Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
MỤC LỤC
B.Nội dung.....................................................................................................................2
I.Pháp luật chung về bảo hiểm tiền gửi...................................................................2
1.Khái niệm Bảo hiểm tiền gửi.........................................................................................................................3
2. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi..................................................................................................................3
II.Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi tại các ngân hàng
thương mại.................................................................................................................4
1.Các ngân hàng thương mại tham gia Bảo hiểm tiền gửi..............................................................................4
2.Xác định phạm vi tiền gửi được bảo hiểm...................................................................................................6
3.Thực tiễn và đánh giá bảo hiểm đối với tiền gửi ngoại tệ............................................................................6
4.Quy định về người được BHTG.....................................................................................................................9
5.Quy định mức phí BHTG đồng nhất không còn phù hợp...........................................................................11
6.Quy định về hạn mức BHTG chưa được điều chỉnh kip thời và chưa tạo ra sự linh động để đối phó với
các trường hợp khủng hoảng tài chính..........................................................................................................13
7.Quy định về tiếp nhận, xử lý các tổ chức tham gia BHTG phá sản,giải thể................................................16
III.Hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi..........................................17
1.Không nên loại trừ khoản tiền gửi để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền ra khỏi phạm vi
tiền gửi được bảo hiểm.................................................................................................................................17
2.Cần mở rộng đối tượng tham gia BTHG.....................................................................................................17
3.Cần tiếp tục quy định không bảo hiểm đối với tiền gửi bằng ngoại tệ để phục vụ cho chính sách quản lý
ngoại hối của quốc gia...................................................................................................................................18
4.Cần quy định chỉ bảo hiểm cho người gửi tiền là cá nhân.........................................................................18
5.Cần có quy định phí BHTG dựa trên mức độ rủi ro của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi....................19
6.Cần điều chỉnh hạn mức BHTG phù hợp với điều kiện hiện nay và có quy định dự liệu cho trường hợp
khủng hoảng tài chính....................................................................................................................................19
C.Kết luận....................................................................................................................20
A.Lời mở đầu.
Bài tập học kì Trang 1/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
Hệ thống bảo hiểm tiền gửi trên thế giới đã có lịch sử hoạt động hơn 70 năm.
Bài tập học kì Trang 2/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
1. Khái niệm Bảo hiểm tiền gửi.
Hiện nay các quy định về bảo hiểm tiền gửi (BHTG) chủ yếu được quy định tạo
Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 1/9/1999 về bảo hiểm
tiền gửi, Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều
Nghị định số 89/1999/NĐ-CP, Thông tư của Ngân hàng nhà nước Việt Nam số
03/2006/TT-NHNN ngày 25/04/2006 cùng một số văn bản khác có quy định về quản
lý tài chính đối với bảo hiểm tiền gửi. Theo các quy định pháp luật hiện hành thì có
thể hiểu "Bảo hiểm tiền gửi là một loại hình bảo hiểm phi thương mại, theo đó tổ chức
tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng có nhận tiền gửi bằng đồng Việt
Nam của khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công
ty hợp danh thì bắt buộc phải tham gia đóng phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam theo quy định. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam sẽ có trách nhiệm thay tổ chức nhận tiền gửi đó trả các khoản tiền
gửi được bảo hiểm của các khách hàng gửi tiền ở tổ chức tham gia bảo hiểm đó"
2
.
2. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi.
BHTG là loại hình bảo hiểm phi thương mại. BHTG không thuộc phạm vi điều
chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 mà được điều chỉnh bằng quy chế
pháp lý riêng. BHTG cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho người gửi tiền nhưng dịch vụ
này mang tính xã hội cao Vì nội dung của hoạt động ngân hàng là thực hiện kinh
doanh tiền tệ, một hoạt động luôn tiềm ẩn rủi ro và đổ vỡ mang tính dây chuyền. Do
vậy khi ra đời, mục tiêu của hoạt động BHTG không nhằm mục đích tìm kiếm lợi
nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần đảm
bảo tính ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Người gửi tiền có tiền gửi vào tổ
chức nhận tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ
chính sách BHTG thông qua việc họ được tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm, khi tổ
chức nhận tiền gửi của họ không thể chi trả, mất khả năng thanh toán.
trở thành đối tượng tham gia BHTG. Phạm vi này đã được quy định khá rõ tại Điều 2 -
Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/9/1999 về bảo hiểm
tiền gửi và Điều 1 - Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 sửa đổi, bổ sung
một số điều Nghị định số 89/1999/NĐ-CP quy định: "Các tổ chức tín dụng và tổ chức
không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo
quy định của Luật tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân phải tham gia
bảo hiểm tiền gửi bắt buộc". Qua hơn mười năm hoạt động, cho đến nay, BHTG Việt
Bài tập học kì Trang 4/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
Nam đã thực hiện bảo vệ quyền lợi cho hàng chục triệu người gửi tiền tại hơn 1.000 tổ
chức tín dụng và số lượng tổ chức tham gia BHTG đang ngày một tăng. Pháp luật Việt
Nam quy định các tổ chức nhận tiền gửi bắt buộc phải tham gia BHTG, chính vì lẽ đó
hầu hết các ngân hàng thương mại đều tham gia vào bảo hiểm tiền gửi, trong đó có cả
các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài cũng tham gia BHTGVN. Cùng với các cơ
quan giám sát tài chính khác trong hệ thống các cơ quan đảm bảo an toàn tài chính
quốc gia, BHTG đóng vai trò quan trọng thực hiện việc bảo đảm an toàn hoạt động
ngân hàng. Theo báo cáo thường niên của BHTG Việt Nam, tính đến cuối năm 2008,
BHTG Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 1,077 tổ chức nhận tiền gửi, bao gồm 5 ngân
hàng thương mại quốc doanh, 34 ngân hàng thương mại cổ phần, 32 chi nhánh ngân
hàng nước ngoài; 5 ngân hàng liên doanh, 10 TCTD phi ngân hàng, QTDND Trung
ương và 990 QTDND cơ sở. Các tổ chức này đều được cấp giấy Chứng nhận BHTG.
Những số liệu này không chỉ cho thấy ý thức tuân thủ các quy định pháp luật
mà quan trọng hơn là sự tin cậy và mong muốn được hưởng lợi ích từ BHTGVN của
các ngân hàng thương mại. Thông qua việc tham gia BHTG, BHTG Việt Nam kịp thời
đưa ra những kiến nghị và cảnh báo giúp các ngân hàng thương mại tham gia BHTG
khắc phục các sai phạm và có biện pháp để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thông
qua thực hiện hoạt động giám sát sát từ xa và kiểm tra tại chỗ. Trong quý 4/2008, có
81/82 ngân hàng tham gia bảo hiểm được giám sát (ngoại trừ Ngân hàng Sumitomo
chi nhánh Hà Nội). Có thể thấy, trong những năm qua BHTG Việt Nam từng bước cải
tiến và áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong việc kiểm tra, giám sát đối với tổ chức
hiểm là đồng Việt Nam, bao gồm các loại tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn của cá
nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ
chức tham gia BHTG, theo pháp luật hiện nay, hoạt động gửi tiền bằng đồng ngoại tế
Bài tập học kì Trang 6/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
vẫn chưa thuộc đối tượng được bảo hiểm. Đều này sẽ là phù hợp nếu câc giao dịch tại
các tổ chức tín dụng đều được thực hiện bằng đồng Việt Nam và số ngoại tệ được giao
dịch là không đáng kể. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy, Việt Nam là một quốc gia có
tỷ lệ đô la hóa cao, việc người dân thực hiện các giao dịch không chỉ tại các ngân hàng
mà đơn giản là trong cuộc sống thường nhật cũng không phải là điều xa lạ. Theo số
liệu Thống kê
3
.
Tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ/ tổng số vốn huy động của hệ thống ngân hàng (%)
Như vậy, để bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền có nên chăng quy định tiền gửi
bằng loại tiền nào cũng cần được bảo hiểm ? BHTG đối với cả ngoại tệ sẽ tạo cơ hội
cho các ngân hàng thu hút được nguồn ngoại tệ lớn trong công chúng, khuyến khích
lượng kiều hối từ nước ngoài gửi về Việt Nam cho đầu tư và phát triển đất nước. Nếu
chỉ bảo hiểm đồng Việt Nam sẽ không khuyến khích được người có ngoại tệ gửi tiền
vào ngân hàng. Liệu chúng ta có thể hiểu việc chỉ bảo hiểm đối với đồng Việt Nam là
một sự phân biệt đối xử của pháp luật đối với ngoại tệ hay không. Chính sách của Nhà
nước là tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, cho phép các ngân hàng nhận
tiền gửi bằng ngoại tệ, vì vậy, việc xem xét việc BHTG cho đồng ngoại tệ là điều nên
làm.
Tuy nhiên việc ủng hộ quan điểm không bảo hiểm đối với tiền gửi ngoại tệ xuất
phát từ những lý do sau :
Thứ nhất, chính sách quản lý ngoại hối của bất kì quốc gia nào cũng đều hướng
đến mục tiêu trên lãnh thổ quốc gia chỉ sử dụng đồng nội tệ của quốc gia đó. Chính
3
Số liệu của tổng cục thống kê năm 2005
toán trong Canada hoặc không bằng đồng tiền Canada”.
Bài tập học kì Trang 8/20