TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA KINH TẾ
MÔN: CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN NGHÀNH
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn:
Trần Trọng Tín
Sinh viên thực hiện:
Lê Thị Kim Ngân
MSSV: 1254020016
Lớp: Đại học Kế Toán
Khóa 5
Hậu Giang, tháng 3 năm 2015
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
2.1 Tỷ giá ngoại tệ trong giai đoạn 2010 -2014 7
DANH MỤC HÌNH
Số hiệu hình vẽ Tên Trang
1 Số liệu xuất nhập khẩu Việt nam trong giai
đoạn 2010 - 2014 5
2 Thống kê Kiều hối trong giai đoạn 2010 -
2014 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam đã mất 11 năm để chuẩn bị gia nhập WTO, bao gồm 8 năm đàm phán.
Ban Công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam được thành lập ngày
31/1/1995 và đã gặp nhau 14 lần kể từ tháng 7/1998 tới tháng 10/2006. Và Việt
Nam gia nhập WTO chính thức năm 2006, là thành viên thứ 150. Từ sự kiện
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu của tác giả ở chủ đề này là sự ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ lên nền
kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2014
2.2. Mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất là thực trạng tình hình các hoạt động thu về ngoại tệ như: xuất nhập
khẩu hàng hóa, kiều hối để xác định lượng ngoại tệ trao đổi giữa nước ta với các
nước trên thế giới, cụ thể là giữa USD và VND.
Thứ hai là từ thực trạng đó, tác giả sẽ phân tích sự tác động của tỷ giá đến lượng
ngoại tệ thu chi từ việc xuất nhập khẩu hàng hóa, kiều hối. Cũng như sự ảnh
hưởng tích cực và tiêu cực của tỷ giá như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam.
Cuối cùng tác giả sẽ nêu ra những giải pháp thích hợp cho những ảnh hưởng
xấu của tỷ giá ngoại tệ đối với nền kinh tế Việt Nam
3. Giới hạn nghiên cứu
3.1. Nội dung nghiên cứu:
Tác giả chú trọng nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tỷ giá USD/VND lên nền
kinh tế của nước ta. Từ những số liệu ngoại tệ thu vào và chi ra có bởi các hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hóa, kiều hối, sau quá trình phân tích sẽ nêu rõ ảnh
hưởng của tỷ giá đối với nền kinh tế, cuối cùng sẽ nêu ra những giải pháp thích
hợp.
3.2. Thời gian nghiên cứu:
Từ ngày 28/3/2015 – đến ngày 12/3/2015
3.3. Vùng nghiên cứu:
Thành phố Cần Thơ
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1.1. Kiều hối:
Phương pháp yết giá trực tiếp: lấy ngoại tệ làm đơn vị so sánh vơi đồng tiền
trong nước.
Phương pháp yết giá gián tiếp: lấy tiền trong nước làm đơn vị so sánh với tiền
nước ngoài.
Phân loại:
Căn cứ vào ý nghĩa và tác động của tỷ giá hối đoái thì chia làm 3 loại:
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: là tỷ giá hối đoái được công bố trên các phương tiện
thông tin đại chúng. Mức tỷ giá hối đoái này được xác định dựa trên mức tỷ giá
hối đoái do Ngân hàng Nhà Nước xác định.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đc sử dụng phổ biến trong các hợp đồng mua bán
thương mại, thanh toán tín dụng, hợp tác đầu tư và là mức tỷ giá được sử dụng
trong việc phân tích tác động của tỷ giá đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia,
cũng như khu vực và toàn bộ nền kinh tế thế giới.
Tỷ giá hối đoái thực tế: là loại tỷ giá hối đoái được sử dụng để điều hành chính
sách của Chính Phủ trong việc kiểm soát tiền tệ và điều hành thị trường ngoại
hối, được xác định dựa trên mức tỷ giá hối đoái danh nghĩa và mức chỉ số giá
trong nước và chỉ số giá quốc tế.
Tỷ giá hối đoái thục tế = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa × chỉ số giá quốc tế / tỷ số
giá trong nước
Chỉ số giá(%)= Tỷ lệ lạm phát (%) + 100%
Tỷ giá hối đoái ngang giá sức mua: được xác định bằng tỷ lệ giữa giá trị (chi phí
sản xuất, giá thành hoặc giá cả) của cùng một lượng hàng hóa đó tính bằng đồng
ngoại tệ ở thị trường nước ngoài.
Để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia và xuất khẩu thì mức tỷ giá hối
đoái danh nghĩa áp dụng trên thị trường cần phải cao hơn mức tỷ giá ngang giá
sức mua. [4]
Chế độ tỷ giá hối đoái:
Chế độ tỷ giá hối đoái nói đơn giản là cách mà một đất nước quản lý đồng tiền
của mình, nó liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường
ngoại hối.
những thông tin cần thiết cho thị trường hoạt động đúng hướng. Đó là vì đồng
tiền không còn thể hiện giá trị thị trường thực của chúng. Sự che đậy thông tin
này tạo ra tính không chắc chắn, kích thích các kẻ đầu cơ "tấn công" các đồng
tiền cố định và nhiều nước sẽ mất sạch cả dự trữ ngoại hối khi cố gắng bảo vệ
đồng tiền của mình chứ không chịu để nó mất giá. Thái Lan trong cuộc khủng
hoảng tài chính châu Á là một trường hợp như vậy.
Và chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai
chế độ thả nổi và cố định. Mặc dù lý thuyết nói chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tốt
hơn, nhưng trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả nổi hoàn toàn, vì
nó quá bất ổn định. Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, song
việc thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định
tương đối khó khăn và tốn kém, và trên hết là chế độ này làm cho chính sách
tiền tệ trở nên vô hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thế giới sử
dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Hầu hết các đồng tiền trên thế giới sử dụng
chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không hoàn toàn
phản ứng theo thị trường. [5]
1.1.2. Lý thuyết nghiên cứu
Trên lý thuyết, tỷ giá ngoại tệ tác động đến nhiều vấn đề của nền kinh tế Việt
Nam như lạm phát, cán cân thương mại, đầu tư từ nước ngoài, vân vân. Và từ
những con số thống kê được trong thực tiễn những hoạt động thu về ngoại tệ
của nước ta, sẽ xác định lại một lần nữa tác động tích cực, tiêu cực của tỷ giá
ngoại tệ đến nền kinh tế.
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:
Phương pháp thu thập dữ liệu chính là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp.
2.1.2. Phương pháp phân tích
Sử dụng phương pháp phân tích đa biến giữa ba hay nhiều biến số với nhau.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG THU VỀ NGOẠI
TỆ CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010 -2014
Có rất nhiều hoạt động thu về ngoại tệ cho nền kinh tế nước ta nhưng do thời
ngoài, vân vân.
Nhưng từ hai nguồn thu vào mà tác giả phân tích thì có chung đặc điểm là mỗi
năm lượng ngoại tệ mỗi tăng, điều này như đã nói từ phần mở đầu, lượng ngoại
tệ tăng đồng nghĩa với tác động của nó lên nền kinh tế cũng ngày càng lớn.
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ QUA
THỰC TRẠNG THU CHI NGOẠI TỆ CỦA VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN 2010 - 2014
3.1. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN GÂY BIẾN ĐỘNG CHO TỶ GIÁ
NGOẠI TỆ:
3.1.1: Tỷ giá ngoại tệ biến động qua các năm:
Để tiện phân tích tác động của tỷ giá ngoại tệ đối với việc xuất nhập khẩu tác
giả xin thống kê một số tỷ giá ngoại tệ bình quân liên ngân hàng của Ngân hàng
Nhà Nước, ở 6 tháng cuối mỗi năm giữa các năm trong giai đoạn với nhau như
sau:
Bảng 2.1: Tỷ giá ngoại tệ trong giai đoạn 2010 -2014
Với bảng này, ta dễ dàng nhận ra tỷ giá ngoại tệ USD/VND ngày càng cao.
Cũng đồng nghĩa việc để đổi 1 USD ở năm 2010 chỉ mất 18.544 VND nhưng
đến năm 2014 thì phải mất đến 21.246 VND.
Nếu bỏ qua tất cả vấn đề khác như kết quả, nguyên nhân, hệ lụy, vân vân, thì ta
nhận ra rằng đồng tiền của nước ta đang dần mất giá. Hay nói cách khác hàng
hóa chúng ta dần ‘rẻ hóa’
Tôi sẽ chứng minh điều này qua một bài toán đơn giản sau:
Nểu chúng ta bán một món hàng trị giá 18.544 VND ở năm 2010 thì sẽ bằng 1
USD. Còn ở năm 2014 thì 1 USD sẽ mua được món hàng 21.246 VND, vậy ở
món hàng giá trị 18.544 VND thì sẽ chưa mất đến 1 USD để mua.
3.1.2. Nguyên nhân tăng giảm tỷ giá:
Tác giả xin nêu những nguyên nhân chính cho việc tỷ giá giữa USD/VND đang
tăng dần theo thời gian.
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
USD/VND 18.544 20.618 20.828 21.036 21.246
ngân hàng Singapore SIBID
Cần lưu ý rằng, chênh lệch lãi suất có tác động tới sự biến động của tỷ giá
nhưng đó chỉ là sự tác động gián tiếp chứ không phải trực tiếp bởi lãi suất trong
nhiều trường hợp không phải là nhân tố quyết định tới sự di chuyển của các
dòng vốn. Chênh lệch lãi suất phải trong điều kiện ổn định kinh tế chính trị thì
mới thu hút được nhiều vốn ngắn hạn từ bên ngoài đổ vào.
3.1.2.3. Tình hình thiếu thừa trong cán cân thanh toán quốc tế:
Nhân tố này tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu ngoại tệ, thông qua đó tác
động tới tỷ giá. Khi cán cân thanh toán bội thu, theo tác động của quy luật cung
cầu ngoại tệ sẽ làm cho đồng ngoại tệ mất giá, đồng nội tệ lên giá, tỷ giá hối
đoái giảm. Ngược lại, khi cán cân thanh toán quốc tế bội chi sẽ làm cho đồng
ngoại tệ lên giá, đồng nội tệ mất giá, tỷ giá hối đoái tăng.
3.1.2.4. Tình hình tăng trưởng hay suy thoái kinh tế:
Nếu các yếu tố khác không đổi mà thu nhập quốc dân của một nước tăng lên so
với nước khác thì nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ nước khác cũng tăng dẫn tới
cầu ngoại hối tăng. Kết quả là tỷ giá hối đoái sẽ có xu hướng tăng lên.
3.1.2.5. Yếu tố tâm lý và các hoạt động đầu cơ:
Yếu tố tâm lý được thể hiện bằng sự phán đoán của thị trường về các sự kiện
kinh tế, chính trị từ những sự kiện này, người ta dự đoán chiều hướng phát
triển của thị trường và thực hiện những hành động đầu tư về ngoại hối, làm cho
tỷ giá có thể đột biến tăng, giảm trên thị trường.
Ngoài ra, tỷ giá hối đoái còn phụ thuộc vào chính sách có liên quan tới quản lý
ngoại hối, các sự kiện kinh tế - xã hội, các rủi ro bất khả kháng như chiến tranh,
thiên tai [6]
3.2. ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ NGOẠI TỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT
NHẬP KHẨU:
3.2.1. Ảnh hưởng tỷ giá đến việc xuất khẩu:
3.2.1.1. Ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá đến kim ngạch xuất khẩu:
Tỷ giá hối đoái giảm, đồng nghĩa giá nội tệ tăng, lượng ngoại tệ thu vào giảm.
Từ đó doanh thu từ hoạt động xuất khẩu khi tính ra nội tệ trở nên eo hẹp, và
giá giữa đồng Đô Mỹ và các nước còn lại, nước nào có tỷ giá cao hơn thì nước
đó có cơ hội phát triển xuất khẩu hàng hóa hơn.
Tóm tại, tỷ giá tăng thì có lợi cho xuất khẩu, tỷ giá giảm gây bất lợi cho xuất
khẩu. Điều này hầu như đúng đối với các quốc gia thực thi chế độ tỷ giá thả nổi,
hoặc thả nổi có quản lý, nơi tỷ giá danh nghĩa sát hoặc tiến sát giá trị thực. Và
ngược lại, với các nước theo chế độ tỷ giá cố định, việc giảm, tăng tỷ giá chính
là giảm, tăng tỷ giá danh nghĩa, không phải tỷ giá thực, do đó nếu một sự tăng
tỷ giá hối đoái mà vẫn khiến tỷ giá danh nghĩa thấp hơn tỷ giá thực thì đồng nội
tệ vẫn bị xem là định giá cao hơn giá trị thực, tác dụng thúc đẩy xuất khẩu
không nhiều.
3.2.2. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên tính cạnh tranh của nhập khẩu:
3.2.2.1. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên kim ngạch nhập khẩu:
Trên phương diện kim ngạch nhập khẩu, xu hướng chung thường thấy là khi giá
đồng nội tệ tăng hay tỷ giá hối đoái giảm, nhập khẩu sẽ được khuyến khích do
giá nhập khẩu trở nên rẻ tương đối, chi phí nhập khẩu giảm, lượng nhập khẩu
tăng lên dẫn đến sự tăng lên trong kim ngạch nhập khẩu. Bên cạnh đó, khi tỷ giá
hối đoái tăng (đồng nội tệ giảm giá) sẽ gây bất lợi cho nhập khẩu, giá nhập khẩu
trở nên đắt hơn, việc các nhà nhập khẩu phải bỏ nhiều tiền hơn để mua một
lượng ngoại tệ như cũ sẽ dẫn đến việc giảm lợi nhuện các nhà nhập khẩu. Một
khi lợi nhuận không đủ bù đắp chi phí, cầu nhập khẩu giảm xuống, do đó kim
ngạch nhập khẩu giảm.
3.2.2.2. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên cơ cấu nhập khẩu:
Trên phương diện cơ cấu nhập khẩu, một sự tăng tỷ giá hối đoái sẽ khiến các
nhà quản lý cân nhắc xem phải nhập khẩu những mặt hàng gì, những mặt hàng
như nông sản có thể sẽ bị hạn chế, các mặt hàng như xăng dầu, máy móc, thiết
bị toàn bộ có thể sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục nhập khẩu (điều này đặc
biệt đúng với các nước đang phát triển hướng về xuất khẩu), còn sự tăng trong
tỷ giá hối đoái sẽ cho chiều hướng ngược lại.
3.2.2.3. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên tính cạnh tranh của hàng
nhập khẩu:
nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong trường hợp các
quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát
tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ
quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và đồng thời tỷ giá hối đoái tăng.
3.3.2. Ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ đối với đầu tư nước ngoài:
Cư dân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp
(Xây dựng nhà máy, thành lập các doanh nghiệp, vân vân) hay đầu tư gián tiếp
(mua cổ phiếu, trái phiếu, vân vân). Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt
động kinh doanh trên cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường,
luống vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽ tăng. Ngược lại một
nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm
cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu
số giữa luồng vốn chảy ra và lượng vốn chảy vào một nước. Khi đầu tư ra nước
ngoài ròng dương, tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường
hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo quy luật tối ưu hóa, luồng
vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất. Một nền
kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi
trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ,
nguồn lao động dồi dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và
sự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Chính Phủ.
3.3.3. Ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ đến cán cân thương mại:
Cán cân thương mại của một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu cà
kim ngạch nhập khẩu. Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sẽ thu
được ngoại tê. Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán
ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hóa dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài.
Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi
nhập khẩu hàng hóa dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho
đối tác, và điều này buộc họ phải bán nội tệ để mua lấy ngoại tệ trên thị trường.
Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tác động của hai
hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối
mọi người kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng trong tương lai thì mọi người sẽ
đổ xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại. Mặt khác giá ngoại
tệ rất nhạy cảm với thông tin cũng như các chính sách của chính phủ. Nếu có tin
đồn rằng Chính Phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt
thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm
nhanh chóng (khi thâm hụt thương mại giảm, thì cầu về USD giảm, giá USD sẽ
giảm trong tương lai)
3.3.6. Tỷ giá với tình trạng đô la hóa:
Việc biến động tỷ giá hối đoái có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên
nhân đó còn gắn liền với tình trạng “đô la hóa” ở nước ta hiện nay. Mặc dù
Chính Phủ theo đuổi chính sách quản lý ngoại hối theo định hướng nhất quán
“trên thị trường Việt Nam chỉ giao dịch bằng đồng Việt Nam”, nhưng thực tế,
ngoại tệ và vàng được sử dụng khá phổ biến như các phương tiện thanh toán
trong giao dịch mua bán bất động sản, hàng hóa đắt tiền, vay, trả nợ, cất trữ.
Những hàng hóa này ngày thường là những hàng hóa mà doanh nghiệp Việt
Nam sẽ phải nhập khẩu toàn bộ hoặc từng phần liên kiện nên giá của chúng phụ
thuộc hoàn toàn vào USD, do vậy để tránh rủi ro tỷ giá cho mình, các doanh
nghiệp buộc phải niêm yết giá bằng USD. Mỗi khi có biến động về tỷ giá thì
ngoại tệ, nhất là USF gia tăng vai trò trên thị trường.[8]
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP
Ngay từ đầu năm 2014, NHNN đã có chủ trương giữ ổn định tỷ giá và nếu phải
điều chỉnh sẽ không quá 2%. Thực hiện cam kết đó, khi tỷ giá trên thị trường
biến động do những nguyên nhân khách quan tác động đến tâm lý thị trường,
chẳng hạn như tình hình biển Đông diễn ra vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 trên thị
trường lại xuất hiện kỳ vọng sẽ điều chỉnh tỷ giá. Trước tình hình này, trong bối
cảnh lạm phát đang được kiểm soát ở mức thấp, NHNN đã chủ động điều chỉnh
tăng tỷ giá để can thiệp và bình ổn thị trường ngoại tệ, đồng thời góp phần hỗ
trợ xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế theo
mục tiêu đề ra. Sau khi điều chỉnh tăng 1% tỷ giá bình quân thị trường liên ngân
hàng vào ngày 19/6/2014, tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại dần ổn
Tuy nhiên, tỷ giá là một biến số vĩ mô chịu tác động từ nhiều yếu tố bên ngoài
yếu tố tiền tệ như hoạt động thương mại, chính sách tài khóa…. Do vậy, khi yếu
tố tâm lý vẫn có tác động lớn đến tỷ giá, hoạt động điều hành tỷ giá và ổn định
thị trường ngoại hối của Ngân hàng Nhà Nước sẽ có thể chịu nhiều áp lực trước
các biến động của thị trường trong và ngoài nước và đòi hỏi cần có sự chia sẻ,
phối hợp tích cực, chặt chẽ từ các cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô. [9]
2/ KIẾN NGHỊ:
Vấn đề quan trọng nhất trong việc ổn định, cân bằng tỷ giá nước ta vẫn chính là
tâm lý đám đông, bởi đây là yếu tố khó có thể dự đoán trước, như các yêu tố
khác nên để hạn chế điều này, nhà nước cần có những biện pháp phổ biến cho
người dân những thông tin cần thiết, liên quan đến tỷ giá một cách kịp thời và
chính xác nhất. Như vậy sẽ tránh được kẻ xấu lợi dụng tâm lý của người dân mà
đầu cơ tích trữ ngoại tệ rồi bán với giá cao ngất ngưỡng gây sự biến động lớn
cho tỷ giá ngoại tệ. Xử lý nặng tay những kẻ đầu cơ tích trữ, gây sức ép lên tâm
lý người dân, làm cho biến động tỷ giá, ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Tài liệu khác:
Bài viết: Kiều hối
https://dudoankinhte.wordpress.com/2012/03/07/kieu-hoi/. [Truy cập:
28/03/2015].
[2] Tài liệu khác:
Bài viết: Khái niệm về xuất khẩu và bản chất xuất khẩu
https://voer.edu.vn/m/khai-niem-ve-xuat-khau-va-ban-chat-cua-xuat-
khau/e77579ab. [Truy cập: 28/3/2015]
[3] Tài liệu khác:
Bài viết: Tỷ giá hối đoái là gì
http://voer.edu.vn/m/ty-gia-hoi-doai-la-gi/20c85006. [Truy cập: 28/3/2015]
[4] Tài liệu khác:
Bài viết: Câu 13: Tỷ giá hối đoái: Khái niệm, phân loại, các yếu tố ảnh hưởng
đến tỷ giá hối đoái. Tác động của tỷ giá hối đôái đến các quan hệ kinh tế quốc