Nghiên cứu ảnh hưởng của việc dịch chuyển thời vụ đến mức tưới cho lúa vùng ven biển Hải Hậu, tỉnh Nam Định - Pdf 27

1 MỞ ĐẦU
I.Tính cấp thiết của đề tài.
Hải Hậu là huyện ven biển của tỉnh Nam Định.Hệ thống thủy lợi Hải Hậu
có diện tích tự nhiên 27.238 ha trong đó đất canh tác có khoảng 16.555 ha giới
hạn bởi phía bắc giáp sông Ninh Cơ và huyện Giao Thủy,phía đông bắc giáp
sông Sò,phía đông và đông nam giáp vịnh bắc bộ ,phía tây và tây bắc giáp sông
Ninh Cơ.Hệ thống thủy lợi Hải Hậu có khoảng 120 km kênh chính và kênh cấp
I. Hầu hết các kênh này đều có nguồn gốc từ sông tự nhiên được cải tạo mà
thành kênh tưới tiêu kết hợp và liên thông với các sông ngoài qua các cống điều
tiết. Nguồn nước cấp cho hệ thống chủ yếu lấy từ sông Ninh Cơ.
Cũng như nhiều hệ thống thủy lợi khác ở đồng bằng Sông Hồng, hiện nay
với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm nước biển dâng và xâm nhập mặn tăng
cao.Vấn đề nước tưới cho cây lúa ở vùng ven biển Hải Hậu trở lên cấp
thiết.Một trong các giải pháp đảm bảo cấp nước tưới cho lúa là việc xác định
khung thời vụ có mức tưới nhỏ nhất mà không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và
phát triển bình thường của lúa. Do vậy, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc
dịch chuyển thời vụ đến mức tưới cho lúa vùng ven biển Hải Hậu, tỉnh Nam
Định.’’ được đề xuất nghiên cứu.
II. Mục đích của đề tài.
Nghiên cứu xác định ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ đến mức tưới cho lúa
trên cơ sở nghiên cứu sự biến động của các yếu tố khí hậu theo thời gian và
trong điều kiện biến đổi khí hậu vùng ven biển Hải Hậu thuộc tỉnh Nam Định.
III.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu sự thay đổi của mức tưới lúa trên cơ
sở dịch chuyển thời vụ và trong điều kiện BĐKH vùng ven biển Hải Hậu tỉnh
Nam Định.
số hơn 800 tỷ m3 nước được hình thành hàng năm, có 2/3 được hình thành bên
ngoài lãnh thổ. Điều này không đảm bảo sự ổn định về nguồn nước hàng năm vì
sự phụ thuộc vào tỷ lệ khai thác, sử dụng nước của các nước vùng thượng
nguồn. Mặt khác trong số gần 300 tỷ m3 nước được hình thành trong nội địa, sự
phân bố rất không đồng đều cả theo không gian và thời gian đã làm cho nhiều
vùng rất khan hiếm nước. Bên cạnh đó, nhu cầu nước của các ngành kinh tế như
công nghiệp, thủy sản, giao thông thủy, du lịch dịch vụ vv đang ngày càng gia
tăng làm cho tình hình cấp nước cang trở nên khó khăn. Ngành nông nghiệp
đang đứng trước thách thức to lớn trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt với các
về nguồn nước cấp cho tưới. Thực tế đó đã thúc đẩy việc nghiên cứu nâng cao
hiệu quả sử dụng nước trong tưới là giải pháp sống còn trong điều kiện sư cấp
nước ngày càng hạn chế trong nông nghiệp. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng
nước là việc nghiên cứu các giải pháp trong quy trình, công nghệ tưới cả trên 2
phạm vi hệ thống hay lưu vực và phạm vi mặt ruộng nhằm giảm tôn thất nước
vô ích, giảm lượng nước tiêu thụ để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm nông
nghiệp. Hay nói cách khác là tăng khối lượng sản phẩm nông nghiệp trên một
đơn vị nước tiêu thụ.
1.1.1 Trên phạm vi hệ thống:
Nghiên cứu trên phạm vi hệ thống ở Việt Nam còn ít được nghiên cứu.
Dưới đây là một số các nghiên cứu đáng chú ý.
4 Nguyễn Viết Chiến (1998) đã ứng dụng mô hình IMSOP xây dựng chế độ
vận hành quản lý hệ thống thủy nông La Khê nhằm giảm tổn thất do tưới không
đúng thời điểm, tăng hệ số sử dụng nước mưa. Các nghiên cứu của Đào Xuân
Học và Nguyễn Quang Kim (2000, 2005) chú trọng đến khả năng sử dụng nước

ngầm trong ống tại ruộng, nhiều nông dân đã áp dụng phương pháp này trong
tưới lúa theo phương pháp nông lộ phơi tại An Giang, Tiền Giang, Thừa thiên-
Huế và một số địa điểm tại Bắc Ninh, Hà Tây cũ, Thanh Hoá vv. Kết quả đã tiết
kiệm được từ 2 đến 4 đợt bơm tưới, Năng suất lúa không giảm, chống được một
số bệnh như khô vằn, đốm rỉ vv.
Trên khía cạnh nghiên cứu cơ bản, Nguyễn Xuân Đông (2008) đã tiến
hành nghiên cứu trên phạm vi ô thí nghiệm có kích thước 1,5 x 1,5 m, bố trí 12 ô
tại xã Liêm Tuyết, hưyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam trên nền đất sét pha với giống
lúa trồng đại trà IR 203. Thời gian nghiên cứu được tiến hành trong 4 vụ từ
2005-2007. Thí nghiệm được tiến hành theo 10 công thức tưới gồm:
- Tưới nông thường xuyên với lớp nước mặt ruộng 30-50mm,
- Tưới sâu thường xuyên với lớp nước mặt ruộng 50-100mm,
- Tưới nông lộ liên tiếp với công thực tưới 0-50 mm (tưới ngay sau kho
ruộng cạn nước),
- Tưới nông lộ phơi với công thức tưới 0-50mm (tưới sau khi ruộng cạn
nước 3 ngày).
- Tưới nông lộ phơi với công thức tưới 0-50mm (tưới sau khi ruộng cạn
nước 6 ngày).
- Tưới nông lộ phơi với công thức tưới 0-50mm (tưới sau khi ruộng cạn
nước 9 ngày).
6 - Tưới sâu lộ liên tiếp với công thức tưới 0-100mm (tưới ngay sau khi
ruộng cạn nước).
- Tưới sâu lộ phơi với công thức tưới 0-100mm (tưới sau khi ruộng cạn
nước 3 ngày).

sở xác định tốc độ hao nước theo từng thời kỳ của các vụ. Đây là vấn đề mấu
chốt cần phải giải quyết để có thể áp dụng quy trình tưới tiết kiệm nước trên
phạm vi hệ thống.
1.2.Ảnh hưởng của việc dịch chuyển thời vụ đến mức tưới cho lúa.
Mức tưới của cây lúa phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu ở thời vụ gieo
trồng. Sự biến động của các yếu tố khí hậu như mưa, bốc hơi theo thời gian vv.
Việc bố trí thời vụ cây trồng có thể làm thay đổi mức tưới của các loại cây trồng
ở khu vực đó.
Nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chuyển thời vụ đến mức tưới đã được Trần
viết Ổn thực hiện ở vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Trên cơ sở nghiên cứu
điều kiện khí hậu vừa đảm bảo yêu cầu cho năng suất cao và ổn định. Năng suất
cây trồng phụ thuộc vào diễn biến khí hậu trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển
của chúng.
Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở hiện trạng về thời vụ hiện nay được
dịch chuyển sớm hơn hay muộn hơn 15 ngày. Việc dịch chuyển thời vụ phải
đảm bảo các điều kiện ràng buộc sau:
+ Thời vụ cây trồng không được vi phạm các điều kiện ràng buộc về yêu
cầu nền nhiệt độ lúc trổ đối với lúa Đông Xuân.
+ Thời vụ gieo trồng lúa mùa không được vi phạm điều kiện ràng buộc về
úng ngập lúc thu hoạch.
8 Trên cơ sở dịch chuyển thời vụ, mức tưới lúa Đông Xuân của các vùng
thuộc khu vực nghiên cứu trong các trường hợp: dịch chuyển thời vụ sớm hơn
15 ngày, đúng thời vụ và muộn hơn 15 ngày được thể hiện ở bảng dưới đây.
Bảng1.1 : Mức tưới lúa Đông Xuân các vùng thuộc khu vực NTB và TN

100
114.3
3
Bình Định
5320
5880
6490
90.5
100
110.4
4
Phú Yên
3470
4570
4910
75.9
100
107.4
5
Khánh Hoà
5020
5710
6310
87.9
100
110.5
6
Bình Thuận
7150
7460

6500
6170
5480
105.3
100
88.8
Mức tưới lúa Hè Thu trên cơ sở dịch chuyển thời vụ của các vùng thuộc
khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên như ở bảng dưới đây.
9 Bảng1.2 :Mức tưới lúa Hè Thu các vùng thuộc khu vực NTB và TN
TT Tỉnh
Mức tưới (m3/ha/vụ)
Tỷ lệ (% so với thời vụ hiện
nay)
Trước
15 ngày
Hiện
trạng
Sau 15
ngày
Trước
15 ngày
Hiện
trạng
Sau 15

101.7
100
92.7
5
Khánh Hoà
7230
7360
7880
98.2
100
107.1
6
Bình Thuận
7470
7060
5730
105.8
100
81.2
Mức tưới lúa Mùa khu vực Nam Trung bộ trên cơ sở dịch chuyển thời vụ
được thống kê ở bảng dưới đây.
Bảng 1.3: Mức tưới lúa Mùa các vùng thuộc khu vực NTB
TT Tỉnh
Mức tưới (m3/ha/vụ)
Tỷ lệ (% so với thời vụ hiện
nay)
Trước
15 ngày
Hiện
trạng

100
75.3
4
Phú Yên
4300
3630
3150
118.5
100
86.8
5
Khánh Hoà
4690
3530
2730
132.9
100
77.3
6
Bình Thuận
5660
6320
6290
90.9
100
99.5
Các kết quả ở các bảng 1.1, 1.2, 1.3 cho thấy hiệu quả của dịch chuyển
thời vụ đã làm giảm đáng kể mức tưới lúa của các vụ thuộc cả hai vùng Nam 11 cho diện tích phía trong đê, đảm bảo môi trường sinh thái cho huyện Hải Hậu
và một phần huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định.
Hệ thống thủy lợi Hải Hậu được bắt đầu hình thành từ những năm đầu thế
kỷ 19 với hệ thống công trình lấy nước từ sông Ninh Cơ và công trình tiêu ra
biển. Cho đến nay, hệ thống thủy lợi Hải Hậu đã được nhà nước và nhân dân tập
trung nhiều tiền của và công sức đầu tư xây dựng được một hạ tầng cơ sở thuỷ
lợi hết sức to lớn để phục vụ mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra cho hệ thống.
Tuy nhiên cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hoá và
hiện đại hoá của đất nước. Đòi hỏi hạ tầng cơ sở thuỷ lợi hiện có cần được tiếp
tục đầu tư phát triển để đáp ứng yêu cầu cấp nước, tiêu úng, môi trường nước,
bảo vệ sự phát triển bền vững của xã hội và các ngành kinh tế trong giai đoạn
hiện tại cũng như tương lai.
2.1.1. Vị trí địa lý
Hệ thống thủy lợi Hải Hậu có toạ độ địa lý: Từ 20
0
15’đến 21
0
01’ vĩ độ
Bắc và Từ 106
0
11’ đến 106
0
22’ kinh độ Đông. Được giới hạn bởi:
Phía Bắc và giáp sông Ninh Cơ và huyện Xuân Trường
Phía Đông Bắc giáp sông Sò

từ (+0,8)
đến (+1,00)
từ (+0,6)
đến (+0,8)
từ (+0,4)
đến (+0,6)
dưới (+0,4)
Diện tích (ha)
70
1.350
12.500
2.541
50
Tỷ lệ %
0,42
8,18
75,71
15,39
0,3

2.1.3. Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng
Hầu hết đất đai của hệ thống thủy nông Hải Hậu là đất phù sa do sông
Hồng và sông Ninh Cơ bồi đắp. Trải qua quá trình canh tác lâu đời, dưới tác
dụng của con người và của thiên nhiên đất đai đã được thay đổi về hóa tính, độ
chua mặn đã được giảm nhiều.

13

1960 – nay
T,X,Z
3
Văn Lý
20
o
07’ – 106
o
18’
1960 – nay
T,X,Z
4
Liễu Đề (Nghĩa Hưng)
20
o
10’ – 106
o
10’
1980 – nay
X
5
Vụ Bản
20
o
20’ – 106
o
08’
1980 – nay
X
6
14 Bảng 1. 6. Nhiệt độ trung bình tháng tại các trạm trong khu vực và vùng
lân cận
Đơn vị:
o
C
TT
Trạm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
1
Văn Lý
16,7
17,5
20,1

nắng thuộc loại trung bình, đạt khoảng 1400 ÷ 1550giờ/năm, trong đó tháng VII
và VIII có số giờ nắng nhiều nhất đạt khoảng 150 ÷ 200giờ/tháng và tháng II, III
có số giờ nắng ít nhất khoảng 39 ÷ 55giờ/tháng.
Bảng 1. 7: Tổng giờ nắng tại các trạm trong khu vực và vùng lân cận
Đơn vị: Giờ
TT
Trạm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
1
Văn Lý
73
48
47
91
180
170
191
170
Bảng 1. 8: Bốc hơi trung bình tháng tại các trạm trong khu vực và vùng lân cận
Đơn vị: mm
TT
Trạm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
1
Văn Lý
65,9
54,2
57,6
65,2
93,0
98,2
97,6
83,3
91,3

Năm
1
Văn Lý
82,1
84,7
85,0
85,8
83,2
79,8
84,3
82,6
83,9
80,0
78,8
78,2
82,4
2
Nam
Định 83,4 85,5 87,8 89,4 82,8 83,7 84,3 88,4 87,5 83,0 81,7 80,6 84,9

16 2.1.2.4.Mưa
Tổng lượng mưa bình quân nhiều năm ở hệ thống thủy nông Hải Hậu vào
khoảng 1.757mm. Trong đó mùa hè lượng mưa tương đối dồi dào và tập trung
chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 70% lượng mưa cả năm.

mạnh đạt tốc độ từ 15m/s đến 20m/s)
Ngoài hai hướng gió chính thịnh hành theo mùa ở trên thì vùng ven biển
vào mùa hè còn có gió đất và gió biển theo chu kì ngày đêm.
Bão: Hệ thống thủy nông Hải Hậu nằm ven biển, hàng năm luôn phải chịu ảnh
hưởng của bão. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Khí tượng- Thủy văn, trung
bình mỗi năm ở đây có 2 cơn bão đổ bộ vào và thường xuất hiện từ tháng 5 đến
tháng 11, nhiều nhất vào tháng 6 đến tháng 9 gây thiệt hại về người và của cho
các huyện ven biển. Cơn bão số 5 xuất hiện tháng 9/1996 có sức gió giật trên
cấp 12 là trận bão hiếm có trong gần 100 năm lại đây đã gây thiệt hại nặng nề
cho hệ thống.
2.2.2. Đặc điểm thủy văn
2
.2.2.1. Mạng lưới sông ngòi và lưới trạm thủy văn
Hệ thống thủy nông Hải Hậu có mạng sông ngòi dày đặc. Nhìn chung, các
sông đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển. Các sông chảy
qua địa phận hệ thống thủy nông Hải Hậu phần lớn đều thuộc hạ lưu nên lòng
sông thường rộng, độ dốc nhỏ và không sâu lắm, có quá trình bồi đắp phù sa ở
cửa sông. Chịu ảnh hưởng của đặc điểm địa hình và khí hậu nên chế độ nước
sông chia làm hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn. Vào mùa lũ, lưu lượng nước
sông khá lớn, lại gặp lúc mưa to kéo dài, nếu không có hệ thống đê điều ngăn
nước thì đồng bằng sẽ bị ngập lụt. Vào mùa cạn, lượng nước sông giảm nhiều,
18 các sông chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều, khiến cho vùng cửa sông bị nhiễm
mặn.
Trên địa bàn hệ thống thủy nông Hải Hậu có 1 sông lớn là sông Ninh Cơ và

493
415
319
236
164
Nam Định
Đào
86
76
71
80
106
184
273
294
251
200
151
108
Ninh Bình
Đáy
60
54
50
58
76
119
163
180
178

3
/s thì lượng phân vào sông Ninh chỉ
khoảng 1.736m
3
/s.
Tại khu vực kè Phượng Tường, lòng sông cạn tạo bãi bồi bên Tả, gây
xói lở nghiêm trọng khu vực kè Phượng Tường dài trên 2km, tại khu vực bối
Hải Minh, tạo bơn cạn giữa dòng sông, gây tắc nghẽn và xói lở liên kè Đền
Ông – Trực Thanh dài trên 3km.
Tại khu vực ngã ba sông Ninh Cơ và kênh Quần Liêu, dòng chảy phân
từ sông Đáy sang sông Ninh tạo bơn nổi giữa dòng dài 1 – 2km, tại khu vực
Đò Mười, lòng sông cạn tạo bơn nổi giữa dòng dài xấp xỉ 2km.
Sông Ninh Cơ bao quanh phía Bắc – Tây Bắc hệ thống thủy nông Hải Hậu có
chiều dài 36 km từ cống Rộc đến cửa Ninh Cơ, là một nhánh của sông Hồng,
chịu ảnh hưởng của thủy triểu rất mạnh, về mùa lũ sông Ninh Cơ chịu ảnh
hưởng của lũ sông Hồng làm cho đỉnh triều bị biến dạng. Các cống phía trên
sông Ninh Cơ từ cống Rộc đến Cầu Phao Ninh Cường là những cống lấy nước
từ sông Ninh tưới cho toàn lưu vực, các cống phía hạ lưu cầu phao Ninh Cường
chủ yếu làm nhiệm vụ tiêu.
Trong những năm gần đây lưu lượng dòng chảy sông Ninh ngày một giảm
do diễn biến bồi lắng cửa vào và lòng dẫn khiến không đủ lượng nước trên sông
20 khiến mặn ngày một tiến sâu vào nội địa. Kết quả điều tra cho thấy tại khu vực
bối Hải Minh lòng sông bồi tạo bơn cạn giữa dòng sông gây tắc nghẽn và xói lở
liên kè Đền Ông – Trực Thanh dài trên 3km, tại khu vực Lạc Phường – Quang
cửa Đáy đến cửa Ba Lạt chủ yếu là nước mặt. Chiều sâu phân bố của tầng nước
này dao động khoảng 10 ÷ 20 m. Trữ lượng tiềm năng của tầng chứa nước này
485.638,916m
3
/ngày.
Hàm lượng Nitơ tương đối nhỏ, hầu hết các khu đều có hàm lượng Nitơ nhỏ
hơn 100mg/l. Khu vực có hàm lượng Nitơ từ 10mg/l đến 20 mg/l phân bố dưới
dạng thấu kính, rải rác khắp bề mặt diện tích khu vực nghiên cứu.
Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistoxen hệ tầng Hà Nội phân bố rộng rãi trên địa
bàn, hàm lượng clo dưới 200mg/l, tầng khai thác phổ biến ở độ sâu trung bình từ
40 ÷ 120m, ngoài ra còn phát hiện một số tầng nước ngầm có độ sâu từ 250 ÷
350m, đây là nguồn nước ngọt có chất lượng tốt có thể khai thác phục vụ cho
sinh hoạt và sản xuất công nghiệp.Trữ lượng tiềm năng của tầng chứa nước này
là 140.970,95 m
3
/ngày.
Chất lượng nước: Tổng độ khoáng hoá biến đổi tăng dần theo hướng đi từ biển
vào đất liền.
2.2.2.4. Dòng chảy bùn cát
Trong mùa lũ 80% lượng bùn cát được đổ ra biển, tại hệ thống thủy nông
Hải Hậu bùn cát được bồi tích nhiều tại khu vực Ninh Cơ. Dòng chảy bùn cát
khu vực huyện Hải Hậu phụ thuộc vào yếu tố động lực ven bờ và chịu ảnh
hưởng trực tiếp lượng vận chuyển bùn cát của các con sông. Nhưng lượng bùn
cát phân bố không đều 91,5% vào mùa lũ và 8,5% vào mùa kiệt.
2.2.2.5. Đặc điểm thủy triều

Hệ thống thủy nông Hải Hậu là khu vực chịu ảnh hưởng thủy triều Vịnh
Bắc Bộ với chế độ nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 -1,7m, lớn nhất là

0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
100
P (%)
H (cm)
TS MN ®Ønh triÒu
TS MN trung b×nh ngµy TS MN ch©n triÒu TS MN giê

Hình 1.1: Tần suất mực nước triều - trạm Hòn Dấu
2.2.2.6. Tình hình xâm nhập mặn
Về mùa cạn, lượng nước trong sông nhỏ, thủy triều xâm nhập vào khá sâu
và mạnh, đưa mặn vào rất sâu, sông có độ mặn 1
0
/
00
xâm nhập vào sâu cách cửa
biển 30- 50 km, gây trở ngại cho việc lấy nước dùng cho các ngành kinh tế ngày
càng phát triển, nhất là cho nông nghiệp.

Trong đó:
+ Nam là: 154.098 người chiếm 47,86%
+ Nữ là: 168.513 người chiếm 52,14%
Dân số trong khu vực sản xuất nông nghiệp là:306.074 người chiếm
94,7% (Nam có 66.481, nữ có 71.874 người)
25 Trong đó: Lao động chính là: 138.355 người chiếm 45,2% (Nam có 66.481, nữ
có 71.874 người)
Lao động phụ là: 69.177 người chiếm 22,6% (trẻ em: 98.542 chiếm 32,2%)
Dân số trong khu vực phi nông nghiệp là 17.137 người chiếm 5,3% tổng
dân số, số đó chủ yếu làm nghề muối và đánh bắt hải sản tập trung chủ yếu ở các
xã Hải Triều, Hải Chính, Hải Hòa, Hải Đông, Hải Lý, Thị trấn Thịnh Long.
* Tốc độ tăng dân số:
+ Tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm là 1,83%
+ Xã có tỷ lệ tăng dân số cao nhất là Hải Chính 2,62%.
+ Xã có tỷ lệ tăng dân số nhỏ nhất là Thị trấn Yên Đinh 1,2%
2.3.2. Hiện trạng các ngành kinh tế trong khu vực

2.3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất
Tổng diện tích tự nhiên của hệ thống thủy nông Hải Hậu là 27.532ha,
trong đó, đất nông nghiệp chiểm khoảng 70% với chủ yếu là đất trồng lúa với
diện tích 14.028 ha, đất phi nông nghiệp 7.993 ha chiếm 2,9% tổng diện tích tự
nhiên, đất chưa sử dụng là 372 ha chiếm 1% chủ yế là đất vùng bối bãi. (phụ lục
1)
(Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Nam Định)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status