Tiểu luận môn phương pháp nghiên cứu khoa học TỔNG QUAN VỀ SCAMPER VÀ PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA Ổ CỨNG - Pdf 27

HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TPHCM
KHOA: KHOA HỌC MÁY TÍNH
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ CNTT
BÀI THU HOẠCH
MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGUYÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài:
TỔNG QUAN VỀ SCAMPER VÀ PHÂN TÍCH QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA Ổ CỨNG
GVHD : GS.TSKH HOÀNG VĂN KIẾM
HVTH : NGUYỄN PHẠM PHÚ QUÝ
MSHV: CH1301049
TP HCM, Tháng 5 năm 2014
Trang 1
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống ngày nay chúng ta đã thấy rất rõ được tầm quan trong của tư duy sáng
tạo, nó ảnh hưởng đến mọi mặt và len lỏi vào tất cả các hoạt động của đời sống xã hội ví
dụ trong kinh doanh thay đổi mẫu mã của sản phẩm hay chiến lược makerting có thể làm
tăng doanh số hay trong các sản phẩm tin học nhầm hạ giá thành và nâng cao chất lượng
sản phẩm. Cùng với sự phát triển ngày càng cao của công nghê thông tin thì tầm quan
trọng của tư duy sáng tạo càng được chú trọng và nghiên cứu
Trong phạm vi nội dung bài thu hoạch này em muốn đưa ra một cái nhìn tổng quan về 7
nguyên lý sáng tạo của Scamper và ứng dụng của nó trong phân tích quá trình phát triển
và các đặt tính của ổ đĩa cứng
Bài thu hoạch gồm 5 phần chính:
• Sơ lược về phương pháp Scamper
• Tổng quan về ổ cứng
• Phân tích
• Kết luận
• Tài liệu tham khảo

nó làm bằng chất liệu ra củ quả.
b. Phép kết hợp – Combine:
Bạn hãy quan sát xem có thể biến tấu thêm gì, kết hợp thêm được gì để tạo
ra 1 sản phẩm mới, đề cao khả năng hợp lực của từng tính năng.
Trang 3
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
Các câu hỏi có thể đặt ra: Nguyên vật liệu cần là gì? Các tính năng? Quy
trình? Nhân lực? Cái gì có thể kết hợp lại? Sẽ kết hợp khâu nào? Ở đâu?
Ví dụ: Chúng ta cho ra loại bưu thiếp có nhạc, TV với đầu máy video.
c. Phép thích ứng – Adapt:
Nghĩ xem khi thay đổi, các tính năng này có phù hợp không?
Các câu hỏi có thể đặt ra: chúng ta có thể bắt chước cái gì? Mô phỏng cái
gì?
Ví dụ: giường cho trẻ em cấu tạo như 1 chiếc xe đua.
d. Phép điều chỉnh – Modify:
Tăng và giảm kích cỡ, thay đổi hình dáng, thuộc tính ( ví dụ như màu sắc,
âm thanh, hương vị, hình thức mẫu mã,…). Nó có thể mạnh lên, cao lên, to
lên hoặc ngược lại: nhẹ hơn, nhỏ hơn,…
e. Phép thêm vào – Put:
Có thể áp dụng cho cách dùng khác? Mục đích khác? Lĩnh vực khác?
Các câu hỏi đặt ra: Tôi có thể lấn sân sang thị trường nào? Thị trường nào
có thể tiêu thụ hàng của tôi?
Ví dụ: lốp xe có thể dùng làm hàng rào.
f. Phép loại bỏ - Eliminate:
Loại bỏ và đơn giản hoá các thành phần, nghĩ xem chuyện gì xảy ra nếu
bạn loại đi hàng loạt các quy trình, sản phẩm, vấn đề và cơ hội
(probortunity ), nghĩ xem bạn sẽ làm gì với tình huống này?
Câu hỏi có thể đặt ra: : chuyện gì xảy ra nếu tôi loại bỏ 1 số thành phần của
sản phẩm? Hướng giải quyết không theo cách thông thường?
Ví dụ: điện thoại không dây cố định ra đời điện thoại di động. 

- Không chỉ tuân theo các thiết kế ban đầu, ổ đĩa cứng đã có những bước tiến
công nghệ nhằm giúp lưu trữ và truy xuất dữ liệu nhanh hơn: ví dụ sự xuất
hiện của các ổ đĩa cứng lai giúp cho hệ điều hành hoạt động tối ưu hơn,
giảm thời gian khởi động của hệ thống, tiết kiệm năng lượng, sự thay đổi
phương thức ghi dữ liệu trên các đĩa từ làm cho dung lượng mỗi ổ đĩa cứng
tăng lên đáng kể.
2. Lịch sử phát triển
a. Năm 1955
Trang 5
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
Ổ cứng đầu tiên trên thế giới có là IBM 350 Disk File được chế tạo bởi
Reynold Johnson ra mắt năm 1955 cùng máy tính IBM 305. Ổ cứng này có
tới 50 tấm đĩa kích thước 24" với tổng dung lượng là 5 triệu kí tự. Một đầu
từ được dùng để truy nhập tất cả các tấm đĩa khiến cho tốc độ truy nhập
trung bình khá thấp.
b. Năm 1961
Thiết bị lưu trữ dữ liệu IBM 1301 ra mắt năm 1961 bắt đầu sử dụng mỗi
đầu từ cho một mặt đĩa.Ổ đĩa đầu tiên có bộ phận lưu trữ tháo lắp được là ổ
IBM 1311. Ổ này sử dụng đĩa IBM 1316 có dung lượng 2 triệu kí tự.
c. Năm 1973
IBM giới thiệu hệ thống đĩa 3340 "Winchester", ổ đĩa đầu tiên sử dụng kĩ
thuật lắp ráp đóng hộp (sealed head/disk assembly - HDA). Kĩ sư trưởng dự
án/chủ nhiệm dự án Kenneth Haughton đặt tên theo "súng trường
Winchester" 30-30 sau khi một thành viên trong nhóm gọi nó là "30-30" vì
các trục quay 30 MB của ổ đĩa cứng. Hầu hết các ổ đĩa hiện đại ngày nay
đều sử dụng công nghệ này, và cái tên "Winchester" trở nên phổ biến khi
nói về ổ đĩa cứng và dần biến mất trong thập niên 1990.
d. Thập niên 1990
Đa số các ổ đĩa cứng cho máy vi tính đầu thập kỷ 1980 không bán trực tiếp
cho người dùng cuối bởi nhà sản xuất mà bởi các OEM như một phần của

SCSI, IDE và EIDE, và mới nhất là SATA. Ổ đĩa MFM đòi hỏi mạch điều
khiển phải tương thích với phần điện trên ổ đĩa cứng hay nói cách khác là ổ
đĩa và mạch điều khiền phải tương thích. RLL (Run Length Limited) là một
phương pháp mã hóa bit trên các tấm đĩa giúp làm tăng mật độ bit. Phần
lớn các ổ đĩa RLL cần phải tương thích với bộ điều khiển nó làm việc với.
ESDI là một giao diện được phát triển bởi Maxtor làm tăng tốc trao đổi
thông tin giữa PC và đĩa cứng. SCSI (tên cũ là SASI dành cho Shugart (sic)
Associates), viết tắt cho Small Computer System Interface, là đối thủ cạnh
tranh ban đầu của ESDI. Khi giá linh kiện điện tử giảm (do nhu cầu tăng
lên) các chi tiết điện tử trước kia đặt trên cạc điều khiển đã được đặt lên
trên chính ổ đĩa cứng. Cải tiến này được gọi là ổ đĩa cứng tích hợp linh kiện
điện tử (Integrated Drive Electronics hay IDE). Các nhà sản xuất IDE mong
muốn tốc độ của IDE tiếp cận tới tốc độ của SCSI. Các ổ đĩa IDE chậm hơn
do không có bộ nhớ đệm lớn như các ổ đĩa SCSI và không có khả năng ghi
trực tiếp lên RAM. Các công ty chế tạo IDE đã cố gắng khắc phục khoảng
cách tốc độ này bằng phương pháp đánh địa chỉ logic khối (Logical Block
Addressing - LBA). Các ổ đĩa này được gọi là EIDE. Cùng lúc với sự ra đời
của EIDE, các nhà sản xuất SCSI đã tiếp tục cải tiến tốc độ SCSI. Những
cải tiến đó đồng thời khiến cho giá thành của giao tiếp SCSI cao thêm. Để
có thể vừa nâng cao hiệu suất của EIDE vừa không làm tăng chi phí cho
Trang 7
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
các linh kiện điện tử không có cách nào khác là phải thay giao diện kiểu
"song song" bằng kiểu "nối tiếp", và kết quả là sự ra đời của giao diện
SATA. Tuy nhiên, hiệu suất làm việc của các ổ đĩa cứng SATA thế hệ đầu
và các ổ đĩa PATA không có sự khác biệt đáng kể.
Ngoài ra còn có ổ lưu trữ thể rắn SSD là một thiết bị lưu trữ sử dụng bộ
nhớ flash để lưu trữ dữ liệu trên máy tính một cách bền vững. Một ổ SSD
đồng thời mô phỏng quá trình lưu trữ và truy cập dữ liệu giống như ổ đĩa
cứng (HDD) thông thường và do đó dễ dàng được sử dụng cho nhiều mục

3. Cấu tạo
Ổ đĩa cứng gồm các thành phần, bộ phận có thể liệt kê cơ bản và giải thích sơ bộ
như sau:
a. Cụm đĩa:
Bao gồm toàn bộ các đĩa, trục quay và động cơ
• Đĩa từ.
• Trục quay: truyền chuyển động của đĩa từ.
• Động cơ: Được gắn đồng trục với trục quay và các đĩa.
b. Cụm đầu đọc
• Đầu đọc (head): Đầu đọc/ghi dữ liệu
• Cần di chuyển đầu đọc (head arm hoặc actuator arm).
c. Cụm mạch điện
• Mạch điều khiển: có nhiệm vụ điều khiển động cơ đồng trục, điều
khiển sự di chuyển của cần di chuyển đầu đọc để đảm bảo đến đúng
vị trí trên bề mặt đĩa.
• Mạch xử lý dữ liệu: dùng để xử lý những dữ liệu đọc/ghi của ổ đĩa
cứng.
• Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer): là nơi tạm lưu dữ liệu trong quá
trình đọc/ghi dữ liệu. Dữ liệu trên bộ nhớ đệm sẽ mất đi khi ổ đĩa
cứng ngừng được cấp điện.
• Đầu cắm nguồn cung cấp điện cho ổ đĩa cứng.
• Đầu kết nối giao tiếp với máy tính.
• Các cầu đấu thiết đặt (tạm dịch từ jumper) thiết đặt chế độ làm việc
của ổ đĩa cứng: Lựa chọn chế độ làm việc của ổ đĩa cứng (SATA
150 hoặc SATA 300) hay thứ tự trên các kênh trên giao tiếp IDE
(master hay slave hoặc tự lựa chọn), lựa chọn các thông số làm việc
khác
d. Vỏ đĩa cứng:
• Vỏ ổ đĩa cứng gồm các phần: Phần đế chứa các linh kiện gắn trên
nó, phần nắp đậy lại để bảo vệ các linh kiện bên trong.

Khi một ổ đĩa cứng đã hoạt động quá nhiều năm liên tục, khi kết quả kiểm
tra bằng các phần mềm cho thấy xuất hiện nhiều khối hư hỏng (bad block)
thì có nghĩa là phần cơ của nó đã rơ rão và làm việc không chính xác như
khi mới sản xuất, lúc này thích hợp nhất là format cấp thấp cho nó để tương
thích hơn với chế độ làm việc của phần cơ
Trang 10
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
g. Sector
Trên track chia thành những phần nhỏ bằng các đoạn hướng tâm thành các
sector. Các sector là phần nhỏ cuối cùng được chia ra để chứa dữ liệu. Theo
chuẩn thông thường thì một sector chứa dung lượng 512 byte.
Số sector trên các track là khác nhau từ phần rìa đĩa vào đến vùng tâm đĩa,
các ổ đĩa cứng đều chia ra hơn 10 vùng mà trong mỗi vùng có số
sector/track bằng nhau.
Bảng sau cho thấy các khu vực với các thông số khác nhau và sự ảnh
hưởng của chúng đến tốc độ truyền dữ liệu của ổ cứng Các khu vực ghi dữ
liệu của ổ đĩa cứng Hitachi Travelstar 7K60 2,5".
h. Cylinder
Tập hợp các track cùng bán kính (cùng số hiệu trên) ở các mặt đĩa khác
nhau thành các cylinder. Nói một cách chính xác hơn thì: khi đầu đọc/ghi
đầu tiên làm việc tại một track nào thì tập hợp toàn bộ các track trên các bề
mặt đĩa còn lại mà các đầu đọc còn lại đang làm việc tại đó gọi là cylinder
(cách giải thích này chính xác hơn bởi có thể xảy ra thường hợp các đầu
đọc khác nhau có khoảng cách đến tâm quay của đĩa khác nhau do quá trình
chế tạo).
Trên một ổ đĩa cứng có nhiều cylinder bởi có nhiều track trên mỗi mặt đĩa
từ.
i. Trục quay
Trục quay là trục để gắn các đĩa từ lên nó, chúng được nối trực tiếp với
động cơ quay đĩa cứng. Trục quay có nhiệm vụ truyền chuyển động quay từ

• Sử dụng động cơ bước để truyền chuyển động.
• Sử dụng cuộn cảm để di chuyển cần bằng lực từ.
4. Nguyên lý hoạt động
a. Giao tiếp với máy tính
Toàn bộ cơ chế đọc/ghi dữ liệu chỉ được thực hiện khi máy tính (hoặc các
thiết bị sử dụng ổ đĩa cứng) có yêu cầu truy xuất dữ liệu hoặc cần ghi dữ
liệu vào ổ đĩa cứng. Việc thực hiện giao tiếp với máy tính do bo mạch của ổ
đĩa cứng đảm nhiệm.
Ta biết rằng máy tính làm việc khác nhau theo từng phiên làm việc, từng
nhiệm vụ mà không theo một kịch bản nào, do đó quá trình đọc và ghi dữ
liệu luôn luôn xảy ra, do đó các tập tin luôn bị thay đổi, xáo trộn vị trí. Từ
đó dữ liệu trên bề mặt đĩa cứng không được chứa một cách liên tục mà
Trang 12
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
chúng nằm rải rác khắp nơi trên bề mặt vật lý. Một mặt khác máy tính có
thể xử lý đa nhiệm (thực hiện nhiều nhiệm vụ trong cùng một thời điểm)
nên cần phải truy cập đến các tập tin khác nhau ở các thư mục khác nhau.
Như vậy cơ chế đọc và ghi dữ liệu ở ổ đĩa cứng không đơn thuần thực hiện
từ theo tuần tự mà chúng có thể truy cập và ghi dữ liệu ngẫu nhiên tại bất
kỳ điểm nào trên bề mặt đĩa từ, đó là đặc điểm khác biệt nổi bật của ổ đĩa
cứng so với các hình thức lưu trữ truy cập tuần tự (như băng từ).
Thông qua giao tiếp với máy tính, khi giải quyết một tác vụ, CPU sẽ đòi hỏi
dữ liệu (nó sẽ hỏi tuần tự các bộ nhớ khác trước khi đến đĩa cứng mà thứ tự
thường là cache L1-> cache L2 ->RAM) và đĩa cứng cần truy cập đến các
dữ liệu chứa trên nó. Không đơn thuần như vậy CPU có thể đòi hỏi nhiều
hơn một tập tin dữ liệu tại một thời điểm, khi đó sẽ xảy ra các trường hợp:
• Ổ đĩa cứng chỉ đáp ứng một yêu cầu truy cập dữ liệu trong một thời
điểm, các yêu cầu được đáp ứng tuần tự.
• Ổ đĩa cứng đồng thời đáp ứng các yêu cầu cung cấp dữ liệu theo
phương thức riêng của nó.

chép dữ liệu dự phòng hoặc có các kế hoạch thay thế ổ đĩa cứng mới).
Trong thời gian gần đây S.M.AR.T được coi là một tiêu chuẩn quan trọng
trong ổ đĩa cứng. S.M.A.R.T chỉ thực sự giám sát những sự thay đổi, ảnh
hưởng của phần cứng đến quá trình lỗi xảy ra của ổ đĩa cứng (mà theo hãng
Seagate thì sự hư hỏng trong đĩa cứng chiếm tới 60% xuất phát từ các vấn
đề liên quan đến cơ khí): Chúng có thể bao gồm những sự hư hỏng theo
thời gian của phần cứng: đầu đọc/ghi (mất kết nối, khoảng cách làm việc
với bề mặt đĩa thay đổi), động cơ (xuống cấp, rơ rão), bo mạch của ổ đĩa
(hư hỏng linh kiện hoặc làm việc sai).
S.M.A.R.T không nên được hiểu là từ "smart" bởi chúng không làm cải
thiện đến tốc độ làm việc và truyền dữ liệu của ổ đĩa cứng. Người sử dụng
có thể bật (enable) hoặc tắt (disable) chức năng này trong BIOS (tuy nhiên
không phải BIOS của hãng nào cũng hỗ trợ việc can thiệp này).
b. Ổ cứng lai
Ổ cứng lai (hybrid hard disk drive) là các ổ đĩa cứng thông thường được
gắn thêm các phần bộ nhớ flash trên bo mạch của ổ đĩa cứng. Cụm bộ nhớ
này hoạt động khác với cơ chế làm việc của bộ nhớ đệm (cache) của ổ đĩa
cứng: Dữ liệu chứa trên chúng không bị mất đi khi mất điện.
Trong quá trình làm việc của ổ cứng lai, vai trò của phần bộ nhớ flash như
sau:
• Lưu trữ trung gian dữ liệu trước khi ghi vào đĩa cứng, chỉ khi máy
tính đã đưa các dữ liệu đến một mức nhất định (tuỳ từng loại ổ cứng
lai) thì ổ đĩa cứng mới tiến hành ghi dữ liệu vào các đĩa từ, điều này
Trang 14
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
giúp sự vận hành của ổ đĩa cứng tối hiệu quả và tiết kiệm điện năng
hơn nhờ việc không phải thường xuyên hoạt động.
• Giúp tăng tốc độ giao tiếp với máy tính: Việc đọc dữ liệu từ bộ nhớ
flash nhanh hơn so với việc đọc dữ liệu tại các đĩa từ.
• Giúp hệ điều hành khởi động nhanh hơn nhờ việc lưu các tập tin

Trang 15
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
Đa số các hãng sản xuất đều tính dung lượng theo cách có lợi (theo cách
tính 1 GB = 1000 MB mà thực ra phải là 1 GB = 1024 MB) nên dung lượng
mà hệ điều hành (hoặc các phần mềm kiểm tra) nhận ra của ổ đĩa cứng
thường thấp hơn so với dung lượng ghi trên nhãn đĩa (ví dụ ổ đĩa cứng 40
GB thường chỉ đạt khoảng 37-38 GB).
b. Tốc độ quay của ổ đĩa cứng
Tốc độ quay của đĩa cứng thường được ký hiệu bằng rpm (viết tắt của từ
tiếng Anh: revolutions per minute) số vòng quay trong một phút.
Tốc độ quay càng cao thì ổ càng làm việc nhanh do chúng thực hiện
đọc/ghi nhanh hơn, thời gian tìm kiếm thấp.
Các tốc độ quay thông dụng thường là:
• 3.600 rpm: Tốc độ của các ổ đĩa cứng đĩa thế hệ trước.
• 4.200 rpm: Thường sử dụng với các máy tính xách tay mức giá trung
bình và thấp trong thời điểm 2007.
• 5.400 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng 3,5” sản xuất cách đây 2-
3 năm; với các ổ đĩa cứng 2,5” cho các máy tính xách tay hiện nay
đã chuyển sang tốc độ 5400 rpm để đáp ứng nhu cầu đọc/ghi dữ liệu
nhanh hơn.
• 7.200 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng sản xuất trong thời gian
hiện tại (2007)
• 10.000 rpm, 15.000 rpm: Thường sử dụng cho các ổ đĩa cứng trong
các máy tính cá nhân cao cấp, máy trạm và các máy chủ có sử dụng
giao tiếp SCSI
c. Các thông số về thời gian trong ổ đĩa cứng
Thời gian tìm kiếm trung bình
Thời gian tìm kiếm trung bình (Average Seek Time) là khoảng thời
gian trung bình (theo mili giây: ms) mà đầu đọc có thể di chuyển từ
một cylinder này đến một cylinder khác ngẫu nhiên (ở vị trí xa

thông số MTBF cho (24 giờ/ngày × 365 ngày/năm) sẽ thấy rằng nó
có thể dài hơn lịch sử của bất kỳ hãng sản xuất ổ đĩa cứng nào, do đó
người sử dụng có thể không cần quan tâm đến thông số này.
d. Bộ nhớ đệm
Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer) trong ổ đĩa cứng cũng giống như RAM của
máy tính, chúng có nhiệm vụ lưu tạm dữ liệu trong quá trình làm việc của ổ
đĩa cứng.
Độ lớn của bộ nhớ đệm có ảnh hưởng đáng kể tới hiệu suất hoạt động của ổ
đĩa cứng bởi việc đọc/ghi không xảy ra tức thời (do phụ thuộc vào sự di
Trang 17
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
chuyển của đầu đọc/ghi, dữ liệu được truyền tới hoặc đi) sẽ được đặt tạm
trong bộ nhớ đệm.
Đơn vị thường tính bằng KB hoặc MB.
Trong thời điểm năm 2007, dung lượng bộ nhớ đệm thường là 2 hoặc 8 MB
cho các loại ổ đĩa cứng dung lượng đến khoảng 160 GB, với các ổ đĩa cứng
dụng lượng lớn hơn chúng thường sử dụng bộ nhớ đệm đến 16 MB hoặc
cao hơn. Bộ nhớ đệm càng lớn thì càng tốt, nhưng hiệu năng chung của ổ
đĩa cứng sẽ chững lại ở một giá trị bộ nhớ đệm nhất định mà từ đó bộ nhớ
đệm có thể tăng lên nhưng hiệu năng không tăng đáng kể.
Hệ điều hành cũng có thể lấy một phần bộ nhớ của hệ thống (RAM) để tạo
ra một bộ nhớ đệm lưu trữ dữ liệu được lấy từ ổ đĩa cứng nhằm tối ưu việc
xử lý đối với các dữ liệu thường xuyên phải truy cập, đây chỉ là một cách
dùng riêng của hệ điều hành mà chúng không ảnh hưởng đến cách hoạt
động hoặc hiệu suất vốn có của mỗi loại ổ đĩa cứng. Có rất nhiều phần
mềm cho phép tinh chỉnh các thông số này của hệ điều hành tuỳ thuộc vào
sự dư thừa RAM trên hệ thống.
e. Chuẩn giao tiếp
Có nhiều chuẩn giao tiếp khác nhau giữa ổ đĩa cứng với hệ thống phần
cứng, sự đa dạng này một phần xuất phát từ yêu cầu tốc độ đọc/ghi dữ liệu

giúp chúng ta nhận ra một số yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu
của ổ đĩa cứng.
Như vậy ta thấy rằng tốc độ truyền dữ liệu thực sự ở mức trung bình 42,27
MBps ở ổ đĩa có giao tiếp Ultra-ATA/100 (với tốc độ thiết kế truyền dữ
liệu 100 MBps) chỉ gần bằng 1/2 so với tốc độ giao tiếp.
g. Kích thước
Kích thước của ổ đĩa cứng được chuẩn hoá tại một số kích thước để
đảm bảo thay thế lắp ráp vừa với các máy tính. Kích thước ổ đĩa
cứng thường được tính theo inch (")
Kích thước vỏ ngoài các loại ổ đĩa cứng: xem bảng.
Trang 20
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
h. Sự sử dụng điện năng
Đa số các ổ đĩa cứng của máy tính cá nhân sử dụng hai loại điện áp nguồn:
5 Vdc và 12 Vdc (DC hoặc dc: Loại điện áp một chiều). Các ổ đĩa cứng cho
máy tính xách tay có thể sử dụng chỉ một loại điện áp nguồn 5 Vdc. Các ổ
đĩa cứng gắn trong các thiết bị số cầm tay khác có thể sử dụng các nguồn có
mức điện áp thấp hơn với công suất thấp.
Điện năng cung cấp cho các ổ đĩa cứng phần lớn phục vụ cho động cơ quay
các ổ đĩa, phần còn lại nhỏ hơn cung cấp cho bo mạch của ổ đĩa cứng. Tuỳ
từng loại động cơ mà chúng sử dụng điện áp 12V hoặc 5 Vdc hơn (thông
qua định mức tiêu thụ dòng điện của nó tại các mức điện áp này). Trên mỗi
Trang 21
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
ổ đĩa cứng đều ghi rõ các thông số về dòng điện tiêu thụ của mỗi loại điện
áp sử dụng để đảm bảo cho người sử dụng tính toán công suất chung.
Ổ đĩa cứng thường tiêu thụ điện năng lớn nhất tại thời điểm khởi động của
hệ thống (hoặc thời điểm đĩa cứng bắt đầu hoạt động trở lại sau khi tạm
nghỉ để tiết kiệm điện năng) bởi sự khởi động của động cơ đồng trục quay
các đĩa từ, cũng giống như động cơ điện thông thường, dòng điện tiêu thụ

lỗi hoặc hư hỏng.
Sau mỗi phiên làm việc (tắt máy), các đầu từ được di chuyển đến
một vị trí an toàn nằm ngoài các đĩa từ nhằm tránh sự va chạm có
thể gây xước bề mặt lớp từ tính, một số ổ đĩa có thiết kế cần di
chuyển đầu đọc tự động di chuyển về vị trí an toàn sau khi ngừng
cấp điện đột ngột. Nhiều người sử dụng năng động có thói quen ngắt
điện trong một phiên làm việc trên nền DOS (bởi không có sự tắt
máy chính thống) rồi tháo ổ đĩa cứng cho các công việc khác, quá
trình di chuyển có thể gây va chạm và làm xuất hiện các khối hư
hỏng (bad block).
Chu trình di chuyển là một thông số lớn hơn số lần khởi động máy
tính (hoặc các thiết bị sử dụng ổ đĩa cứng) bởi trong một phiên làm
việc, ổ đĩa cứng có thể được chuyển sang chế độ tạm nghỉ (stand by)
để tiết kiệm điện năng nhiều lần.
Chịu đựng sốc
Chịu đựng sốc (Shock - half sine wave): Sốc (hình thức rung động
theo nửa chu kỳ sóng, thường được hiểu là việc giao động từ một vị
trí cân bằng đến một giá trị cực đại, sau đó lại trở lại vị trí ban đầu)
nói đến khả năng chịu đựng sốc của ổ đĩa cứng khi làm việc.
Với các ổ cứng cho máy tính xách tay hoặc các thiết bị kỹ thuật số
hỗ trợ cá nhân hay các ổ đĩa cứng ngoài thì thông số này càng cao
càng tốt, với các ổ đĩa cứng gắn cho máy tính cá nhân để bàn thì
thông số này ít được coi trọng khi so sánh lựa chọn giữa các loại ổ
cứng bởi chúng đã được gắn cố định nên hiếm khi xảy ra sốc.
Nhiệt độ và sự thích nghi
Tất cả các thiết bị dựa trên hoạt động cơ khí đều có thể bị thay đổi
thông số nếu nhiệt độ của chúng tăng lên đến một mức giới hạn nào
đó (sự giãn nở theo nhiệt độ luôn là một đặc tính của kim loại), do
đó cũng như nhiều thiết bị khác, nhiệt độ là một yếu tố ảnh hưởng
đến quá trình làm việc của ổ đĩa cứng nhất là bên trong nó các

Trang 24
HVTH: Nguyễn Phạm Phú Quý GVHD: GS.TSKH. Hoàn Văn Kiếm
ở ngoài trời (xứ lạnh) máy đang hoạt động (đảm bảo nó không bị
đóng băng tuyết bên trong ổ đĩa cứng).
Với nhiệt độ theo bảng ta có thể thấy rằng khí hậu ở Việt Nam hoặc
các nước gần xích đạo khác có nhiệt độ trung bình cao có lẽ ít cần có
thời gian thích ứng trước khi đưa ổ đĩa cứng vào sử dụng (trừ những
vùng có thể có nhiệt độ thấp và xuất hiện tuyết như Sa Pa ở Việt
Nam)
Các số thông số về sản phẩm
Phần dưới đây giải thích một số thông số khác của các ổ đĩa cứng.
Model: Ký hiệu về kiểu sản phẩm của ổ đĩa cứng, model có thể được
sử dụng chung cho một lô sản phẩm cùng loại có các đặc tính và
thông số giống như nhau. Thông thường mỗi hãng có một cách ký
hiệu riêng về thông số model để có thể giải thích sơ qua về một số
thông số trên ổ đĩa cứng đó.
Serial number: Mã số sản phẩm, mỗi ổ đĩa cứng có một số hiệu này
riêng. Thông số này thường chứa đựng thông tin đã được quy ước
riêng của hãng sản xuất về thời gian sản xuất hoặc đơn thuần chỉ là
thứ tự sản phẩm khi được sản xuất.
Firmware revision: Thông số về phiên bản firmware đang sử dụng
hiện thời của ổ đĩa cứng. Thông số này có thể thay đổi nếu người sử
dụng nâng cấp các phiên bản firmware của ổ đĩa cứng (nhưng việc
nâng cấp này thường rất hiếm khi xảy ra).
Một số hãng sản xuất phần mềm có thể sử dụng các thông số trên
của ổ đĩa cứng để nhận dạng tình trạng bản quyền của phần mềm
trên duy nhất một máy tính, tuy nhiên cách này không được áp dụng
rộng rãi do việc đăng ký phức tạp, không thuận tiện cho quá trình
nâng cấp ổ đĩa cứng của người sử dụng.
7. Thiết đặt các chế độ hoạt động của đĩa cứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status