhiên. Việc nghiên cứu và nắm vững mối quan hệ này sẽ
giúp cho chúng ta hiểu được quy luật phát triển của tự nhiên, dựa vào đó chúng ta áp
dụng nó vào thực tiển cuộc sống.
Mục Đích
Để hiểu được triết học và khoa học gắng bó mật thiết như thế nào trong thế giới
quan. Chúng ta sẽ tìm hiểu phân tích thật kỹ những mối liên hệ này bằng những ví dụ
thực tế … Từ đó sử dụng những mối quan hệ này trong thực tiển để mang lại lợi ích
cho con người.
Bố cục
Trong bài báo cáo này sẽ trình bày những phần:
Phần giới thiệu: giới thiệu tổng quan về mối liên hệ giữa triết học và khoa học tự

hơn, những hiểu biết về những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội ngày một phát
triển, các nguyên lý, các lý thuyết về thiên văn học, toán học, vật lý, hoá học,… dần
dần được tích luỹ với những phát triển của khoa học triết học nói chung và khoa học
cụ thể nói riêng. Thực tế đã cho thấy, càng đi sâu vào nghiên cứu các hiện tượng khác
nhau của tự nhiên, khoa học tự nhiên càng vấp phải nhiều vấn đề mà tự nó không giải
quyết được vì những vấn đề đó tuy gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên nhưng lại
là những vấn đề triết học. Điều này đã được A. Einstein khẳng định: "Những khó
4
khăn mà vật lý hiện nay đang vấp phải trong lĩnh vực của mình đã buộc ông ta phải
đề cập đến những vấn đề triết học nhiều hơn so với các nhà vật lý của các thế hệ
trước".
Quan hệ giữa triết học với khoa học tự nhiên, với các khoa học chuyên biệt
nói chung trải qua quá trình lịch sử lâu dài. Vào thời cổ đại, do trình độ nhận thức
còn đang ở điểm xuất phát, tri thức khoa học còn ở tình trạng tản mạn, sơ khai, nên
triết học hầu như là dạng thức lý luận duy nhất, bao trùm, giải quyết tất cả các vấn đề
về tự nhiên, xã hội và tư duy, mà lúc ấy thực ra cũng chỉ là những phác thảo sơ lược,
chưa thấy cụ thể, chưa hoàn thiện. Tính bao trùm ấy của tri thức triết học khiến nó
được xem như "môn khoa học đặc biệt đứng trên tất cả các môn khoa học khác".
Quan niệm này tồn tại khá lâu trong lịch sử và Ph. Ăngghen đã gọi hệ thống Hegel là
"cái thai đẻ non cuối cùng" theo nghĩa này. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, cùng với
quá trình chuyên biệt hoá tri thức, triết học, xét về tính chất của nó không còn đóng
vai trò là "khoa học của các khoa học" nữa (nghĩa trực tiếp). Trong thời đại của
chúng ta các nhà khoa học có thể trở thành những triết gia, chứ không phải ngược lại.
Ý tưởng "triết học – khoa học của các khoa học" biểu thịmột truyền thống, hơn là
thực chất của vấn đề.
Ngày nay, đứng trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ, thì những khái niệm, những phạm trù, những tư tưởng, những phương
pháp nghiên cứu mới không ngừng ra đời. Mặt khác, cuộc cách mạng ấy cũng đang
đặt ra hàng loạt vấn đề về phong thái tư duy khoa khọc, về những bước phát triển
mới của nhận thức, của khoa học trong tương lai. Và đứng trước những đổi thay lớn

những cuộc tranh luận ngày càng gay gắt về sự nhận thức của con người đối với thế
giới. Chính điều này đã buộc các nhà khoa học tự nhiên phải tìm đến với một thế giới
quan triết học đúng đắn để từ đó lý giải những vấn đề cụ thể trong lý thuyết khoa học
của mình. Như Albert Einstein đã viết: "Các kết quả nghiên cứu khoa học thường gây
nên những sự thay đổi trong các quan điểm triết học đối với những vấn đề vượt ra
ngoài phạm vi của những lĩnh vực rất hạn chế của bản thân khoa học”.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học duy vật biện chứng và khoa học tự
nhiên chẳng những giúp cho các nhà triết học hiểu biết thêm những tri thức về khoa
học tự nhiên mà còn làm cho họ thấy rõ được cơ sở khoa học chính xác, khách quan
để triết học dựa vào đó khái quát thành những nguyên lý, những quy luật và những
phạm trù triết học. Đồng thời, nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học với khoa học tự
nhiên đã giúp cho các nhà khoa học tự nhiên nhận thức và vận dụng một cách đúng
6
đắn, sáng tạo thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học vào
quá trình nghiên cứu khoa học tự nhiên, làm cho họ luôn luôn ý thức được rằng, chỉ
có cho mình một phương pháp biện chứng duy vật thì họ mới có thể tiến xa hơn, đi
sâu hơn vào các lĩnh vực mà họ đang và sẽ nghiên cứu. Khi đưa ra nhận định về con
đường phát triển phức tạp của vật lý học V.I.Lênin đã viết: “Vật lý học hiện đại đang
và sẽ đi, nhưng nó đi tới phương pháp duy nhất đúng, đi tới triết học duy nhất đúng
của khoa học tự nhiên, không phải bằng con đường thẳng, mà bằng con đường khúc
khuỷu, không phải tự giác mà tự phát, không nhìn thấy rõ "mục đích cuối cùng" của
mình, mà đi đến mục đích đó một cách mò mẫm, ngập ngừng và thậm chí đôi khi giật
lùi nữa. Vật lý học hiện đại đang nằm trên giường đẻ. Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy
vật biện chứng. Một cuộc sinh đẻ đau đớn. Kèm theo sinh vật sống và có sức sống,
không tránh khỏi một vài sản phẩm chết, một vài thứ cặn bả nào đó phải vứt vào sọt
rác. Toàn bộ chủ nghĩa duy tâm vật lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê phán,
cũng như thuyết kinh nghiệm tượng trưng, v.v… đều thuộc những thứ cặn bả phải vứt
bỏ đi ấy”.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên còn góp cho con
người thấy rõ được nguồn gốc chung của sự nảy sinh triết học và khoa học tự nhiên

sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của kinh tế, kỹ thuật, mỗi ngành đều để lại dấu
ấn của mình lên các trang vàng của lịch sử, nhất là từ nửa sau thế kỷ XIX. Trong vật
lý học, R. Kirchhoff (1824-1887) xác lập phương pháp phân tích quang phổ,
Emanuel Clausius (1822-1888) phổ biến thuyết cơ học về nhiệt và đưa khái niệm
entropy vào môn vật lý, Michael Faraday (1791 - 1867) đưa ra thuyết trường điện từ,
sau đó J. Maxwell (1831-1879) xây dựng thuyết điện từ và ánh sáng. Trong hoá học,
D. Mendeleev (1834-1907) tìm ra quy luật tuần hoàn của các nguyên tố hoá học,
Alecxandro Mikhailovich Butlerop (1828-1886) xây dựng học thuyết cấu trúc hoá
học các tổ hợp hữu cơ. Trong sinh vật học, E. Haeckel (1834-1919) hoàn thiện thuyết
phát triển và tiến hoá, Luis Pasteur (1822-1895) đạt được những thành quả bước đầu
ởlĩnh vực vi sinh.
Những thành tựu của khoa học tự nhiên nêu trên đã chứng minh được tính
chất biện chứng của các quá trình diễn ra trong tự nhiên. Chính sự phát triển của khoa
học tự nhiên, những thành tựu mới nhất của nó đã khiến cho phương pháp tư duy siêu
hình cần phải được thay thế. Theo Ph. Ăngghen, sự phát triển của khoa học tự nhiên,
những thành tựu mới nhất của nó từ thế kỷ XVI trở đi cho thấy tính tất yếu của tư
duy biện chứng, và chứng tỏ rằng, trong tự nhiên không có những phạm trù và những
quan hệ bất biến. Cũng chính từ việc khẳng định về tính tất yếu của tư duy biện
8
chứng như đã nêu trên nó giúp chúng ta đi tới khẳng định: phép biện chứng chính là
cơ sở phương pháp luận đối với khoa học tự nhiên, giúp các nhà khoa học khắc phục
những hạn chếtrong khi tiếp cận với các vấn đềlý luận chung. Điều này đã được
Ph.Ăngghen luận giải: "Phép biện chứng là một hình thức tư duy quan trọng nhất đối
với khoa học tự nhiên hiện đại, bởi vì chỉ có nó mới có thể đem lại sự tương đồng và
do đó đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong giới tự
nhiên, giải thích những mối liên hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnh vực
nghiên cứu này sang một lĩnh vực nghiên cứu khác".
Rõ ràng các nhà khoa học trước hết là những người đang phải giải quyết
những vấn đề cơ bản, những vấn đề có tính chất nền tảng của khoa học, dù muốn hay
không cũng buộc phải tìm đến triết học. Nhưng triết học, như chúng ta đã biết, có

thành tựu mới nhất của khoa học trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm và đưa khoa
học tự nhiên đi lệch sang phía chủ nghĩa duy tâm. Đây chính là lực cản của sự phát
triển khoa học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Slides bài giảng Triết Học – TS. Bùi Văn Mưa
[2] GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC - BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - Hà Nội - 2005
[3] MỐI QUAN HỆGIỮA TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỚI KHOA HỌC
TỰNHIÊN - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG -
SỐ5(40).2010
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status