Luận văn thạc sĩ Sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 1999 - 2011 - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH








NGUYỄN HUY
SỰ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN LẠM PHÁT TẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1999-2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang TPHCM 08- 2012 LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cám ơn đến các quý thầy cô trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh, gia đình, bạn bè, và các đồng nghiệp đã hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý chân
thành để hoàn thành chương trình cao học và luận văn này, Đầu tiên, xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang - người đã tận
tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Tôi xin cảm ơn anh Nguyễn Hữu Tuấn, chị Bạch Thị Phương Thảo, anh Lê Hồng
Giang, anh Võ Văn Minh đã hổ trợ và giúp đỡ tôi thật nhiều trong quá trình thực hiện đề
tài. TP.Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2012
Học viên

Tp.Hcm, ngày 1 tháng 08 năm 2012
Tác giả Nguyễn Huy Mục lục
Mở đầu . 1
Phần I : Khái quát về khung lý thuyết truyền dẫn tỷ giá hối đoái. 3
1.1 Luật một giá. 3
1.2 Những quan điểm về truyền dẫn tỷ giá. 4
1.3 Vai trò và ý nghĩa của truyền dẫn tỷ giá 5
1.4 Các nhân tố tác động đến mức độ truyền dẫn tỷ giá. 6
1.5 Sơ lược các nghiên cứu trước đó. 7
1.6 Nghiên cứu quốc tế 7
1.7 Nghiên cứu trong nước 9

Phần II Phân tích thực trạng về biến động lạm phát, tỷ giá hối đoái và các nhân tố


3.1 Phương pháp nghiên cứu. 36
3.2 Mô hình nghiên cứu 38
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 39
3.4 Kiểm định nghiệm đơn vị 40
3.5 Kết quả thực nghiệm 41
3.5.1 Tác động của sự sụt giảm tỷ giá hối đoái đến lạm phát. 41
3.5.2 Các yếu tố quyết định hệ số truyền dẫn
3.6 Kiểm định các giả thiết của mô hình 49
3.6.1 Kiểm định Phương sai sai số thay đổi 49
3.6.2 Kiểm định hiên tượng Tự tương quan. 50
3.6.3 Kiểm định hiên tượng Đa cộng tuyến 50
3.7 Một số kiến nghị 51
3.7.1 Kiến nghị về chính sách tỷ giá hối đoái 51
3.7.2 Kiến nghị về chính sách bình ổn lạm phát 52
3.8 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 54
3.9 Kết luận 55 Tài liệu tham khảo. 57

Phụ lục 1 59

Phụ lục 2 62

Phụ lục 3 66
Phụ lục 4 71

• WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới Danh mục bảng

Bảng 2.1: Thống kê thời điểm điều chính tỷ giá VND/USD của NHNN,
giai đoạn 2008-2011 13
Bảng 2.2 : Biên độ dao động tỷ giá Việt Nam, 2008-2011. 15

Bảng 2.3 : Cơ chế tỷ giá của Việt Nam theo thời gian, 1999-2011 18

Bảng 2.4 : Tăng trưởng GDP và ICOR của Việt nam và một số nước,1961-2006 32
Bảng 2.5 : Rổ hàng hóa tính chỉ số CPI của Việt nam. 34

Bảng 3.1 : Thống kê mô tả. 38
Bảng 3.2 : Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị 40
Bảng 3.3: Passthrough Regressions 41
Bảng 3.4: Passthrough Regressions 48

Bảng 3.5: Kết quả kiểm định Phương sai sai số thay đổi 49

Bảng 3.6: Kết quả kiểm định Tự tương quan. 50

Bảng 3.7: Ma trận hệ số tương quan 50


Hình 2.13 : GDP thực và GDP tiềm năng của Việt nam, 1999-2011. 27

Hình 2.14 : Độ lệch sản lượng của Việt nam, 1999-2011. 28

Hình 2.15 : Tốc độ tăng trường GDP và CPI của Việt nam, 1999-2011. 29

Hình 2.16 : Giá dầu thế giới và CPI của Việt nam, 1999-2011. 30

Hình 2.17 : Tốc độ tăng cung tiền của Việt nam và các nước, 1999-2011. 31

Hình 3.18 : Chỉ số ICOR Việt nam, 1991-2010. 32

Hình 3.1 : Hệ số truyền dẫn của Việt nam. 46 Tóm tắt.

Bài viết này nghiên cứu về mối quan hệ giữa sụt giảm tỷ giá hối đoái và lạm phát
tại Việt Nam với số liệu được thu thập trong giai đoạn từ 1999-2011. Những yếu tố chủ
yếu quyết định đến hệ số truyền dẫn từ sự sụt giảm ( hoặc gia tăng ) tỷ giá hối đoái đến
lạm phát bao gồm mức chênh lệch sản lượng, độ mở cửa thương mại của nền kinh tế,
mức độ định giá cao tỷ giá hối đoái thực và giá dầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hệ
số truyền dẫn có xu hướng giảm tương đối khi thời gian đo lường tăng lên và đạt đến
đỉnh điểm tại thời điểm quý một. Chúng tôi cũng tìm thấy rằng sự sai lệch trong việc
đánh giá tỷ giá hối đoái thực là nhân tố có mức ảnh hưởng nhiều nhất đến lạm phát trong
nền kinh tế Việt nam. Điều này cho thấy rằng các nhà hoạch định chính sách nên đưa yếu
tố định giá tỷ giá thực vào mô hình nghiên cứu để phân tích và dự báo tỷ lệ lạm phát sau
khi tỷ giá hối đoái bị mất giá mạnh. Mặc khác, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hệ số
truyền dẫn tỷ giá là rất cao, hàm ý rằng báo hiệu nguy cơ lâm vào cuộc khủng hoảng của

đổi hàng loạt những yếu tố trong môi trường vĩ mô và các chính sách kinh tế. Hơn thế
nữa, nhằm tạo lại niềm tin trong nhân dân Chính phủ xem lạm phát như là tâm điểm, là
vấn đề cấp bách cần phải ứng phó một cách kiên trì, bền bỉ với hy vọng sẽ làm dịu đi cơn
bùng phát của nó. Mặc dù không dễ có một đáp án thật chỉnh chu và thuyết phục cho bài
toán lạm phát, nhưng nó đang được nhiều các nhà giới chức, các chuyên gia, các nhà
nghiên cứu học thuật thuộc lĩnh vực kinh tế lần luợt đưa ra những lời giải riêng theo quan
điểm, cách nhìn nhận và mô hình nghiên cứu khác nhau trong thời gian vừa qua. Cùng
với dòng chảy chung, tác giả cũng đưa ra lời giải thích cho vấn đề lạm phát dựa trên gốc
độ phân tích về “ Sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam trong giai
đoạn 1999-2011” .
Lạm phát được tạo lập theo xu hướng nào? Liệu cơ chế truyền dẫn tỷ giá có phải
là cánh cửa chính mở tới con đường lạm phát theo như các chuyên gia kinh tế hàng đầu
trên thế giới đã nhận định hay không? Với phương pháp tích định lượng dựa trên khung
lý thuyết phổ biến và mô hình nghiên cứu khoa hoc cùng với các bằng chứng thực
nghiệm, tác giả hy vọng sẽ mang đến nhiều khám phá bổ ích, hữu dụng về các nguyên
nhân gây ra lạm phát.

2

2 Mục tiêu nghiên cứu:
 Xem xét mối quan hệ tương quan giữa sự truyền dẫn tăng (giảm) của tỷ giá hoái
đối với lạm phát.
 Xác định nhân tố có mức tác động lớn nhất đến lạm phát, cũng như hệ số truyền
dẫn đạt đến đỉnh điểm trong giai đoạn 1999-2011.
 Đánh giá tổng quan về tình hình lạm phát trong giai đoạn này cũng như đưa ra
những thảo luận về lạm phát tương lai.



1.1 Luật một giá (LOOP):

Luật một giá cho rằng: “Trong một thị trường hiệu quả, tất cả các hàng hóa giống
nhau phải được bán với cùng một giá”
. Nghĩa là khi không tính đến chi phí vận chuyển
và các chi phí giao dịch khác, mối quan hệ giữa giá thế giới và giá trong nước trở thành
E , là tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và đồng nội tệ. Nếu p là giá hàng hóa theo đồng tiền của
quốc gia A, p* đại diện cho giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia B và E là tỷ giá hối
đoái của đồng tiền của quốc A so với đồng tiền của quốc gia B.

Nếu luật một giá là đúng với hàng hóa i thì giá của hàng hóa i là: pi = E (1). Nếu
LOOP đúng với tất cả các loại hàng hóa ở tất cả các quốc gia thì lý thuyết hiệu ứng ngang
giá sức mua trong điều kiện tuyệt đối tồn tại và được thể hiện là: P = EP* (1’) với P và
P* là mức giá ở hai quốc gia A và B.

Trong mô hình nghiên cứu của Goldberg (1997) như sau: pt = α + δXt + γEt + µZt
+ εt (2). Trong đó, tất cả các biến đều dưới dạng logarit, p là giá của một hàng hóa nhập
khẩu cụ thể, X là biến kiểm soát đại diện cho phí sản xuất hoặc giá cả hàng hóa, E là tỷ
giá hối đoái, Z đại diện cho một biến kiểm soát khác ảnh hưởng đến giá nhập khẩu trong
mô hình, ε là sai số của mô hình.

Ông cho rằng nếu LOOP được thể hiện như phương trình (1) là đúng tức giá cả
những hàng hóa giống nhau sẽ có giá bán như nhau khi qui về một đồng tiền chung thì
LOOP sẽ đưa ra những dự đoán cho giá cả hàng hóa và tỷ giá trong phương trình (2) như
sau: Nếu giá hàng hóa được đo lường trong những đơn vị tiền tệ khác nhau thì LOOP chỉ
ra rằng α = 0, δ = 1, γ = 1. Nếu giá cả được đo lường cùng một đơn vị tiền tệ thì theo
LOOP ta có α = 0, δ = 1, γ = 0. Điều này ngụ ý rằng, theo luật một giá, giá cả của hàng
hóa nhập khẩu chỉ phụ thuộc vào tỷ giá và giá cả sản xuất hàng hóa tính theo đồng tiền
của quốc gia xuất khẩu. Khi tỷ giá thay đổi tăng lên (hoặc giảm xuống) thì giá cả hàng


Nghiên cứu của Ito và Sato (2006) phát hiện ra rằng truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại
các nước châu Á chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng 1997 – 1998.

Devereux và Yetman (2008) lý giải rằng truyền dẫn tỷ giá sẽ đóng góp ít nhất một
phần vào điều chỉnh chậm giá danh nghĩa, mức truyền dẫn nhạy cảm với cơ chế chính
sách tiền tệ bởi vì mức giá chính nó là yếu tố nội sinh của chế độ tiền tệ. Sự truyền dẫn
trong nền kinh tế có qui mô nhỏ được xác định bằng đặc điểm cấu trúc của nền kinh tế
như thời lượng tác động của cú sốc, và mức giá.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm truyền dẫn tỷ giá, tuy nhiên
nguyên nhân chủ yếu có thể là do khác biệt về mục tiêu, đối tượng, mô hình và phương
pháp nghiên cứu. Vì vậy dựa theo chủ ý, tác giả xin đưa ra quan niệm về truyền dẫn tỷ
giá như sau: Truyền dẫn tỷ giá là sự biến động của tỷ giá ( do các nhân tố định giá cao tỷ
giá thực, độ mở cửa kinh tế, mức chênh lệch sản lượng, và giá dầu) ảnh hưởng lên mức
lạm phát trong nước. 5

1.3 Vai trò và ý nghĩa của truyền dẫn tỷ giá.
Mức truyền dẫn tỷ giá được gây ra bởi hai nguyên nhân chính là cú sốc cung và cú
sốc cầu. Tùy thuộc vào mức độ tác động và chiều hướng tác động của cú sốc cung và cú
sốc cầu mà dẫn đến kết quả về độ lớn và thời điểm phát huy tính truyền dẫn tỷ giá lên
lạm phát là khác nhau. Nắm rõ nguyên lý này nó sẽ giúp ích ít nhiều cho các nhà hoạch
định chính sách trong việc đưa ra những điều chỉnh hợp lý khi ban hành ra các chính sách
quản lý tỷ giá và chống lạm phát hiệu quả nhằm hướng đến mục tiêu ổn định nền kinh tế
vĩ mô, đảm bảo đời sống an sinh xã hội. Ví dụ như nghiên cứu của Campa & Goldberg
(2002) cho rằng mức độ truyền dẫn tỷ giá lên giá nhập khẩu sẽ thấp cho những quốc gia
có lạm phát và độ biến động của tỷ giá thấp.
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Kenneth & Paul ( 1988) các doanh nghiệp nước

quốc gia này.
1.4 Các nhân tố tác động đến mức độ truyền dẫn tỷ giá.
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nổi tiếng viết về
cơ chế truyền dẫn tỷ giá lên lạm phát hay các chỉ số giá, không những ở các nước phát
triển mà cho cả các nước đang phát triển. Tuy nhiên vẫn chưa có mô hình hoàn hảo được
phát hiện nhằm làm hài lòng các nhà học thuật, bởi vì lẽ đó nhiều mô hình nghiên cứu
được xây dựng dựa theo các gốc độ tiếp khác nhau nên nó đã phác thảo lên bức tranh “
truyền dẫn tỷ giá” thêm đa dạng và nhiều màu sắc hơn. Trên phương diện đó tác giả xin
tổng hợp lại một số các nhân tố ảnh hưởng đến mức truyền dẫn tỷ giá từ các bài viết tiêu
biểu như sau:
Nghiên cứu nổi tiếng về sự truyền dẫn tỷ giá thường được các nhà nghiên cứu
dùng tham khảo và trích dẫn làm ví dụ minh họa là nghiên cứu của tác giả Taylor (2000).
Ông cho rằng sự sụt giảm mức truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá chung là kết quả của môi
trường lạm phát thấp và ngược lại. Chính xác hơn là sự truyền dẫn tỷ giá phụ thuộc vào
cơ chế chính sách, mức độ tín nhiệm về môi trường lạm phát thấp sẽ tạo ra mức truyền
dẫn tỷ giá thấp. Kết quả tương tự này cũng được phát hiện trong các nghiên cứu của
Barhoumi (2005) “ Khác biệt trong dài hạn truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu ở các
nước phát triển”, Campa & Goldberg (2002) “ Sự truyền dẫn tỷ giá lên giá nhập khẩu:
Hiện tượng vĩ mô hay vi mô?” Ngoài ra, ông còn phát hiện ra nếu nhà xuất khẩu tạo giá
bằng đồng tiền của quốc gia có chính sách tiền tệ bền vững, thì giá nhập khẩu bằng đồng
nội tệ sẽ ổn định hơn. Nghĩa là truyền dẫn tỷ giá thấp hơn trong những quốc gia có chính
sách tiền tệ ít biến động hơn.
Ngoài ra, tính cạnh tranh giành thị phần cũng ảnh hưởng đến sự truyền dẫn tỷ giá .
Trong thảo luận của Froot và Klemperer (1989) cho rằng sự truyền dẫn tỷ giá có thể thấp
hơn khi biến đổi tỷ giá cao và nhà xuất khẩu muốn duy trì thị phần trong nước đối với
quốc gia nhập khẩu.
Dornbusch (1987) phát hiện ra sự truyền dẫn tỷ giá có thể cao nếu nhà sản xuất
chiếm một thị phần lớn so với sự tồn tại của các nhà đối thủ cạnh tranh trong nước và độ
co giãn của mức truyền dẫn tỷ giá có quan hệ nghịch biến với GPD thực.
Campa & Goldberg (2002) cho rằng lượng tăng cung tiền không đáng kể và ít bị

năng suất của quốc gia, gói nhập khẩu khi tính toán đến sự truyền dẫn tỷ giá.

1.5 Sơ lược các nghiên cứu truyền dẫn trước đó.
1.5.1 Nghiên cứu quốc tế.
Làn sóng quan tâm đến chủ đề truyền dẫn tỷ giá ngày càng nở rộ và được cụ thể
hóa bằng hàng loạt các bài viết như của Dornbusch (1987) và Krugman (1987) “ Hiện
tượng định giá đối với thị trường” như lời giải thích cho cán cân thương mại của Mỹ
không phản ứng với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái. Tiếp đó, có những công trình nghiên
cứu của Dornbusch và Krugman (1976) và Sachs (1985). Cả hai bài viết này không giải
quyết được vấn đề là tỷ giá hối đoái và giá cả được gây ra bởi những cú sốc thông
thường, cũng như không kiểm soát đối với thay đổi giá nước ngoài . Woo (1984) cho
rằng tỷ giá hối đoái và giá cả là các biến nội sinh và mô hình mẫu dạng rút gọn đơn giản
là không chuyên biệt. Trong khi đó ông cố gắng kiểm soát nhiều biến và sử dụng các
biến công cụ để kiểm soát các biến bị bỏ đi nhằm tạo ra các kết đáng tin cậy hơn.
Calvo và Reinhart (2000) chạy mô hình VAR đơn giản về tỷ giá và giá cả để kiểm
tra tác động thay đổi của tỷ giá lên giá hàng hóa. McCarthy (2000) cố gắng tách các cú 8

sốc tác động lên giá cả ở các giai đoạn khác nhau của chuỗi phân phối bằng cách sử dụng
mô hình VAR giới hạn trong ngắn hạn ( a short run restrictions VAR). Tuy nhiên, điều
cần thiết là phải xác định mối quan hệ ngắn hạn để thiết lập mô hình.

Tiếp bước mô hình VAR còn có một số công trình sử dụng để nghiên cứu như :

Hahn (2003) nghiên cứu về tác động của các cú sốc bên ngoài (cú sốc giá dầu, cú
sốc tỷ giá và cú sốc chỉ số giá nhập khẩu ngoại trừ giá dầu) đến chuỗi các chỉ số giá (chỉ
số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng). Kết quả cho thấy sự truyền
dẫn lớn nhất và nhanh nhất là do cú sốc của chỉ số giá nhập khẩu, tiếp đó là cú sốc tỷ giá
9

Taylor (2000) sử dụng một mô hình phân tán đơn giản để cho thấy sự kéo dài của
các cú sốc cũng như tỷ lệ phần trăm của các công ty bị ảnh hưởng bởi cú sốc để xác định
các công ty sẽ phản ứng như thế nào. Từ mô hình này, ông đã đưa ra giả thuyết là sự
truyền dẫn sẽ là nhân tố nội sinh của môi trường lạm phát. Gagnon và Ihrig (2002) tìm
thấy các bằng chứng hỗ trợ cho giả thuyết này khi họ nhìn thấy sự truyền dẫn vào giá
tiêu dùng. Mặt khác, Campa và Goldberg (2002) thấy rằng sự truyền dẫn vào giá nhập
khẩu có thể được giải thích chủ yếu bởi các yếu tố kinh tế vi mô, chẳng hạn như ngành
công nghiệp cạnh tranh hoặc gói nhập khẩu.
1.5.2 Nghiên cứu trong nước.
Hiện tại chỉ có vài các công trình nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại Việt
Nam . Tiêu biểu là nghiên cứu của Bạch Thị Phương Thảo (2011) áp dụng mô hình VAR
để xem xét mức độ ảnh hưởng truyền dẫn của tỷ giá lên các chỉ số giá và cho rằng ảnh
hưởng của cú sốc NEER đến chỉ số giá nhập khẩu IMP là nhanh nhất và kéo dài nhất, còn
tác động đến chỉ số giá sản xuất PPI cũng khá nhanh nhưng thời gian tác động ngắn hơn.
Và thời gian ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng CPI là chậm
nhất nhưng chỉ số giá tiêu dùng chịu ảnh hưởng kéo dài của cú sốc tỷ giá hối đoái.

Mức truyền dẫn tỷ giá hoái đối đến các chỉ số giá nhập khẩu của Việt Nam nhìn
chung là thấp hơn các nước châu Á nhưng mức truyền dẫn tỷ giá hối đoán đến các chỉ số
giá sản xuất là cao hơn, điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào
nhập khẩu, và độ lớn truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến các chỉ giá tiêu dùng cũng cao hơn.

Tuy nhiên về mặt giới hạn thì khung lý thuyết, phương pháp lập luận của nghiên
cứu này chỉ đi sâu về mô hình VAR 7 biến. Hơn nữa, trong mô hình nghiên cứu biến giá
dầu- đại diên cho cú sốc cung và biến tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) được đưa
vào phân tích đồng thời nên sẽ xảy ra hiện tượng ảnh hưởng kép đến các chỉ số giá.

dẫn đến giá cả tăng lên trong khi thâm hụt ngân sách cộng dồn không có ảnh
hưởng nhiều đến lạm phát;
(4) Cung tiền và lãi suất có tác động đến lạm phát nhưng với độ trễ và
(5) Mức truyền dẫn trong ngắn hạn của giá quốc tế đến giá nội địa cũng có vai trò
nhất định.

IMF (2006) nghiên cứu về các yếu tố chính tác động đến lạm phát tại Việt Nam
và cho thấy rằng cung tiền, lạm phát kỳ vọng và mức chênh lệch sản lượng có sự tác
động đáng kể đến lạm phát, trong khi cú sốc giá dầu và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng không
đáng kể tới lạm phát. Tuy nhiên, do hạn chế về khung dữ liệu nghiên cứu nên sự chính
xác của kết quả mô hình cần xem xét lại. Và nghiên cứu IMF ( 2003) cho thấy chính
những tác động trong quá khứ là nguyên nhân chủ yếu giải thích cho sự gia tăng của lạm
phát danh nghĩa, lạm phát cơ bản và chỉ số giá tiêu dùng. Tỷ giá hối đoái tác động có ý
nghĩa quan trọng về mặt thống kê đối với chỉ số giá nhập khẩu nhưng không tác động
nhiều đến chỉ số giá tiêu dùng, điều này là do có một tỷ lệ lớn hàng hóa phi thương trong
rổ hàng hóa dùng để tính CPI và chỉ số giá nhập khẩu không truyền dẫn mạnh mẽ sự tăng
giá vào giá cả nội địa mặc dù độ mở của nền kinh tế ngày càng gia tăng.

Trương Văn Phước và Chu Hoàng Long (2005) cho thấy rằng yếu tố chính ảnh
hưởng đến lạm phát tại Việt Nam là độ trễ của lạm phát và mức chênh lệch sản lượng
tiềm năng. Trong khi tác động của giá gạo, giá dầu và tỷ giá hối đoái là không đáng kể.

Võ Trí Thành và đồng tác giả (2001) phân tích mối quan hệ giữa cung tiền, CPI, tỷ
giá hối đoái và GDP thực bằng cách sử dụng mô hình VECM . Kết quả nghiên cứu cho
rằng một chính sách tiền tệ (thể hiện qua cung tiền) thụ động được thực thi trong khoảng
thời gian này, chính sách tiền tệ chỉ chạy theo những chuyển biến của lạm phát và GDP.
Tỷ giá hối đoái theo kết quả nghiên cứu được cho là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng
lên lạm phát.
hoảng, đồng VND mất giá khá mạnh; hai là, nền kinh tế đi vào ổn định thì tỷ giá lại được
neo giữ tương đối cứng nhắc vào đồng USD.

Hình 2.3 Diễn biến tỷ giá Việt nam, 1999-2011

(Nguồn :IMF) 13

Bảng 2.1: Thống kê thời điểm điều chính tỷ giá VND/USD của NHNN,
2008-2011

Thời gian điều chỉnh
Tỷ giá bình quân
liên ngân hàng (VND/USD) Mức phá giá (%)
01/2008 – 06.2008 16.1
06/2008 –12/2008 16.5 2.5
01/2009 11/2009 17 3
12/2009 - 02/2010 17.91 5.35
02/2010 - 08/2010 18.544 3.53
08/2010 - 02/2011 18.932 2.09
02/2011 -11/2011 20.693 9.3
24/12/2011- cuối năm 2011 20.828 0.65
(Nguồn: GSO, Bạch Thị Phương Thảo và cập nhật của tác giả)
Giai đoạn 1999-2000: nền kinh tế có sự biến động mạnh và bị ảnh hưởng tàn dư
của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và giai đoạn 2008-2011 với cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu cùng những bất ổn vĩ mô từ nội tại của của nền kinh tế Việt Nam đã cho
thấy đồng VND có xu hướng mất giá mạnh so với đồng USD mà bằng chứng cụ thể
NHNN đã nhiều lần điều chỉnh tỷ giá và nới rộng biên độ tỷ đã làm cho đồng VND mất

phát tăng theo. Tuy nhiên, điều thú vị khi thấy rằng tỷ giá tăng nhưng lạm phát lại giảm,
giai đoạn 2008-2009. Điều này có thể được giải thích khi nền kinh tế toàn cầu lâm vào
tình trạng khủng hoảng, giá cả của các hàng hóa có xu huống giảm vì các doanh nghiệp
không thể bán được hàng nên phải giảm giá để tìm các nguồn thu nhằm duy trì sự tồn tại.
Chính vì vậy giá cả của hàng hóa giảm đã bù đắp cho mức giá tăng khi thực hiện việc phá
giá.
15

2.2.3 Biến động biên độ dao động tỷ giá:

Hình 2.5 Biên độ tỷ giá VND/USD tại Việt nam, 2008-2011

(Nguồn: NHNN, NH Vietcombank, UBKTQH & UNDP).
Bảng 2.2 : Biên độ dao động tỷ giá Việt Nam, 2008-2011
Thời gian điều chỉnh Biên độ dao động tỷ giá (%)
12/2007- 03/2008 +/-0.75
03/2008 - 06/2008 +/-1
06/2008- 11/2008 +/-2
11/2008- 03/2009 +/-3
03/2009 -11/2009 +/-5
11/2009 -02/2011 +/-3
02/2011- 12/2011 +/-1
( Nguồn: GSO, tác giả Phương Thảo)
Hình 2.5 cho thấy tỷ giá đã có những biến động mạnh trong năm 2008 do lạm phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status