TÀI LIỆU THAM KHẢO
Các trang Web
[1] http://tintuc.xalo.vn
[2] http://tuanvietnam.vietnamnet.vn
[3] http://sbv.gov.vn
[4] http://changevietnam.wordpress.com
[5] http://luattaichinh.wordpress.com
[6] http://vneconomy
MỤC LỤC
Trang
I. Đặt vấn đề và sự cần thiết của vấn đề 01
II. Nợ công – một số vấn đề lý luận: 01
a) Khái niệm nợ công 01
b) Bản chất của nợ công 02
c) Phân loại nợ công 02
d) Những tác động của nợ công 03
III. Tình hình nợ công ở Việt Nam 03
1) Quy mô nợ công
04
2) Cơ cấu nợ công 05
3) Tình hình sử dụng nợ công 06
4) Tình hình trả nợ công 07
IV. Kết luận 08
Môn: Tài chính công
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Vũ
TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH CÔNG
CHỦ ĐỀ: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM
I. Đặt vấn đề và sự cần thiết của vấn đề
Kinh tế thế giới hiện đang trong bối cảnh tăng trưởng chậm lại, khủng hoảng nợ công
đang xảy ra tại Châu Âu và điển hình nhất là Hi Lạp đang đứng trước nguy cơ vỡ nợ và
vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia mà thôi.
Học viên: Nguyễn An Sơn – K22 – CH TCNH
Trang 1
Môn: Tài chính công
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Vũ
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của
bốn nhóm chủ thể bao gồm: (1) nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành
trung ương; (2) nợ của các cấp chính quyền địa phương; (3) nợ của Ngân hàng trung
ương; và (4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việc
quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là người chịu
trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu bao gồm ba nhóm là nợ
Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
b) Bản chất của nợ công
- Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước
Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp.
Trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ
quan nhà nước ấy sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản. Gián tiếp là trong trường hợp cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong
trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra
bảo
- Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
- Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế – xã
hội vì lợi ích chung
c) Phân loại nợ công
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong
việc quản lý và sử dụng nợ công. Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý
nghĩa quan trọng trong quản lý nợ.
- Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm có hai loại: nợ trong
- Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư.
Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ
mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả
khu vực công lẫn khu vực tư.
- Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế.
Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng của các
nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác
kinh tế song phương.
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu
cực nhất định. Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài
trợ ngoài nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo, nợ công sẽ tỏ ra kém hiệu
quả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc
sử dụng và quản lý nợ công.
III. Tình hình nợ công ở Việt Nam
Việt Nam mở cửa kinh tế được 25 năm và đã đạt được những bước phát triển vượt
bậc. Chỉ trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp 3 lần, từ 32,7 tỷ USD
năm 2001 lên 102 tỷ USD năm 2010 (Biểu đồ 1). Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm
các nước đang phát triển, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng
chung của thế giới; nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô
và công nghiệp nhẹ là chủ yếu. Do đó, hiện tại và trong tương lai gần, việc tăng vay nợ
chính phủ nói riêng và nợ công nói chung là một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫn rất cần
sự hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ và viện trợ phát triển chính thức) từ các tổ chức
đơn phương, đa phương trên thế giới để phát triển nền kinh tế hơn nữa.
Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP thực và tỷ lệ lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2001-2010
Học viên: Nguyễn An Sơn – K22 – CH TCNH
Trang 3
Môn: Tài chính công
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Vũ
1) Quy mô nợ công
Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5
cao nhất sẽ rơi vào năm 2020 với con số lên đến 2,4 tỉ USD.
Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại thuộc Bộ Tài chính dự kiến trong năm 2011, nợ công
bao gồm cả vay nước ngoài lẫn trong nước sẽ lên đến mức 1.375 tỉ đồng, tương đương 58,7%
GDP. Tính ra từ năm 2007 đến cuối năm 2011, nợ công của chúng ta đã tăng khoảng 25%, đạt
mức trung bình 5%/năm, và với đà này thì trong vòng tám năm nữa, nợ công của Việt Nam sẽ
lên 100% GDP theo cách tính của chúng ta, nếu tính theo WB và IMF sẽ còn cao hơn nữa. Đây
là một thách thức lớn về công nợ trong tình hình nền kinh tế vẫn chưa vượt qua khó khăn do các
biện pháp kiềm chế lạm phát vẫn chưa phát huy tác dụng.
2) Cơ cấu nợ công
Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 – 2010 gồm nợ chính phủ chiếm 78,1%, còn
lại là nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Trong nợ chính phủ, nợ
nước ngoài chiếm 61,9%; nợ trong nước chiếm 38,1%. Trong nợ nước ngoài, ODA
chiếm tỷ trọng lớn. Trong năm 2010, nợ ODA chiếm 75%, vay nợ khác là 19% và vay
thương mại chỉ chiếm 7%. Trong đó, nợ ODA có thời gian vay dài, lãi suất ưu đãi. Trong
đó, các khoản nợ Ngân hàng Thế giới có thời hạn vay 40 năm, ân hạn 10 năm và lãi suất
0,75%. Các khoản vay từ ngân hàng ADB có thời hạn 50 năm, ân hạn 10 năm và lãi suất
Học viên: Nguyễn An Sơn – K22 – CH TCNH
Trang 5
Môn: Tài chính công
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Vũ
là 1%. Các khoản vay của Nhật Bản có thời hạn 30 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất tương
đối đến 2%.
Cơ cấu nợ công của Việt Nam từ năm 2006-2010
3) Tình hình sử dụng nợ công
Thông qua các chương trình đầu tư công, nợ công của Việt Nam được chuyển tải vào
các dự án đầu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền
vững. Tuy nhiên, tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam không đạt hiệu quả cao, thể hiện
ở hai khía cạnh sau:
- Thứ nhất, tình trạng chậm trễ trong giải ngân vốn: Tình trạng chậm trễ trong giải
ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ diễn ra
2008. Điều này có nghĩa là, nếu năm 2001 Việt Nam cần 5,24 đồng vốn để tạo ra được 1
đồng sản lượng, thì giờ đây cần phải đầu tư thêm gần 3 đồng vốn nữa.
Biểu đồ 3: Chỉ số ICOR của Việt Nam từ năm 2001-2009
4) Tình hình trả nợ công
Từ năm 2006 đến nay, tình hình trả nợ công của Việt Nam không ổn định và hầu như
không có sự gia tăng đáng kể về giá trị, trung bình hàng năm Việt Nam dành ra trên 3,5%
Học viên: Nguyễn An Sơn – K22 – CH TCNH
Trang 7
Môn: Tài chính công
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Vũ
GDP để chi trả nợ và viện trợ. Tỷ lệ trả nợ/tổng nợ công giảm dần qua các năm, từ 9,09%
năm 2006 xuống còn 6,53% năm 2010. Trong khi đó, quy mô của các khoản nợ công
ngày càng tăng lên với tốc độ chóng mặt với gần 20%/năm; mặt khác, tình hình sử dụng
nợ công ở Việt Nam còn đang tồn tại nhiều bất cập như chậm trễ trong giải ngân và sự
kém hiệu quả trong sử dụng vốn vay vào các dự án đầu tư. Điều này tác động tiêu cực tới
khả năng trả nợ của Việt Nam trong tương lai.
Biểu đồ 4: Tình hình trả nợ và viện trợ của Việt Nam từ năm 2006-2010
IV. Kết luận
Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu đang diễn biến phức tạp, việc
bảo đảm tính bền vững của nợ công và giảm nợ xấu đang là những thách thức với nhiều
quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nợ công để lại những hậu quả nặng nề và khó lường cho
thị trường tài chính không chỉ riêng ở một quốc gia mà cả thị trường tài chính toàn cầu.
Những cuộc cứu trợ khổng lồ mà châu Âu đang áp dụng cho Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào
Nha và sắp tới là Tây Ban Nha, Italia cho thấy, khủng hoảng nợ công gây tốn kém chi phí
không kém số tiền mà Mỹ phải bỏ ra để xử lý hệ thống tài chính nước này sau cuộc
khủng hoảng tài chính vừa qua. Ngoài ra khủng hoảng nợ công còn ảnh hưởng tới chất
lượng tài sản hệ thống ngân hàng thương mại do phần lớn trái phiếu chính phủ phát hành
đều được ngân hàng nắm giữ, ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán toàn cầu Do đó
việc huy động, sử dụng và quản lý nợ công cần phải được kiểm soát chặt chẽ.
Tóm lại, việc cắt giảm đầu tư công chắc chắn sẽ giúp giảm nợ công, một bước tiến