LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. PHẠM
THỊ HÀ, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Việt Nam Học, Trường
Đại Học Sư Phạm Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 2 năm học
tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng
cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước
vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc Công ty TNHH NN Một Thành Viên
Du Lịch Công Đoàn Hà Nội đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực
tập tại Công ty. Em xin gởi lời cảm ơn đến Đỗ Đình Đang, phó phòng Điều
Hành Nội Địa Công ty đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu.
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công
trong sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị trong Công
ty TNHH NN Một Thành Viên Du Lịch Công Đoàn Hà Nội luôn dồi dào sức
khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc!
Sinh viên thực hiện
Lý Thị Thanh Hoa
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ở mọi thời đại, mọi xã hội, giao tiếp giữa con người với con người luôn
diễn ra liên tục trên mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong sinh hoạt đời thường
cũng như trong công việc. Giao tiếp vừa biểu hiện văn hóa của mỗi con
người, vừa biểu hiện mức độ văn minh của xã hội. Theo chiều dài lịch sử phát
triển của loài người, hoạt động giao tiếp hàng ngày càng phong phú hơn, với
nhiều cách thức lễ nghi hơn, không còn bó hẹp trong không gian của một
nhóm người, một làng, một nước, mà hiện nay, hoạt động giao tiếp đã mở
rộng lên cả thế giới, đưa mỗi cá nhân tiếp xúc với nhiều đối tượng của những
nền văn hóa khác nhau.
tạo và tiếp xúc với hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành, tôi đã chọn đề tài:
“Kỹ năng giao tiếp giữa nhân viên với khách hàng trong hoạt động kinh
doanh du lịch tai công ty TNHH NN Một Thành Viên Du Lịch Công Đoàn Hà
Nội”, nhằm tìm hiểu các vấn đề liên quan tới hoạt động giao tiếp của nhân
viên du lịch. Từ những thông tin thu thập được đưa ra các giải pháp đánh giá,
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp của nhân viên công ty nói chung
và nhân viên marketing nói riêng.
II. Lịch sử vấn đề
Giao tiếp ứng xử là một nhu cầu không thể thiếu và luôn gắn kết chặt chẽ
với hoạt động của con người. Không có giao tiếp con người khó có thể tồn tại.
Không có khả năng giao tiếp ứng xử tốt con người khó có thể có cơ hội phát
triển, thăng tiến.
Đặc biệt, du lịch là một nganh kinh doanh dịch ụ, đối tượng phục vụ trực
tiếp là con người, để gây được thiện cảm và làm hài lòng khách hàng, để tạo
2
ra bầu không khí đoàn kết hợp tác trong nội bộ công ty không còn cách nào
khac người làm du lịch phải có kiến thức và khả năng giao tiếp ứng xử tốt với
con người. Đây là cơ sở bền vững nhât, chắc chắn nhất cho việc tồn tại và
không ngừng phát triển của công ty Du lịch.
Từ những công trình đã nghiên cứu, chúng tôi xin có cái nhìn tổng
quan mang tính khái lược nhóm thành những vấn đề nghiên cứu theo các
hướng sau:
Đề cập đến nền kỹ năng giao tiếp: Trước hết, là cuốn “Kỹ năng giao
tiếp” của Th. S Đinh Văn Đáng, đây là một trong năm môn cơ sỏ ngành được
đưa vào chương trình giảng dậy cho tất cả các chuyên ngành đào tạo hệ
THCN tại các trường du lịch trên cả
Cuốn giáo trình “Kỹ năng giao tiếp” ra đời nhằm cung cấp cho người
học một số kiến thức cơ bản nhất, phổ biến nhất về giao tiếp ứng xử trong
cuộc sống nói chung và hoat động kinh doanh du lịch nói riêng. Cuốn giáo
trình ra đời là kết quả của sự làm việc nghiêm túc, trách nhiệm cao của Hội
vào một vấn đề cụ thể. Tính đến thời điểm hiện nay, chưa có một tác giả nào
nghiên cứu vấn đề về kỹ năng giao tiếp giữa nhân viên với khách hàng trong
hoat động kinh doanh du lịch tại một công ty cụ thể nào đó, để thấy được hệ
giá trị đặc sắc của nó. Vì vậy mà quá trình tìm hiểu về kỹ năng giao tiếp giữa
nhân viên với khách hàng trong hoạt động kinh doanh du lịch tại công ty
TNHH NN Một Thành Viên Du Lịch Công Đoàn Hà Nội cần khả năng giả
quyết thành công các mối quan hệ trong kinh doanh của từng con người trong
mỗi công ty chính là chìa khóa mở ra sự thành công cho mỗi người, cũng như
góp phần sự thành bại của công ty đó.
4
III Mục đích nghiên cứu
Việc tìm hiểu, nghiên cứu về “Kỹ năng giao tiếp giữa nhân viên với
khách hàng trong hoạt động kinh doanh du lịch của Công ty du lịch TNHH
NN Một Thành Viên Du Lịch Công Đoàn Hà Nội”, nhằm xác định được
những tri thức cần có về giao tiếp trong xã hội nói chung và trong hoạt động
kinh doanh du lịch nói riêng sao cho có văn hóa để nâng cao về chất lượng
phục vụ và uy tín cho các công ty du lịch. Quan trọng hơn đây sẽ là đề tài
định hướng cho cán bộ - công nhân viên của Công ty TNHH NN Một Thành
Viên Du Lịch Công Đoàn Hà Nội nhận thức rõ được trách nhiệm công việc
của mình, để có được thái độ phục vụ khách hàng tốt nhất và hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ được giao.
IV Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp giữa nhân viên với khách hàng du
lịch trong hoạt động kinh doanh của công ty TNHH NN Một Thành Viên Du
Lịch Công Đoàn Hà Nội nên đối tượng cần hướng tới đó là các chủ thể và
khách thể tham gia vào quá trình giao tiếp trong hoạt động kinh doanh du lịch
của Công ty.
Do điều kiện nghiên cứu có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu lý luận dựa
trên tài liệu đã có và khảo sát thực trạng kỹ năng giao tiếp của nhân viên với
khách hàng trong hoạt động kinh doanh du lịch của công ty TNHH NN Một
1.1.1 Khái niệm kinh doanh
Kinh doanh là một quá trình kế hoạch hóa và thực hiện các chính sách về
sản xuất, nghiên cứu thị trường, quảng cáo (khyếch trương) và tổ chức các
dịch vụ phân phối tiêu thụ (thương mại) các sản phẩm hàng hóa nhằm tạo ra
lợi nhuận (lãi) tối đa. Mục tiêu chính của kinh doanh là hướng tới lợi nhuận
tối đa nhằm làm giàu cho tập thể, cá nhân tham gia trong quá trình kinh doanh
và cho toàn xã hội.
Xét cho cùng, mục tiêu chính của kinh doanh là thỏa mãn mọi nhu cầu
sản xuất và tiêu dùng về ăn, uống, mặc, vui chơi giải trí của con người trong
toàn xã hội. do vậy, muốn xã hội ổn định, đất nước hung thihj, nhân dân sang
giàu, văn minh, hạnh phúc chúng ta phải quan tâm đến việc ngành kinh doanh
trên cả ba lĩnh vực: sản xuất, thương mại và dịch vụ. Đúng là, phi công bất
phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng, phi nông bất ổn.
Kinh doanh ở khía cạnh dịch vụ du lịch, đây là một ngành rất quan trọng
và cần thiết, nhưng nó mới chính thức có “tên tuổi” vào giữa thế kỷ XIX và
phát triển rất mạnh trong cơ chế thị trường. Dịch vụ là ngành kinh doanh mang
tính chất trực tiếp dịch vụ con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Dù kinh doanh trong lĩnh vực nào nhà doanh nghiệp cũng cần chú ý
những nhiệm vụ sau đây:
7
Nghiên cứu thị trường, trong đó phải nghiên cứu kỹ nhu cầu, thị hiếu và
khả năng thanh toán của người tiêu dùng. Đồng thời phải dự báo được xu thế
phát triển của toàn cầu xã hội trong những năm tiếp theo và xa hơn nữa.
Xây dựng chính sách, biện pháp tổ chức sản xuất, thương mại. Đặc biệt
chú ý chính sách sản phẩm, chính sách giá cả và chính sách tiêu thụ sản phẩm
(thương mại).
Xây dựng chiến lược khuyếch trương, có nghĩa là biện pháp quảng cáo,
tiếp thị.
Ngày nay người ta cho kinh doanh là một chiến trận giữa các nhà kinh
doanh nghiệp với nhau trên mặt trận kinh tế. Cuộc chiến trên mặt trận kinh tế
chủ cửa hàng, có thể là người bán hàng, có thể là nhân viên phục vụ, nhân
viên tiếp thị trong các hãng lữ hành, các khách sạn, nhà hàng hoặc trong các
cơ sở kinh doanh nói chung… Nhiệm vụ chính của họ vừa là mục đích, vừa là
động cơ giao tiếp trong kinh doanh. Từ động cơ chính sẽ xuất hiện những
mục đích nhỏ và tương ứng là những hành động để thực hiện cho bằng được
mục đích nhỏ
Khách thể giao tiếp trong kinh doanh, đồng thời là chủ thể thứ hai trong
giao tiếp. Khách thể giao tiếp có thể là những bạn hàng, khách hàng, cụ thể là
người mua hàng, khách du lịch mà các nhà doanh nghiệp cần phải tiếp xúc.
Khách thể mua hàng khi giao tiếp với chủ thể kinh doanh cũng có động cơ
riêng, như muốn mua hàng tốt, hàng đẹp, giá cả phải chăng… Nhờ đó mà có
hành động đi mua hàng, lựa chọn cửa hàng, chọn hàng, thăm dò chất lượng,
mặc cả giá… Và chính khi họ hỏi, mặc cả, yêu cầu là lúc họ từ khách thể trở
thành chủ thể giao tiếp và người bán hàng lại trở thành khách thể.
9
Như vậy, giao tiếp trong kinh doanh, giữa người mua và người bán luôn
luôn có sự hoán đổi vị trí từ chủ động sang bị động (từ khách thể sang chủ
thể) và ngược lại. Chính vì vậy, giao tiếp trong kinh doanh là giao tiếp bình
đẳng, hợp tác và trung tính. Hợp tác hai bên cùng có lợi là con đường phát
triển kinh doanh bền vững nhất, thành đạt nhất của các nhà doanh nghiệp. Tư
tưởng “cá lớn nuốt cá bé” hoặc làm ăn theo kiểu “chộp giật” ép giá, ép mua
hoàn toàn không phải là suy nghĩ và hành động của các nhà doanh nghiệp
chân chính.
Tóm lại, hiệu quả của giao tiếp chung, giao tiếp trong kinh doanh nói
riêng chính là nhờ phong cách sử dụng ngôn ngữ. Trong điều kiện có thể, nếu
biết phối hợp nhuần nhuyễn, khai thác tối đa thế mạnh của cả ba ngôn ngữ
chúng ta sẽ gặt hái được những thành công bất ngờ. Để thuyết phục lòng
người, được người khác hiểu đúng và đồng tình hưởng ứng, chúng ta phải học
tập, rèn luyện để vận dụng tốt phong cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp.
Vì vậy nghệ thuật giao tiếp chính là nghệ thuật nói, nghệ thuật biểu cảm và
khứu giác, cảm giác…
Để giao tiếp có hiệu quả, khi lựa chọn kênh thông tin (công cụ truyền
tin) người truyền tin cần có một số điểm sau đây:
Phải đảm bảo tiện lợi: Dễ sử dụng, đã có sẵn, không phải chuẩn bị
nhiều…
Có khả năng khai thác tốt nhất thông tin phản hồi: Bằng cách sử dụng
hình thức giao tiếp trực tiếp (lời nói, sơ đồ, biểu bảng…).
Hạn chế tối đa yếu tố gây nhiễu: Tiếng ồn, ánh sáng, năng lực. diễn
đạt…
Tìm hiểu số lượng, tập quán, năng lực tâm lý người tiếp nhận: Nhiều hay
11
ít người, tập tục, thói quen, chức năng các cơ quan tiếp nhận thông tin (thính
giác, khứu giác, thị giác…)
Các yếu tố khác: Như mức độ chi phí, thời điểm, thời gian, khoảng cách
giao tiếp…
* Mã hóa – Giải mã (Encoding – Decoding):
Mã hóa và giải mã thực chất là những quy ước thống nhất của ngôn ngữ
giữa các chủ thể về nội dung thông tin trong quá trình truyền tin. Đây là việc
làm không thể thiếu được của các chủ thể tham gia quá trình giao tiếp.
Mã hóa là nhiệm vụ của người truyền tin: Căn cứ vào kênh thông tin đã
lựa chọn và khả năng tiếp nhận của người nhận tin, người truyền tin phải
chuyển nội dung thông tin vào mã (mã hóa) theo quy ước của ngôn ngữ (chữ
viết, lời nói và hành động cử chỉ).
Giải mã là trách nhiệm của người nhận tin: Việc tiếp thu nội dung thông
tin có kịp thời, chính xác hay không là tùy thuộc vào năng lực giải mã của
người nhận tin.
Như vậy, để giao tiếp có hiệu quả các chủ thể tham gia giao tiếp phải có
cùng chung một bộ mã. Chỉ có sự tương đồng về bộ mã người nhân thông tin
mới có thể có được thông tin đúng với nôi dung thông tin của người truyền.
* Người nhận tin (Receiver):
nhất (kênh thông tin) để có hiệu quả cao nhất. Cụ thể là:
- Giao tiếp trong tiếng ồn lớn hoặc khó diễn giải bằng lời nói nên dùng
chữ viết. Sơ đồ, biểu bảng, cử chỉ, hành động, kus, ám hiệu Chẳng hạn giao
tiếp với nhau bên cỗ máy nổ, trong mưa bão, trên biển cả nên dùng chữ viết
hoặc cử chỉ, ám hiệu.
13
Trong trường hợp không có người đưa khách lên buồng khách sạn, thay
vì phải diễn giải dài dòng, phức tạp (rẽ trái, rẽ phải) trong môi trường không
yên tĩnh, lễ tân có thể dùng sơ đồ để chỉ vị trí buồng cho khách định hình và
tự tìm đến.
Nếu giao tiếp với nhau trong điều kiện thiếu ánh sáng như trong hầm lò,
trong đêm tối, trong rùng rậm nên dùng nhiều ngôn ngữ nói, âm thanh, ánh
sáng, ánh đèn Chẳng hạn muốn tìm một khách du lịch lạc trong rừng rậm
hoặc một điểm tham quan trong khi trời tố, cách tốt nhất là gọi to, dùng tiếng
động, tiếng hú hoặc ánh đèn, ánh sáng để tạo sự chú ý của họ.
Yếu tố trạng thái tâm lí: nếu thuộc về tâm trạng, người giao tiếp phải biết
kiềm chế, hoặc tự điều chỉnh. Không nên để cảm xúc mạnh xen vào khi giao
tiếp. Vì khi đó con người thường không làm chủ được mình. Và như vậy, nội
dung thông tin dễ bị sai lệch, dẫn đến sự hiểu lầm đáng tiếc.
Về mặt chủ quan, chúng ta phải có nghị lực rèn luyện ý chí, luôn luôn
làm chủ bản thân không nên để cảm xúc mạnh chi phối trong quá trình giao
tiếp, như cáu giận, hồi hộp, hoảng hốt, bi quan, lạc quan Vì những yếu tố
đấy dễ làm lu mờ, méo mó tư duy, thậm chí làm mất đi trí thông minh vốn có
của con người và có thể còn làm mất công việc mà mình đang lam.
Để khắc phục tình trạng này, tốt nhất là hạn chế tối đa xử sự hoặc giải quyết
những công việc hệ trọng, nhạy cảm trong khi tâm trạng không bình thường
Ví dụ như:
- Khi đang cáu giận hoặc có men rượu chuyếnh choáng không nên nói
nhiều mà im lặng là tốt nhất.
- Khi đang hưng phấn, đắc thắng cũng không nên hứa hẹn hay quyết
Trong hai hình thức giao tiếp trên thì giao tiếp trực tiếp (giao tiếp cận
15
danh) là có hiệu quả nhất, bởi nó có thể khai thác tối đa và tức thời nhất thông
tin phản hồi. Giao tiếp gián tiếp qua thư, fax, sách, báo hình, báo viết, báo
tiếng, thư điện tử, ngay cả qua điện thoại đều chậm hoặc khó có thể sử dụng
hiệu quả thông tin phản hồi
Như vậy, muốn giao tiếp có hiệu quả phải tận dụng mọi cơ hội có thể để
tiếp xúc trực tiếp. Chỉ tiếp xúc gián tiếp trong trường hợp không thể tiếp xúc
trực tiếp được, hoặc xét thấy tiếp xúc gián tiếp có lợi hơn.
* Lòng tin và sự đồng cảm
Trong giao tiếp rât cần có lòng tin và sự đồng cảm, sẻ chia từ hai phía.
Các cuộc tiếp xúc, đàm phán, trao đổi giữa nhân viên bán hàng với khách
hàng kết thúc tốt đẹp, chóng vánh, với sự đồng thuận cao phụ thuộc chủ yếu
vào cả hai yếu tố này. Trong đó, lòng tin là tiền đề, là nền tảng cho sự đồng
cảm, sẻ chia.
Nếu giữa các chủ thể tham gia, giao tiếp không có sự tin tưởng lẫn nhau,
còn nghi ngại, ngờ vực nhau thì chất lượng của hoạt động giao tiếp rất hạn
chế. Vì khi chưa tin nhau thì người nói còn thăm dò, nói không hết ý, hoặc
chưa dám nói thẳng, nói thật bản chất sự việc. Ngược lại người nghe cũng dè
dặt, cảnh giác với những thông tin nhận được.
Và như vậy, cuộc giao tiếp sẽ không đi đến kết quả theo sự mong đợi,
dãn đến giữa hai bên khó có thể có sự đồng thuận và khó có tiếng nói chung.
Đây là trở ngại rất lớn mà các chủ thể tham gia giao tiếp phải đặc biệt quan
tâm khi nhận lời tiếp xúc.
Muốn chiếm được lòng tin của người khác, chúng ta phải xây dựng cho
mình lối sống chân tình, trung thực; có tác phong chững chạc, đoàng hoàng;
thực sự quan tâm đến nhu cầu của khách hàng, bạn hàng; thông tin phải rõ
ràng, nhất quán. Phải luôn đề cao danh dự, coi trọng lời hứa; lời nói luôn đi
đôi với việc làm.
16
phương của họ, thậm chí cần phải có phiên dịch. Đồng thời, phải hạn chế
tối đa sử dụng từ đa nghĩa, tiếng lóng; cần có giải thích rõ ràng về chữ viết
tắt và các ký ám hiệu
- Vấn đề kiến thức:
Nếu hai chủ thể giao tiếp có sự chênh lệch về trình độ văn hóa, không
tương đồng về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, mà người nói không tìm hiểu
kỹ càng, chắc chắn sẽ gây cản trở nhiều cho cuộc tiếp xúc, nếu không muốn
nói là không có hiệu quả.
Một hướng dẫn viên trước khi đưa khách đi tham quan cần tìm hiểu kỹ
trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt là mục đích chuyến đi của
khách tham quan du lịch để lựa chọn ngôn từ, phương pháp và phong cách giới
thiệu cho phù hợp với khả năng tiếp thu và sự mong đợi của họ. Dù là đoàn
khách du lịch đông người cũng cần biết những vấn đề chung nhất về đoàn để
có sự chuẩn bị tư liệu phục vụ bài thuyết minh mới có thể mang lại kết quả.
Như vậy, để giao tiếp có hiệu quả, người nói phải biết khả năng trình độ
kiến thức, lĩnh vực chuyên môn của mình tiếp xúc để chuẩn bị nội dung, đề
tài và phong cách truyền đạt cho phù hợp với từng đối tượng. Phải luôn quan
tâm chia sẻ và đồng cảm với tâm lý, sở thích, sự mong đợi và năng lực tiếp
nhận thông tin của người nghe
1.1.5 Mục đích của giao tiếp trong kinh doanh
Trong giao tiếp, mỗi người đều hướng tới một mục đích. Mục đích đó
tùy thuộc vào mục đích của công việc mà họ đang theo đuổi. Do vậy qua giao
tiếp giữa hai người với nhau có thể mang lại sự đồng thuận. Nếu khéo léo
chân thành có thể thành bạn thân thiết, ngược lại sẽ dẫn đến đối thủ, thậm trí
là địch thủ của nhau.
18
Trong cuộc sống, giao tiếp ở khía cạnh trao đổi thông tin là để nâng cao
nhận thức; giao lưu tình cảm là để tăng cường mối quan hệ bạn bè, đồng
nghiệp; đàm đạo thuyết phục là để tạo ra niềm tin, sự đồng thuận và tăng
cường hợp tác.
1.1.6 Vai trò của giao tiếp trong hoạt động kinh doanh du lịch
Giao tiếp trong hoạt động kinh doanh du lịch giúp định hướng và điều
chỉnh hành vi du lịch của du khách và thông qua đó có thể nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động của công ty.
Nhờ có hoạt động kinh doanh du lịch mà tạo ra được sự hiểu biết lẫn
nhau giữa con người với con người, đến từ những đất nước, nền văn hóa khác
nhau từ khắp nơi trên thế giới, giúp cho con người có thể mở rộng tri thức,
tầm hiểu biết của mình. Đó đồng thời cũng là một động lực thôi thúc con
người đi du lịch ra khỏi phạm vi biên giới của quốc gia mình. Từ đó làm cho
các nền văn hóa lối sống của các dân tộc, quốc gia trên thế giới xích lại gần
nhau hơn thúc đẩy nhau cùng phát triển trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa
Thông qua giao tiếp du lịch tạo ra được sự hiểu biết lẫn nhau giữa du
khách với người phục vụ, khiến ngày càng hoàn thiện hơn chất lượng của
những sản phẩm dịch vụ du lịch.
1.2 Khái quát chung về công ty TNHH NN Một Thành Viên Du Lịch
Công Đoàn Hà Nội
Được thành lập vào năm 1986 với 10 cán bộ công nhân viên hoạt động
và phục vụ cho trạm Du lịch Công Đoàn Hà Nội nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ
ngơi, dưỡng sức và tham quan theo chế độ bảo hiểm xã hội quy định cho các
đoàn cán bộ công nhân viên lao động trong cả nước về Hà Nội. Nguồn vốn
ban đầu hình thành do quỹ bảo hiểm xã hội của Liên đoàn lao động thành phố
Hà Nội cấp. Hoạt động chịu sự quản lý của Liên đoàn lao động thành phố Hà
20
Nội. Nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội sau thời kì đổi mới trong cơ
chế thị trường, các doanh nghiệp chịu sự cạnh tranh gay gắt vì thế yêu cầu đặt
ra là trạm Du lịch Công Đoàn Hà Nôi cần phải thay đổi cách thức quản lý,
đầu tư và nâng cấp cở sở vật chất, trang thiết bị phục vụ tốt hơn nhu cầu của
khách giúp trạm tồn tại và phát triển. Vì vậy năm 1994 được phép của Tổng
Liên đoàn lao động Việt Nam và Liên đoàn lao động thành phố Hà Nội, Trạm
du lịch Công Đoàn Hà Nội chuyển sang là doanh nghiệp hạch toán và kinh
xác định hoạt động kinh doanh là cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống, cùng với
các dịch vụ bổ sung, đặc biệt là sau năm 1994 khi đã hoạt động độc lập công
ty còn phát triển mảng cung cấp và thực hiện các tour du lịch trong và ngoài
nước cho khách có nhu cầu. Các dịch vụ khác như: (ăn uống, giải trí, bán vé
máy bay, massage)
* Sản phẩm của doanh nghiệp:
- Cung cấp dịch vụ buồng phòng
- Cung cấp dịch vụ vận chuyển
- Cung cấp dịch vụ ăn uống, vui chơi, giải trí
- Cung cấp và thực hiện các tour du lịch trong và ngoài nước
- Cung cấp các dịch vụ bổ sung khác (vé máy bay, visa)
Trong đó sản phẩm chính là cung cấp dịch vụ lưu trú, vận chuyển, bán
và thực hiện các tour mang lại > 75% doanh thu cho công ty. Với quy mô: 2
dãy nhà với tổng số 65 phòng các loại, một hội trường với sức chứa 150 – 200
người khu nhà ăn với 200 chỗ ngồi.
* Thị trường khách của công ty:
Với vị trí hết sức thuận lợi nằm trong trung tâm Hà Nội ngàn năm văn
hiến, trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa xã hội của đất nước. Công ty TNHH
22
NN Một Thành Viên Du Lịch Công Đoàn Hà Nội nói riêng và các cơ sở kinh
doanh Du lịch trên địa bàn Hà Nội nói chung có một lợi thế rất lớn trước mắt
và trong tương lai phát triển.
Du Lịch Công Đoàn Hà Nội nói riêng và các cơ sở kinh doanh Du lịch tr
ên địa bàn Hà Nội nói chung. Công ty lại trực thuộc Liên đoàn Lao động Hà
Nội với hàng vạn cán bộ công nhân viên trong cả nước, hàng năm số cán bộ
công nhân viên này thường xuyên công tác, học tập, tập huấn, hội thi, hội
thảo, hội chợ… và đi du lịch theo chế độ mà Nhà nước quy định. Đây là
nguồn khách rất lớn mà lợi thế khai thác thược về các đơn vị kinh doanh du
lịch trong ngành và thực tế nguồn khách chủ yếu của công ty, từ các tổ chức
công đoàn, phục vụ hội nghị, hội thảo, tập huấn. Nguồn khách hàng chiếm