Lời nói đầu
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh luôn gắn liền với
nhiều rủi ro tiềm ẩn nh rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro mất khả
năng thanh toán Vì vậy việc đỗ vỡ và phá sản của các tổ chức tín dụng hoạt
động yếu kém là điều tránh khỏi. Đối với nền kinh tế việc xử lý những hậu
quả do quá trình kinh doanh không thành công của các tổ chức tín dụng
không đơn giản chỉ là tuyên bố phá sản tổ chức này hay đơn vị kia mà trớc hết
nó làm tổn thơng đến niềm tin của dân chúng. Nếu không có những biện pháp
thích hợp sẽ còn gây ra những bất ổn khôn lờng về kinh tế chính trị, xã hội ,
gây hoang mang dao động trong dân chúng và tạo ra tâm lý bất lợi cho hoạt
động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của ngời gửi tiền, góp phần duy trì sự ổ định các tổ chức tín dụng nói riêng và
bảo đảm cho sự an toàn lành mạnh trong hoạt động của ngành ngân hàng nói
chung. Ngày 01/09/1999 Chính phủ đã ban hành nghị định số 89/1999 NĐ-CP
về bảo hiểm tiền gửi và ngày 09/11/1999 thủ tớng Chính phủ đã ra quyết định
số 218/1999/QĐ-TTg về thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Nh
vậy đây là một hoạt động bảo hiểm mới đợc triển khai ở Việt nam, hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận và đợc phối hợp giữa chính phủ và ngân hàng nhà
nớc Việt nam. Chính vì thế em rất quan tâm và muốn tìm hiểu nghiệp vụ này
đợc triển khai nh thế nào ở Việt nam. Do đó em đã chọn đề tài "Bảo hiểm
tiền gửi ở Việt nam" để làm đề án môn học.Với sự hiểu biết của bản thân và
sự hỡng dẫn nhiệt tình của Cô giáo Tô Thị Thiên Hơng em đã hoàn thành đề
tài này.
Vì đây là lần đầu tiên đi sâu nghiên cứu một nghiệp vụ bảo hiểm nên
còn nhiều thiếu sót và còn mang nặng lý thuyết nên kính mong Cô xem xét và
góp ý, em xin chân thành cảm ơn.
1
Chơng I tổng quan về bảo hiểm tiền gửi
I. sự cần thiết của bảo hiểm tiền gửi.
1. Chức năng của tín dụng
trọng. Thông qua tín dụng các doanh nghiệp nhận khối lợng vốn bổ sung rất
lớn từ đó tăng quy mô sản xuất hoặc tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị
áp dụng tiến bộ kỹ thuật. Tín dụng tập trung các khoản tín dụng nhỏ, lẻ tẻ
thành các khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu t vào các công trình lớn, hiệu quả
cao. Tóm lại, thông qua quá trình tích tụ và tập trung vốn tín dụng thúc đẩy
lực lợng sản xuất phát triển. Tín dụng giúp các nhà doanh nghiệp đầu t vào
các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao kích thích khả năng cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chuyển hỡng sản xuất kinh
doanh. Tín dụng trở thành công cụ làm cho kinh tế nói chung và các doanh
nghiệp nói riêng trở nên năng động, mềm dẻo, linh hoạt. bên cạnh đó, tín
dụng là công cụ tăng vòng quay của vốn và tiết kiệm tiền mặt trong lu thông.
3. Sự cần thiết của bảo hiểm tiền gửi .
2
Trong các hoạt động kinh tế , tín dụng là một trong những hoạt động phát
triển mạnh mẽ, hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận rất cao nên có rất nhiều
rủi ro và chúng có thể xảy ra bất cứ lúc nào gây ra những thiệt hại không lờng
trớc .hoạt đông tín dụng có thể gặp những rủi ro sau:
Rủi ro tín dụng là nguy cơ ngời cho vay không thực hiện nghĩa vụ tả nợ
cho ngân hàng
Rủi ro về tính thanh khoản là nguy cơ không bán đợc các tài sản nhanh
chóng trừ khi chịu chiết khấu lơns.
Rủi ro về giá là nguy cơ bị lỗ do những thay đổi không lờng trớc đợc
của giá cả , chẳng hạn nh những thay đổi về tỷ giá hối đoái hay lãi suất.
Rủi ro hệ thống là nguy cơ một hay một số khách hàng không trả nợ
hoặc rút tiền gây nguy hiểm cho toàn hệ thống tài chính.
Rủi ro đạo đức là một khía cạnh quan trọng liên quan mật thiết đến
động cơ hành động.
Các rủi ro trên có thể xẩy ra lúc nào gây ra tổn thất cho các tổ chức tín
dụng nh mất mát về tài sản, thu nhập làm cho tổ chức tín dụng bị thua lộ
thậm chí bị phá sản. Rủi ro tín dụng xẩy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác
Bảo hiểm tiền gửi là bảo hiểm trách nhiệm của tổ chức tín dụng đối với các
khoản tiền gửi.
1.2 Đặc điểm
Đây là loại hình bảo hiểm trách nhiệm, tuy nhiên trong thời kỳ đầu triển
khai nó thờng đợc thực hiện dới hình thức tự nguyện, sau đó khi đã đi
vào quỹ đạo chung của nền kinh tế thị trờng thì luật pháp các nớc quy
định là hình thức bắt buộc đối vơí các tổ chức tín dụng.
Rủi ro bảo hiểm rất đặc biệt: chịu sự chi phối của tất cả các yếu tố kinh
tế - chính trị -văn hoá cho nên rủi ro đợc bảo hiểm và rủi ro không đợc
bảo hiểm xẩy ra trong cho nên rủi ro đợc bảo hiểm và rủi ro không đợc
bảo hiểm có thể thay đổi theo thời kỳ.
Mặc dù là bảo hiểm trách nhiệm nhng trách nhiệm ở đây nhà bảo hiểm
có thể biết trớc hoặc lờng trớc(thông qua số d tiền gửi).
Các công ty bảo hiểm thông thờng trên cơ sở những khoản tiền gửi có
kỳ hạn.
Đây là loại hình bảo hiểm trách nhiệm đặc biệt: về đối tợng tham gia,
đối tợng bảo hiểm, ngời thứ 3, thời hạn tính phí chẳng hạn nh ngời tham
gia là tổ chức tín dụng, họ nộp phí bảo hiểm cho ngời thứ 3 là ngời gửi
tiền.
2. Vai trò
Cũng nh hoạt động tín dụng bảo hiểm tiền gửi cũng đóng vai trò rất lớn:
Đối với nền kinh tế: hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có
liên quan trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các tổ chức, các
doanh nghiệp, ngời gửi tiền nếu có rủi ro xẩy ra gây thiệt hại lớn hoặc
phá sản một vài tổ chức tín dụng sẽ tạo ra tâm lý không an toàn đối với
nhân dân, họ đua nhau rút tiền làm phá sản hàng loạt các ngân hàng và
tổ chức tín dụng từ đó làm cho nhiều doanh nghiệp mất vốn, nền kinh
tế thiếu vốn trầm trọng lãnh đạo nền sản xuất bị đình trệ và ảh hởng tới
toàn bộ nền kinh tế. Do đó bảo hiểm tiền gửi ra đời góp phần thúc đẩy
nền kinh tế phát triển.
nhiều phơng thức khác nhau để xử lý các ngân hàng bị đổ vỡ nh trợ giúp tài
chính cho việc sáp nhập và phục hồi ,mua tài sản và nhận tài sản nợ bổ sung
cho việc thanh toán bảo hiểm hoặc thực hiện việc chuyển tiền gửi trong trờng
hợp ngân hàng bị đóng cửa sang tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khác . cơ
chế này thờng áp dụng trong trờng hợp nền kinh tế có khủng hoảng.
1.2 Bảo hiểm theo phạm vi hạn chế .
Các khoản tiền gửi đơc bảo hiểm đến một giới hạn tối đa . Hiện nay có 67
quốc gia đang áp dung cơ chế này nh Hồng Kông, Aó , Đan Mạch , Brazin
và thờng tập trung vào những ngời gửi tiền nhỏ. Cơ chế này bảo vệ hệ thống
ngân hàng ngăn chặn việc lây lan hiện tợng rút tiền ồ ạt ra khỏi nhng vẫn duy
trì nguyên tắc của thị trờng ở mức độ đáng kể ,và nó giúp ngân hàng tránh
phải chịu rủi ro quá mức. Đối với cơ chế bảo hiểm này các quốc gia quy định
nhà bảo hiểm tiền gửi không đợc quyền cung cấp , trợ giúp cho việc sáp nhập
hoặc khôi phục lại những nh bị suy yếu , vì điều này có thể làm tăng việc bảo
vệ thực tế cho những ngời gửi tiền không đợc bh hoàn toàn. Cơ chế này thờng
đợc áp dụng trong thời kỳ hệ thống tài chính ổn định.
1.3 Bảo hiểm theo phạm vi tuỳ chọn.
Cơ chế này nằm giữa cơ chế bảo hiểm hoàn toàn và cơ chế bảo hiểm có
giới hạn. Thông thờng trong thời kỳ hệ thống tài chính ổn định thì các quôc
gia áp dụng theo phạm vi hạn chế còn khi có khủng hoảng tài chính thì
chuyển sang cơ chế bảo hiểm toàn phần. Theo đó tất cả những khoản tiền gửi
đợc bh đến một giới hạn tối đa và thờng là theo mức tiết kiệm của những ngời
gửi tền nhỏ. Tuy nhiên, trong những điều kiện đặc biệt ,để bảo vệ hệ thống
ngân hàng nhà bảo hiểm tiền gửi có thể mở rộng phạm cho cả những ngời
gửi tiền không đợc bảo hiểm hoàn toàn , khi các cơ quan chức năng của chính
phủ và nhà bảo hiểm xác định rằng thiệt hại của những ngời gửi tiền không đ-
ợc bảo hiểm hoàn toàn sẽ tác động đến lòng tin của công chúng từ đó có thể
5
gây ra hiện tợng rút tiền ồ ạt lan rộng . Do đó phạm vi bảo hiểm tuỳ chọn có
thể đa ra sự bảo vệ hoàn toàn cho những ngời gửi tiền nhỏ và có thể bảo vệ hệ
hợp băt buộc . ở đây nhà nớc thành lập cơ quan bảo hiểm chuyên trách và
hoạt động trên cơ sở không vì lợi nhuận. Vốn hoạt động của cơ quan này gồm
tiền đóng góp của các ngân hàng và kinh phí từ ngân sách nhà nớc.Tổ chức
bảo hiểm tiền gửi do các ngân hàng tập nên thờng gọi là quỹ bảo toàn tiền gửi
của hiệp hội ngân hàng , do đó nhà nớc không can thiệp trực tiếp, chỉ tạo điều
kiện pháp lý cho thành lập và hoạt động . Quỹ ra đời nhằm mục đích tơng hỗ
vì lợi ích chung của hội viên, không vì mục đích kinh doanh chia lời. Vốn
hoạt động của quỹ không phải từ ngân sách nhà nớc mà từ tiền đóng góp của
các ngân hàng thành viên. Hình thức thứ ba là liên doanh giữa nhà nớc với
ngân hàng, là sự kết hợp giữa chính phủ và ngân hàng nhà nớc thành lập nên
tổ chức bảo hiểm tiền gửi , trong đó nhà nớc cấp vốn ban đầu và thực hiện
giám sát, thanh tra qua hệ thống văn bản pháp quy, quy chế đã ban hành, còn
phía ngân hàng đứng ra tổ chức thực hiện và quản lý điều hành các hoạt
động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi .
6
Mỗi mô hình có những u điểm nhợc điểm riêng do đó trong quá trình
nghiên cứu triển khai phải tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, từng thời kỳ
giai đoạn mà áp dụng mô hình hợp lý cho nớc mình tạo điều kiện ổn định và
trợ giúp hoạt động tín dụng góp phần tăng trởng và phát triển kinh tế.
3. Giới thiệu một số mô hình bảo hiểm tiền gửi .
3.1 Bảo hiểm tiền gửi ở Mỹ.
Đây chính là nơi khai sinh ra hoạt dộng bảo hiểm tiền gửi, vào năm 1929
sau vụ đại suy thoái kinh tế nhiều ngân hàng bị phá sản đã gây tổn thất lớn
cho những ngời gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng. Năm 1934 Mỹ đã chấn chỉnh
lại hệ thống bảo hiểm tiền gửi ngân hàng, thành lập công ty bảo hiểm tiền gửi
liên bang gọi tắt FDIC là một tổ chức liên bang độc lập. FDIC bảo hiểm các
khoản tiền gửi trong ngân hàng với khoản tiền đợc bảo hiểm tối đa là 2.400$
theo quy định đầu tiên. Theo thời gian giới hạn bồi thờng cho mỗi khoản tiền
gửi tối đa là100.000$.Tất cả các ngân hàng thơng mại và ngân hàng tiết kiệm
là thành viên của hệ thống dự trữ liên bang đều phải mua bảo hiểm tại FDIC.
khoản tiền gửi từ lúc bị loại ra nh vậy sẽ không đợc chấp nhận bảo hiểm,
còn những khoản tiền trớc đó thì cũng chỉ đợc tiếp tục bảo hiểm thêm hai
năm nữa. Luật pháp Mỹ còn cho phép nếu FDIC không đủ vốn dự trữ bồi
thờng các vụ tổn thất lớn thì có thể đợc vay vốn ở kho bạc nhà nớc vơí
mức vay tối đa là 3 tỷ USD.
3.2 Bảo hiểm tiền gửi ở Đức.
ở CHLB Đức có 3 hệ thống đảm bảo an toàn tiền gửi đợc thiết lập .
3.2.1 Hệ thống bảo hiểm tiền gửi thuộc hiệp hội ngân hàng thơng mại Đức .
Mục tiêu hoạt động của quỹ , quỹ ra đời nhằmbảo vệ quyền lợi ngời gửi
tiền tại các ngân hàng thơng mại , giữ cho hoạt động của ngân hàng thơng
mại luôn ổn định . Quỹ còn bảo vệ uy tín của ngân hàng đối với khách
hàng, bảo đảm độ tin cậy của ngòi gửi tiền vào các ngân hàng thơng mại.
Các thành viên tham gia bao gồm : Các ngân hàng thơng mại là hội viên
của hiệp hội ngân hàng thơng mại Đức, các ngân hàng không phải là hội
viên nhng tự nguyện cũng đợc tham gia.
Phạm vi bảo hiểm gồm các loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn , không kỳ
hạn của các cá nhân và doanh nghiệp . Bên cạnh đó quỹ còn nhận bảo
hiểm cho các kỳ phiếu ngân hàng và các chứng chỉ tiền gửi đích danh.
Loại trừ các loại kỳ phiếu những chứng phiếu tiền gửi vô danh, tiền gửi
liên ngân hàng, và các tổ chức phi chính phủ, đoàn thể, tiền gửi của hội
đồng quản trị và ban giám đốc, các cổ đông ngân hàng có cổ phần trên
5%, tiền gửi mang danh bằng kỳ hiện mặt hay bảo lãnh.
Vốn hoạt động của quỹ do các ngân hàng thanh viên đóng góp với mức
phí 0.03%/số d tiền gửi đợc bảo hiểm. Nếu nh năm nào ngân hàng thành
viên gặp khó khăn trong kinh doanh thì không phải nộp phí nhng tiền gửi
vẫn đợc bảo hiểm.
3.2.2. Hệ thống bảo hiểm tiền gửi thuộc hiệp hội ngân hàng Hợp tác xã
Raiffcisen và quỹ tiết kiệm
Hệ thống này ra đời từ năm 1930, mục tiêu ở đây dợc xác định là bảo vệ
bản thân các tổ chức tín dụng luôn hoạt động trong trạng thái ổn định. Các tổ
I. Sự ra đời và phát triển.
1. Vì sao bảo hiểm tiền gửi ra đời ở Việt Nam.
Bất cứ nền kinh tế nào muốn hoạt động,tăng trởng và phát triển thì cũng
cần phải có một hệ thống tài chính tín dụngổn định và vững mạnh sự tồn tại và
9
hoạt động của một tổ chức tín dụng có ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
một tổ chức khác , do đó nó có thể ảnh hởng tới toàn bộ hệ thống. điều này
đúng với thực tế Việt Nam chúng ta hiện nay. Cũng nh các doanh nghiệp , tổ
chức khác thì bảng cân đối của tổ chức tín dụng cũng có hai phần là tài sản
có và tài sản nợ,trong đó tài sản nợ là tài sản ngân hàng nợ thị trờng và chủ
yếu là các khoản tiền gửi. Nh vậy,tiền gửi là bộ phận quan trọng của tổ chức
tín dụng cũng nh cả hệ thống ngân hàng. Sự ổn định của tiền gửi dợc biểu hiện
ở tốc độ tăng tiền gửi, biến động của cơ cấu tiền gửi. Nhân tố quyết định đến
tỷ lệ tiết kiệm là niềm tin của ngời gửi,tốc độ tăng tiền gửi cũng bị chi phối
bởi khả năng lựa chọn của ngời gửi tiền và tập quán tiết kiệm của dân c.ở các
nớc đang phát triển do thị trờng tài chính kém phát triển các công cụ tài chính
còn thô sơ ,độ rủi ro cao,thêm vào đó là tâm lý tiết kiệm chi tiêu trong điều
kiện thu nhập thấp đặc biệt là các nớc châu ávà Việt Nam. Chính vì vậy tiền
gửi ở các tổ chức tín dụng thờng ở mức độ cao. Do đó nếu ngời gửi tiền vì một
lý do nào đó nghi ngờ rằng tổ chức tín dụng mà mình gửi tiền đang gặp khó
khăn có thể mất khả năng thanh toán, họ sẽ lập tức rút tiền khỏi các tổ chức
này. vì thế các tổ chức tín dụng này sẽ mất đi một khoản dự trữ, nếu nghi ngờ
ban đầu của môt hoặc vài ngời bị lây lan thì sẽ tạo ra một tâm lý bất an cho
những ngời gửi tiền khác và có thể họ cũng sẽ rút tiền của mình để chuyển
đến một địa điểm khác an toàn hơn. càng có nhiều ngời rút tiền dự trữ của các
tổ chức tín dụng ngày càng cạn kiệt và khả năng thanh toán ngày càng giảm
xuống. Không chỉ dừng lại đó nếu nhà nớc không có những biện pháp kịp thời
chấn an tinh thần và khôi phục niềm tin của dân chúng thì sẽ gây ra phản ứng
vỡ nợ dây chuyền. Từ đo dẫn tới một cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn diện
với sự phá sản đồng thời nhiều ngân hàng. Thực tế đã chứng minh, ở Việt
nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển.
2. Các giai đoạn phát triển của bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam.
2.1 Trớc năm 1999.
Do nhận thức đợc tính chất phức tạp, đặc điểm về hoạt động của quỹ tín
dụng nhân dân và những bài học kinh nghiệp của sự đổ vỡ hợp tác xã tín dụng
trớc đây đặc biệt là lấy lại niềm tin cảu quần chúng nhân dân, đề án thí điểm
thành lập quỹ tín dụng nhân dân theo quyết định số 390/TTg ngày 27/7/1993
của Thu tớng chính phủ, Bộ tài chính thành viên của ban chỉ đạo trung ơng về
thí điểm đã ban hành Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân
dân đối với tiền gửi của dân có kỳ hạn. Theo quyết định 101/TC-QĐ-BH
ngày 1/2/1994, bằng quyết định này các quỹ tín dụng nhân dân tham gia bảo
hiểm tiền gửi của Bảo Việt có tác dụng khôi phục lòng tin và thu hút đợc tiền
gửi trong các tầng lớp dân c trong khi các tổ chức tín dụng khác cha thực hiện.
Tuy nhiên do quyết định ban hành trong bối cảnh cha có nhiều kinh
nghiệp nên còn nhiều hạn chế nhất định :
Thứ nhất, phí đóng góp bảo hiểm tiền gửi cho bảo việt chỉ có tác dụng trả
tiền gửi cho ngời gửi khi bị giải thể hoặc phá sản, nhng khi quỹ tín dụng gặp
nguy cơ mất mát khả năng chi trả, khả năng thanh toán khó đợc trợ giúp do
không có tổ chức để quản lý, giám sát rủi ro.
Thứ hai, phí đóng góp trở thành nguồn tài chính cho Bảo Việt nó không
còn là tài sản chung của quỹ tín dụng nhân dân, theo cơ chế này nguồn phí
đóng góp hàng tỷ đồng để mua bảo hiểm hàng năm ra đi và mất hút khi nào
quỹ tín dụng nhân dân bị xóa sổ ngời gửi tiền mới đợc đền bù.
Cũng về vấn đề phí đó là tỷ lệ phí 0,165%, số d tiền gửi có kỳ hạn mỗi
quý là quá cao, trong khi đó chỉ bảo hiểm cho loại tiền gửi có kỳ hạn tính
bằng VNĐ. Vì thế các quỹ tín dụng nhân dân nhận thấy mô hình bảo hiểm
này tỏ ra không thích hợp nên đã không hào hứng tham gia.
2.2 Sau 1999 đến nay.
Sau một thời gian hoạt động thí điểm do một số nguyên nhân khách quan
và chủ quan, mô hình bảo hiểm tiền gửi của Tổng công ty Bảo Việt đã bộc lộ
khoản cá nhân.
- Tiền mua các chứng chỉ tiền gửi và các trái phiếu ghi danh do cơ quan nhà
nớc có thẩm quyền cho phép tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát
hành.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không bảo hiểm đối với các loại chứng chỉ
tiền gửi và trái phiếu vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát
hành.
1.2 Đối tợng tham gia bảo hiểm
Căn cứ vào nghị định 89/NĐ-CP ngày 01/9/1999 thì đối tợng tham gia
bảo hiểm tiền gửi Việt Nam với hình thức bắt buộc là tất cả các tổ chức tín
dụng. Tổ chức tín dụng là các doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định của
pháp luật. Các tổ chức tín dụng và các luật khác có liên quan với nội dung là
thơng xuyên nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng cung ứng các
dịch vụ thanh toán.
Hiện nay ở Việt Nam, các tổ chức tín dụng đợc phân thành 2 loại là tổ
chức tín dụng ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Các tổ chức tín dụng ngân hàng đợc phân loại theo các hình thức sau:
* Theo hình thức sở hữu gồm có:
- Ngân hàng thơng mại quốc doanh
- Ngân hàng thơng mại cổ phần :
+ Ngân hàng thơng mại chính phủ đô thị
+ Ngân hàng thơng mại chính phủ nông thôn
- Ngân hàng liên doanh
- Chi nhánh ngân hàng nớc ngoài
* Theo hình thức hoạt động gồm có:
12
- Ngân hàng công thơng
- Ngân hàng ngoại thơng
- Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Ngân hàng đầu t và phát triển
dụng từ chối thanh toán và chỉ có cách này thì mới có thể thu hồi đợc tiền.
2.1.3 Phải chấp hành lệnh thanh lý vì một lý do khác với việc phá sản hay mất
khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng .
Trờng hợp này xảy ra khi cơ quan có thẩm quyền xét thấy tổ chức tín dụng
mặc dù vẫn có khả năng thanh toán nhng không đúng mục đích đã đề ra , và
không muốn toà án can thiệp mà quyết định thanh lý quỹ không cho hoạt
động tiếp. Trong trờng hợp này bảo hiểm sẽ giải quyết bồi thờng cho những
ngời gửi tiền nhng sẽ đợc thế quyền để đợc hởng số tiênf thanh lý tài sản hay
đòi nợ.
13
2.1.4 Giải thể tự nguyện do bị đặt trong tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá
sản của tổ chức tín dụng .
Tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá sản của tổ chức tín dụng là tình trạng tổ
chức tín dụng bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc gặp khó khăn khi đã
áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn. Tuy nhiên không muốn toà án can thiệp và các cổ đông của tổ chức
tín dụng chấp nhận tuyên bố giải thể. Trong trờng hợp này,bảo hiểm cũng có
trách nhiệm bồi thờng đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn mà tổ chức tín
dụng không thanh toán hết sau khi có quyết định giải thể.
2.1.5 Không thể thực hiện việc thanh toán cho những ngời gửi tiền vì một
mệnh lệnh của toà án đối với tổ chức tín dụng .
Xảy ra trong trờng hợp tổ chức tín dụng cố ý không thanh toán nợ và chủ
nợ đệ đơn lên toà án để có lệnh bắt buộc tổ chức tín dụng phải tuyên bố phá
sản hay thanh lý để trả nợ , các chủ nợ cho rằng chỉ có cách này họ mới thu đ -
ợc các khoản. Lệnh của toà án cũng đợc áp dụng khi:
- Tổ chức tín dụng không có phơng án hoà giải và có giải pháp tổ chức lại
hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của toà án .
- Tổ chức tín dụng không tham gia hội nghị chủ nợ để trình bày các phơng
án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của tổ chức
tín dụng
định. Phí bảo hiểm tiền gửi đợc tính 4 kỳ trong năm và đợc nộp vào ngày cuối
tháng của kỳ. Số phí phải nộp cho mỗi kỳ tính bằng công thức sau đây:
P = [S
0
+ S
3
/2 + S
1
+ S
2
]/3 * R/4.
Trong đó: P là số phí bảo hiểm phải nộp trong kỳ .
S
0
là số d tiền gửi đợc bảo hiểm đầu kỳ thu phí.
S
1
,
S
2
, S
3
là số d tiền gửi đợc bảo hiểm ở cuối tháng tơng ứng trong kỳ.
R tỷ lệ phí phải nộp hàng năm (R = 0.15%).
Do đó ta thấy phí bảo hiểm đợc tính và nộp 4 lần trong năm, hàng năm
các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp cho bảo hiểm tiền gửi Việt
Nam một khoản phí bằng 0.15% tính trên số d tiền gửi bình quân của các loại
tiền gửi đợc bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Ngoài ra nếu các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vi phạm thời hạn
biện pháp khắc phục, chấm dứt những sai phạm. Trong quá trình kiểm tra,
kiểm soát bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã giúp cho các tổ chức tín dụng điều
chỉnh những bất hợp lý so với quy định của nhà nớc .
1.1 Hoạt động kiểm tra, giám sát.
Trớc hết tổ chức bảo hiểm tiền gửi kiểm tra việc chấp hành các quy định
của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi nh :
- Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi .
- Kiểm tra việc tính và nộp phí bảo hiểm tiền gửi .
- Kiểm tra các hồ sơ , giấy tờ liên quan đến tiền gửi đợc bảo hiểm .
- Kiểm tra hồ sơ, tài liệu, sổ sách, chứng từ liên quan đến các khoản hỗ trợ
tài chính của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
- Kiểm tra tính chính xác trong các thông tin, báo cáo với bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam.
Kiểm tra việc chấp hành các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng.
- Trờng hợp không đợc cho vay và hạn chế tín dụng.
- Giới hạn cho vay, bảo lãnh.
- Giới hạn góp vốn , mua cổ phần.
- Trích lập dự phòng rủi ro.
- Các quy định về quản trị điều hành.
- Tỷ lệ đảm bảo an toàn:
+ Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn đợc sử dụng để vay trung và dài
hạn .
+ Tỷ lệ về khả năng chi trả.
+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
1.2. Họat động cho vay hỗ trợ, xử lý các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
mất khả năng thanh toán .
Đối với những trờng hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nguy cơ
mất khả năng chi trả nhng cha đến mức đặt trong tình trang kiểm soát đặc
biệt sau khi xác định rằng việc tiếp tục hoạt động của tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi này có vai trò quan trọng đối với sự bảo đảm của toàn hệ thống
- Bảo hiểm tiền gửi là phơng án chi trả.
- Trình hội đồng quản trị bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phê duyệt phơng án
chi trả.
- Tiến hành chi trả.
Trong thời gian qua thực hiện chủ trơng của chính phủ nhằm đảm bảo ổn
định tình hình an ninh tài chính trên địa bàn tỉnh, thành phố, một khi ở đó có
tổ chức tín dụng yếu kém mất khả năng chi trả và bị chấm dứt hoạt động,
ngay sau khi có quyết định của uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố chấp thuận
giải thể đối với tổ chức tín dụng hoạt động yếu kém không có khả năng vực
dậy đợc bảo hiểm tiền gửi Việt Nam sẽ kịp thời phối hợp với chi nhánh ngân
hàng nhà nớc kiểm tra, đối chiếu xác minh số liệu tại các tổ chức tín dụng
này. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị chi trả tiền bảo hiêm của tổ chức tín dụng và kết
quả xác minh số liệu, bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tiến hành lập phơng án và
triển khai thực hiện chi trả tiền bảo hiểm. Cụ thể trong năm 2001 bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam đã thực hiện chi trả cho 820 ngời tại 21 tổ chức tín dụng
trên địa bàn 7 tỉnh với tổng số tiền gần 6.5 tỷ VND đợc phản ánh qua bảng
sau :
17
STT Tỉnh Số TCTD
đợc chi
trả
Số ngời đ-
ợc chi
trả(ngời)
Tổng số tiền
chi trả
(1000VNĐ)
Tỷ lệ chi
trả (%)
Số tiền chi trả
của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ta thấy bảo hiểm tiền gửi ra đời
và hoạt động ở Việt Nam đã góp phần tạo ta tâm lý an tâm, phấn khới từ
đó tạo ra lòng tin cho ngời gửi tiền đối với hệ thống các tổ chức ngân
hàng và bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng
góp phần cùng ngân hàng Nhà nớc loại bỏ chấn dứt hoạt động của một số
18
tổ chức tín dụng yếu kém, không những không còn tác dụng mà nếu
chậm đợc xoá số sẽ gây những bất lợi cho hoạt động ngân hàng , qua hoạt
động kiểm tra giám sát hỗ trợ đã giúp các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi chấn chỉnh kịp thời những sai sót trong quá trình hoạt động để tiếp
tục hoạt động có hiệu quả hơn. Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt nam với
những thành tựu của mình đã gop phần vào việc quản lý tiền tệ và hoạt
động ngân hàng đảm bảo cho hệ thống ngân hàng phát triển an toàn lành
mạnh giúp ngân hàng Nhà nớc thực hiện tốt chính sách tiền tệ để đạt đợc
những mục tiêu trong chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nớc ta.
2. Những vớng mắc.
2.1 Vớng mắc từ phía hệ thống ngân hàng
Với chức năng nhiệm vụ đợc giao bảo hiểm tiền gửi Việt nam không
những chịu trách nhiệm trớc chính phủ và thống đốc ngân hàng Nhà nớc về
hoạt động kiểm tra giám sát tất cả các tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm
tiền gửi mà còn có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích ngời gửi tiền, góp phần củng cố sự
an toàn và lành mạnh của hệ thống tổ chức tín dụng . Đợc sự quan tâm của
chính phủ cũng nh nhnn thời gian qua bảo hiểm tiền gửi đã tổ chức những đợt
kiểm tra ở những đơn vị tham gia bảo hiểm tiền gửi và đã thấy đợc những tồn
tại cũng nh những vớng mắc sau:
2.1.1 Vớng mắc trong vấn đề chấp hành các quy định của Nhà nớc về bảo
hiểm tiền gửi
- Hầu hết các đơn vị đợc kiểm tra đều cha nạp đủ các báo cáo theo quy định
của Nhà nớc cho bảo hiểm tiền gửi Việt nam .
- Có một số tổ chức tín dụng cha phân loại chính xác số d các loại tiền gửi
- Còn có các khoản vay sai quy định nh cho vay ngoài địa bàn, cho vay sai
đối tợng
- Huy động lãi suất cao, vợt xa lãi suất trần do nh nhà nớc quy định, gây
nên hiện tợng vốn vào nhiều nhng không cho vay đợc.
2.2 Vớng mắc từ phía cơ quan bảo hiểm tiền gửi .
Do mới đợc thành lập và đi vào hoạt động mọi thứ còn mới mẻ, vừa hoạt
động vừa điều chỉnh nên không thể không có sai sót. Trong thời gian hoạt
động qua nhìn nhận có thể rút ra những tồn tại sau:
2.2.1. Trong công tác kiểm tra , giám sát.
-Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đợc tách ra từ ngân hàng nhà nớc nên
cán bộ còn thiếu kinh nghiệm trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ
chức tín dụng về hoạt động bảo hiểm tiền gửi nên đôi khi còn có sự chồng
chéo giữa kiểm tra của bảo hiểm tiền gửi với kiểm tra của ngân hàng nhà
nớc
- Các phòng chức năng mới chỉ thực hiện kiểm tra tại chỗ cha triển khai
thực hiện công tác giám sát từ xa.
- Cha tích cực đôn đóc các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nộp phí và
các loại báo cáo theo quy định.
- Trong quá trình kiểm tra phát hiện thấy có những tổ chức tín dụng vi
phạm nhng chỉ nhắc nhở và xử phạt nhẹ đã làm ảnh hởng tính nghiêm
minh của luật .
- Đối tợng tham gia bảo hiểm tiền gửi rất lớn lại ở trên mọi miền đất nớc ,
lại nhiều hình thức từ các quỹ tín dụng nhân dân cở cho đến các ngân
hàng thơng mại quốc doanh nhng tổ chức bảo hiểm tiền gửi chỉ mới có
chi nhánh ở các thành phố lớn nên việc kiểm tra, giám sát còn bị hạn chế.
2.2.2 Trong công tác chi trả .
- Do mạng lới tổ chức bảo hiểm tiền gửi còn hạn chế mà các tổ chức tín
dụng bị phá sản thuộc phạm vi bảo hiểm lại ở các tỉnh rải rác nên quá
trình chi trả còn gặp không ít khó khăn,khó khăn trong quá trình thẩm
định hồ sơ chi trả và tiến hành chi trả .
hiệu quả làm thất thoát vốn dẫn tới mất khả năng trả nợ cho ngân hàng .
2. Các chính sách ở tầm vi mô.
21
2.1. Về phía tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
2.1.1. Quản lý theo dõi việc tham gia và nộp phí bảo hiểm tiền gửi .
- Quản lý theo dõi việc tham gia và cấp chứng nhận bảo hiểm tiền gửi .
+ Quản lý , theo dõi chặt chẽ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nắm
bắt kịp thời những tổ chức thuộc đối tợng chấm dứt bảo hiểm tiền gửi để
thu hồi chứng nhận bảo hiểm tiền gửi .
+ Khi có tổ chức mới dăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi phải hớng dẫn
hoàn chỉnh hồ sơ thủ tục
+ Nếu phát hiện tháy tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có sự thay đổi về
thành phần tổ chức thì yêu cầu tổ chức đó báo cáo với bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam.
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện nộp phí .
Mặc dù các tổ chức đã tham gia bảo hiểm hơn 2 năm và phí bảo hiểm đợc
nộp theo quý nhng đến nay việc chấp hành thời hạn nộp phí của các tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi vẫn cha nghiêm túc. Do đó cần phải tăng cờng
nhắc nhở , đôn đốc kịp thời các tổ chức nộp phí đầy đủ, đúng thời hạn. Còn
đối với những tổ chức có biểu hiện vi phạm nghiêm trọng các quy định của
nhà nớc về bảo hiểm tiền gửi cần phải áp dụng các biện pháp sau:
+ Thành lập đoàn kiểm tra trực tiếp tại tổ chức tín dụng đó để kết luận chính
xác những vi phạm, yêu cầu đơn vị chấn chỉnh khắc phục kịp thời.
+ Phối hợp với ngân hàng nhà nớc ra quyết định hình thức xử lý vi phạm
theo quy định của nhà nớc.
2.1.2. Nghiệp vụ kiểm tra, giám sát.
- Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cần phải tổ chức hệ thống kiểm tra giám sát
tốt, các thành viên kiểm tra phải có đủ năng lực cũng nh phẩm chất đạo
đức.
- Cần tăng số lần kiểm tra trên một tổ chức tín dụng cũng nh tăng số lợng
C.2. áp dụng chi trả theo mức trần lãi suất cho vay từng thời kỳ trừ chênh
lệch bình quân lãi suất cho vay và huy động áp dụng cho hệ thống quỹ tín
dụng nhân dân.
- Đối với những tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán thì cần xem xét
lại và phối hợp với ngân hàng nhà nớc để có biện pháp nên hỗ trợ hay c-
ơng quyết giải thể, nếu tiếp tục để tồn tại thì phải có các biện pháp tổ
chức lại và khắc phục nhanh nhất các hậu quả.
- Bên cạnh đó bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phải phối hợp giúp đỡ các tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi về nghiệp vụ liên quan đến hoạt động
bảo hiểm tiền gửi và tuyên truyền sâu rộng tới ngời dân về mục đích và
tác dụng của bảo hiểm tiền gửi.
2.1.4. Nghiệp vụ chi trả tiền bảo hiểm.
- Cần xác định đúng đối tợng từ đó nhanh chóng phối hợp để chi trả tiền
bảo hiểm cho ngời gửi tiền ở các tổ chức tín dụng bị mất khả năng chi
trả.
- Nhanh chóng thúc đẩy việc thanh lý tài sản và phải tổ chức thanh lý có
hiệu quả, nâng tỷ lệ thu hồi lên sau đó xác định quyền u tiên hởng từ tiền
thanh lý tài sản đúng quy định và thực hiện chi trả nhanh chóng.
- Cần tăng cờng đội ngũ cán bộ và các chi nhánh bảo hiểm tiền gửi ở các
tỉnh để thực hiện chi trả nhanh chóng và giảm chi phí cho việc chi trả.
- Phối hợp chặt chẽ với cán bộ địa phơng nơi diễn ra công tác chi trả hớng
dẫn ngời gửi tiền đén nhận tiền làm đúng đủ thủ tục.
2.2. Về phía các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi .
Trớc hết phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động tín dụng
cũng nh các quy định về bảo hiểm tiền gửi .
- Đối với những quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động bình thờng cần tiếp
tục nâng cao chất lợng hoạt động, nhất là chất lợng tín dụng, khắc phục
khó khăn, yếu kém đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
- Đối với các tổ chức hoạt động yếu kém, thua lỗ kéo dài có nguy cơ mất
khả năng thanh toán, chi trả chỉ cần lập phong án để giải thể nếu việc tồn
Ngân hàng nhà nớc phải giúp đỡ và phối hợp với tổ chức bảo hiểm tiền
gửi Việt nam kiểm tra giám sát các tổ chức tham gia bảo hiểm và phối
hợp chi trả tiền bảo hiểm.
Cần phải có văn bản hớng dẫn viêc xử lý các vấn đề sau thanh lý tổ chức
tín dụng bị giải thể và làm rõ căn cứ xác định thứ tự u tiên của bảo hiểm
tiền gửi trong việc phân bổ nguồn vốn thu hồi.
2. Kiến nghị với bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Cần nới rộng các quy định về bảo hiểm tiền gửi .
- Về đối tợng đợc bảo hiểm là cá nhân có tiền gửi ở các tổ chức tín dụng và
phải là đồng VN thế thì tiền gửi là đồng Việt Nam của các pháp nhân thì
giải quyết thế nào? Hiện nay các ngân hàng thơng mại có quan hệ với các
pháp nhân rất lớn do đó nếu không đợc bảo hiểm thì sẽ hạn chế việc gửi
tiền của các pháp nhân.
- Chỉ bảo hiểm tiền gửi là đồng VN còn tiền gửi là ngoại tệ, vàng không đ-
ợc bảo hiểm nhng trong thực tế tiền gửi băng ngoại tệ và vàng rất lớn mà
nhu cầu ngoại tệ của ta cũng rất lớn do đó trong thời gian tới bảo hiểm
tiền gửi Việt nam cần nghiên cứu bổ sung việc bảo hiểm cả tiền gửi là
ngoại tệ và vàng nhằm đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ cho thị trờng.
24
- Số tiền bảo hiểm đợc chi trả cho một cá nhân tối đa không quá 30 triệu,
còn lại phải chờ đợc chi trả sau khi thanh lý. Với giới hạn này sẽ làm ảnh
hởng tới việc gửi tiền của các gia đình trong xã hội vì số gia đình có thu
nhập để dành trên 30 triệu/năm ở nớc ta cũng không nhỏ. Do đó với mức
trách nhiệm này vẫn cha làm cho ngời dân an tâm gửi tiền với hàng trăm
triệu nên bảo hiểm tiền gửi cần phải tăng mức giới hạn trách nhiệm lên
để khuyến khích ngời dân.
Về phí bảo hiểm tiền gửi .
- áp dụng mức phi 0.15%/ năm cho tất cả các tổ chức tín dụng có phần tác
động tiêu cực tới tính cạnh tranh của các tổ chức tín dụng. Trong thực tế
có sự phân hoá giữa các tổ chức tín dụng, các tổ chức tín dụng khác nhau