Đánh giá kết quả điều trị sỏi trong gan bằng phẫu thuật nối mật da với đoạn ruột biệt lập và nối mật ruột da - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ NGUYÊN KHÔI
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI TRONG GAN
BẰNG PHẪU THUẬT NỐI MẬT-DA
VỚI ĐOẠN RUỘT BIỆT LẬP
VÀ NỐI MẬT-RUỘT-DA Chuyên ngành : Ngoại tiêu hóa
Mã số : 62720125 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP. Hồ Chí Minh - 2015

Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


trị được áp dụng nhưng do cơ chế bệnh sinh sỏi trong gan chưa được
chứng minh rõ ràng nên kết quả điều trị còn hạn chế với một tỷ lệ tái
phát vẫn khá cao: 20-50%.
Năm 1977, Fang và Chou đã đề xuất phẫu thuật nối mật-ruột kiểu
Roux-Y với quai ruột đính ra da (Nối mật-ruột-da: NMRD) với mục
tiêu tạo một ngõ vào đường mật lâu dài, thường trực và thuận lợi để
lấy sỏi tái phát mà không phải phẫu thuật lại. Mặc dù đã chứng minh
được vai trò tích cực trong điều trị sỏi trong gan nhưng NMRD vẫn
có một số bất lợi liên quan đến diễn tiến lâu dài của miệng nối mật-
ruột như: trào ngược thức ăn/dịch tiêu hóa vào đường mật, nhiễm
trùng ngược dòng, hẹp miệng nối, thay đổi cấu trúc và chức năng
sinh lý của đường mật và ống tiêu hoá.
Thực tế, sỏi trong gan có tỉ lệ hẹp đường mật trong gan cao (40-
96%) nhưng lại rất ít khi hẹp ở đoạn cuối ống mật chủ (OMC) và lỗ
cơ vòng Oddi (3,4%). Như vậy, nếu không có hẹp OMC/Oddi, để có
được ngõ vào đường mật lâu dài thì có nhất thiết phải tạo ra một
miệng nối mật-ruột kèm theo những bất lợi như trên không?
Với suy nghĩ đó, Tian FZ (2003) đã đề xuất phẫu thuật nối phễu
túi mật với OMC đồng thời đính đáy túi mật ra da và Li Y (2005) đã
thực hiện phẫu thuật tạo hình chỗ hẹp đường mật với kỹ thuật mở
ống mật chủ ra da bằng đoạn hỗng tràng biệt lập (Nối mật-da với
đoạn ruột biệt lập: NĐRBL) để tạo ngõ vào đường mật lâu dài mà
2
không có miệng nối mật-ruột. Cùng thời gian này, năm 2004-2006,
Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương cũng đã tiến hành “Nghiên cứu thử
nghiệm phẫu thuật tạo đường hầm da-mật bằng đoạn ruột biệt lập
trên chó” với kết luận: “Đoạn ruột biệt lập là một ngõ vào tồn tại lâu
dài và ổn định từ da vào đường mật”.
Từ đó, vấn đề nghiên cứu đã được đặt ra: “Phẫu thuật NĐRBL có
hiệu quả như thế nào trong điều trị sỏi trong gan, đồng thời có hạn

cứu 20 trang; Chương 3: Kết quả nghiên cứu 24 trang; Chương 4:
Bàn luận 38 trang. Luận án có: 45 bảng, 36 hình, 4 biểu đồ và 135 tài
liệu tham khảo gồm: 22 tài liệu tiếng Việt và 113 tài liệu tiếng Anh.
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Bệnh lý sỏi trong gan
Sỏi trong gan là một bệnh lý rất phổ biến ở khu vực Đông Nam Á.
Những năm gần đây, tỷ lệ sỏi đường mật ở Việt Nam đã có chiều
hướng giảm và theo một số nghiên cứu là 0,1-1,18%, nhưng tỷ lệ sỏi
trong gan trong sỏi đường mật vẫn còn khá cao: 27,7 % - 44,5 %.
Cơ chế sinh bệnh học sỏi trong gan vẫn còn là giả thuyết nên chưa có
biện pháp phòng ngừa sỏi tái phát hữu hiệu.
Sỏi thường đi kèm hẹp đường mật trong gan và gây ảnh hưởng nhiều
đến kết quả điều trị và sỏi tái phát. Cơ chế hẹp đường mật trong bệnh
lý sỏi trong gan vẫn chưa rõ, hẹp có thể là nguyên nhân hoặc hậu quả
hoặc là yếu tố song hành của sỏi trong gan.
Đa số nghiên cứu sử dụng phân loại sỏi trong gan theo tổn thương
hẹp đường mật của Tsunoda và phân loại hẹp đường mật dựa vào
đường kính ống soi của Lee SK.
Về lâu dài, với bệnh cảnh sỏi tái phát và viêm đường mật tái diễn,
không ít trường hợp dẫn đến gan xơ teo, suy gan và ung thư đường
4
mật. Đây là những biến chứng lâu dài nặng nề và có tiên lượng rất
xấu của sỏi trong gan.
1.2. Điều trị sỏi trong gan
1.2.1. Mục tiêu và nguyên tắc điều trị
Trước kia, mục tiêu điều trị sỏi đường mật nói chung bao gồm: lấy
sỏi và tái lập lưu thông dịch mật. Nguyên tắc điều trị hiện nay được
các tác giả mở rộng hơn và hướng tới kết quả lâu dài như sau:
Lấy sạch sỏi
Lấy hết tổn thương gan và đường mật

Trước khả năng tái phát cao của sỏi trong gan và tổn thương hẹp
đường mật, năm 1977, Fang K và Chou TC đã khởi xướng phẫu thuật
nối mật-ruột với đầu ruột đặt dưới da đối với sỏi trong gan 2 bên,
nhằm tạo một ngõ vào lâu dài để xử lý sỏi và hẹp tái phát (Hình 1.1).
Tuy nhiên, diễn biến lâu dài của miệng nối mật-ruột có thể dẫn đến
những biến chứng như: trào ngược và viêm đường mật ngược dòng
(27%), hẹp miệng nối (1-13%), rối loạn tiêu hóa, giun lên đường mật
(12%), loét dạ dày-tá tràng (1-10%), ung thư đường mật (5,5%), hội
chứng túi cùng, …
Nối mật-da với túi mật: Từ 1994 đến 2003, nhóm nghiên
cứu của Tian FZ đã thực hiện 46 trường hợp phẫu thuật cắt một phần
gan, sau đó nối phễu túi mật với ống mật chủ, đồng thời đính đáy túi
mật vào thành bụng nhằm tạo ngõ vào đường mật dự phòng để xử lý
sỏi trong gan tái phát. Tác giả đã chứng minh được nhiều ưu điểm
như: giữ được chức năng sinh lý bình thường của túi mật, của cơ
vòng Oddi và ống tiêu hóa, đồng thời có thể can thiệp nội soi qua ngõ
vào túi mật và miệng nối một cách thuận lợi để giải quyết sỏi sót và
sỏi tái phát (Hình 1.2).
6

Hình 1.2- Nối mật-da với túi mật
Nối mật-da với đoạn ruột biệt lập (NĐRBL): Li Y đã đề
xướng và thực hiện phẫu thuật tạo hình chỗ hẹp đường mật đồng thời
nối mật-da với một đoạn hỗng tràng biệt lập (Hình 1.3).

Hình 1.3- Nối mật-da với đoạn ruột biệt lập (NĐRBL)
Trong khoảng thời gian 15 năm (1988-2003), tác giả đã báo cáo 163
trường hợp với kết quả như sau: tỷ lệ sỏi tái phát 9,2%, tỷ lệ xử lý
sạch sỏi tái phát 96%; đồng thời không ghi nhận những biến chứng
như loét dạ dày tá tràng, viêm đường mật ngược dòng,…Về chức

phẫu vùng cuống gan
2. OMC giãn (>12 mm) và thông thương tốt với tá tràng :
Tiêu chuẩn “thông thương tốt” là nội soi thấy cơ vòng Oddi co bóp
mềm mại và ống thông đường kính 3mm đưa xuống tá tràng dễ dàng.
Tiêu chuẩn loại trừ: Nếu có một trong những tiêu chuẩn sau:
- Đã làm ERCP và cắt cơ vòng Oddi
- Ung thư đường mật hoặc ung thư quanh bóng Vater
8
- Tiên lượng sống ngắn do những bệnh lý: ung thư, AIDS, …
- Có nguy cơ phẫu thuật cao: ASA > 3
- Bệnh nhân không đồng ý can thiệp
2.1.2. Nhóm nối mật-ruột-da (nhóm NMRD)
Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân nhập viện được chẩn đoán sỏi
trong gan và có thêm một trong ba tiêu chuẩn sau:
1. Đã nối mật-ruột Roux-Y
2. Viêm đường mật do trào ngược thức ăn từ tá tràng sau làm ERCP
3. Hẹp OMC/Oddi, tiêu chuẩn hẹp OMC/Oddi của chúng tôi là:
- Có chỗ thắt hẹp của OMC ống soi không qua được
- Hoặc Oddi không co giãn mềm mại và không đưa được ống thông
đường kính 3 mm xuống tá tràng.
Tiêu chuẩn loại trừ : Nếu có một trong những tiêu chuẩn sau:
- Ung thư đường mật hoặc ung thư quanh bóng Vater
- Tiên lượng sống ngắn do những bệnh lý: ung thư, AIDS, …
- Có nguy cơ phẫu thuật cao: ASA > 3
- Bệnh nhân không đồng ý can thiệp
2.2. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp.
Cỡ mẫu: Để so sánh tỷ lệ biến chứng lâu dài là trào ngược giữa 2
nhóm, chúng tôi sử dụng công thức:
Z(1- /2)  2 P*(1- P*) + Z(1- )  [P

9
2.3 . Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2007 đến tháng 4/2014
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương TP HCM
2.4. Kỹ thuật thực hiện
Phẫu thuật nối mật-da với đoạn ruột biệt lập (NĐRBL)
Bệnh nhân được phẫu thuật mở dọc OMC khoảng 2 cm, ống nội soi
mềm đường mật được dùng để khảo sát đường mật và xử lý sỏi, đồng
thời đánh giá sự thông thương ống mật chủ-tá tràng. Túi mật được cắt
nếu bệnh nhân còn túi mật. Sau đó, chúng tôi chọn và cắt một đoạn
hỗng tràng dài 6-10 cm với mạc treo tương ứng đảm bảo máu nuôi
cho đoạn ruột. Hỗng tràng được nối lại tận-tận để tái lập lưu thông
đường tiêu hóa.

Hình 2.1- Kỹ thuật cắt đoạn hỗng tràng thông thường
Hình 2.1 mô tả kỹ thuật cắt đoạn ruột A-B thông thường, có thể thấy
rằng độ dài mạc treo chính là độ dài của cuống mạch nuôi đoạn ruột. Hình 2.2- Kỹ thuật làm dài mạc treo
10
Hình 2.2 cho thấy cũng với cuống mạch nuôi tương tự nhưng đoạn
ruột được chọn lại là đoạn B-C và nhờ đó mạc treo đã được kéo dài
thêm một đoạn dọc theo cung mạch bờ mạc treo (từ A đến B). Ta sẽ
dùng đường cắt số 3 để cắt bỏ đoạn ruột A-B sát bờ mạc treo sao cho
không phạm vào cuống mạch nuôi chính. Như vậy, đoạn ruột B-C
cuối cùng được chọn sẽ có mạc treo dài thêm khoảng 3-5 cm.
Kỹ thuật nối mật-ruột: Đoạn ruột được đưa xuyên mạc treo
đại tràng ngang đồng thời xoay 180
o

Hình 2.3- Phương pháp 1: Nội soi đường mật xuyên gan qua da và
phối hợp chọc dò quai Roux với hướng dẫn của nội soi, siêu âm và X
quang
* Phƣơng pháp 1: Đầu tiên, bệnh nhân được dẫn lưu đường mật
xuyên gan qua da (PTBD) và nong dần trong khoảng 6-10 ngày đến
kích thước ống 16-18F. Sau đó, thực hiện nội soi đường mật xuyên
gan qua da, tiếp cận miệng nối mật-ruột từ phía trên và đi vào quai
Roux. Lúc này, với hướng dẫn phối hợp giữa nội soi, siêu âm và X
quang, quai Roux được định vị trên thành bụng để chọc dò và nong
ngay đến ống 16-18F, đây sẽ là ngõ vào tương tự NMRD (Hình 2.3).

Hình 2.4- Phương pháp 2 và 3: Chọc dò quai Roux với hướng dẫn
của siêu âm và X quang hoặc phẫu thuật
12
* Phƣơng pháp 2: Có thể định vị quai Roux và sau đó chọc dò với
hướng dẫn phối hợp của siêu âm và X quang (Hình 2.4).
* Phƣơng pháp 3: Trong những trường hợp quai Roux không ở sát
thành bụng, chúng tôi thực hiện phẫu thuật mở bụng nhỏ hoặc PTNS
tìm quai Roux và mở ra da tương tự chọc dò quai Roux (Hình 2.4).
Với các ngõ vào được tạo ra như trên, ta có thể thực hiện nội soi lấy
sỏi giống như qua quai ruột của phẫu thuật NMRD.
2.5. Các chỉ tiêu đánh giá
- Các tiêu chí liên quan đến kỹ thuật như : mở OMC, chọn và cắt
đoạn ruột, xuyên mạc treo đại tràng ngang, khâu nối mật-ruột, khâu
đính đầu ruột vào thành bụng,…
- Tai biến, biến chứng sớm như: Chảy máu, nhiễm trùng, bục vết mổ,
áp xe tồn lưu, rò mật, tắc ruột sớm, viêm phúc mạc, … và tử vong.
- Các biến chứng muộn liên quan phẫu thuật như: tắc ruột, thoát vị
vết mổ,
- Các biến chứng muộn liên quan bệnh lý sỏi như: suy gan, ung thư


p (F)
NĐRBL
NMRD
Gan T
Gan P
Gan 2 bên
OMC-OGC+gan T
OMC-OGC+gan P
OMC-OGC+gan 2 bên
Tổng số
1
0
5
6
5
34
51
4
5
12
7
4
20
52
5
5
17
13
9

2
27
16
7
52
6
39
42
16
103 0,025

14
3.3. Quy trình kỹ thuật của NĐRBL và NMRD
Chúng tôi thực hiện phẫu thuật NĐRBL ở tất cả 51 TH, phẫu thuật
NMRD 37 TH, mở quai Roux ra da 15 TH.
Bảng 3.2- Đặc điểm kỹ thuật của NĐRBL và NMRD
Đặc điểm kỹ thuật
Nhóm
P
NĐRBL
NMRD
Vị trí mở OGC-OMC:
Mở dọc trên tá tràng
Cắt ngang OGC-OMC
Kiểu nối mật-ruột:
Nối bên-bên
Nối tận-bên


274,7 ± 61,9
(190-480)
++
++
++

31
21

31
21
17,4 ± 2,9
(10-25)
20,3 3,1
(15-25)
6,9 ± 1,0
(5-10)
21,9 ± 2,4
(18-25)
80,7 ± 8,4
(60-95)
237,2 ± 87,5
(65-580)
++
+
+

0,001
*

Không có tử vong liên quan đến phẫu thuật.
Biến chứng muộn: có khác biệt với tỷ lệ viêm đường mật ngược
dòng của nhóm NMRD là 36% so với 0% của nhóm NĐRBL.
Phân tích sống còn không khác nhau giữa 2 nhóm (p = 0,184) với các
nguyên nhân tử vong như: suy thận 1 TH, ung thư tinh hoàn 1 TH,
suy gan 4 TH và ung thư đường mật 3 TH.
3.5. Kết quả điều trị sỏi
Bảng 3.3- Tỷ lệ sạch sỏi sau cùng

Nhóm

p

2
)
NĐRBL
NMRD
Sạch sỏi
Còn sỏi
42
9
46
6

Tỷ lệ sạch sỏi (%)
82,3
88,4
0,416
Sạch sỏi: Tỷ lệ sạch sỏi sau cùng của 2 nhóm tương đương nhau:
82,3% của NĐRBL và 88,4% của NMRD (p = 0,416).

nhau lần lượt là 80% và 91,6%.
3.6. Kết quả lâu dài liên quan đến ngõ vào
Bảng 3.5- Tìm lại ngõ vào đường mật

Nhóm

p (t)
NĐRBL
NMRD
Số lần chọc dò

Thời gian chọc dò (phút)

Số trường hợp
1,1 ± 0,3
(1-2)
8,8 ± 3,4
(5 – 15)
46
1,9 ± 0,8
(1-4)
19,6 ± 9,2
(10 – 45)
44
0,001

0,001

Sau khi tìm lại được ngõ vào, nội soi đường mật ghi nhận như sau:
Độ dài đoạn ruột từ da vào đường mật không thay đổi, vẫn giữ được

Độ dài quai Roux và kiểu nối không liên quan với hẹp miệng nối,
trào ngược thức ăn và viêm đường mật ngược dòng.
Chƣơng 4: BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm sỏi trong gan
Chúng tôi thực hiện siêu âm ở tất cả các trường hợp và đã cho thấy
đa số là sỏi đường mật kết hợp trong và ngoài gan: 75 TH (72,7%).
Trong 28 TH sỏi trong gan đơn thuần thì có 23 TH thuộc nhóm
NMRD (p = 0,001). Sự khác biệt này có lẽ do nhóm NMRD có
những bệnh nhân đã được cắt ngang OMC và nối mật-ruột theo kiểu
tận-bên trước đó nên sỏi chỉ có thể xuất hiện chủ yếu ở đường mật
trong gan mà thôi.
Ở nhóm NĐRBL, sỏi trong gan 2 bên chiếm đa số với 42/51 TH
(82,3%), trong khi ở nhóm NMRD là 31/52 TH (59,6%). Tỷ lệ sỏi
trong gan 2 bên như trên là khá cao và đặc điểm này cũng phản ánh
một lần nữa tính chất phức tạp của bệnh lý sỏi trong gan. Khi khảo
sát qua các phương tiện chẩn đoán như siêu âm, CT scan và nội soi
đường mật, vị trí và phân loại sỏi giữa 2 nhóm NĐRBL và NMRD có
sự khác biệt có ý nghĩa. Điều này cho thấy sự không đồng nhất giữa 2
nhóm và chính vì thế nghiên cứu không thể đặt vấn đề so sánh mà chỉ
chủ yếu là mô tả các kết quả liên quan đến điều trị sỏi của 2 nhóm.
4.2. Quy trình kỹ thuật NĐRBL và NMRD
4.2.1. Nội soi đƣờng mật: Đây là thao tác thường quy để khảo sát
đường mật và lấy sỏi mà chúng tôi đã thực hiện trong tất cả các
trường hợp của nghiên cứu. Khảo sát đường mật là phần quan trọng
và mang tính quyết định để đưa ra phương pháp can thiệp cuối cùng.
Nội soi đường mật sẽ xác định sỏi, đánh giá hẹp đường mật trong gan
18
và quan trọng nhất là đánh giá sự thông thương của cơ vòng Oddi để
chọn lựa NĐRBL hay NMRD.
4.2.2. Phẫu tích xuyên mạc treo đại tràng ngang

nhiều nhất liên quan đến vết mổ thành bụng: 19 nhiễm trùng và 1 bục
vết mổ, tỷ lệ tương tự các tác giả. Đáng lưu ý là trường hợp tắc ruột
sau NĐRBL 3 tháng đã được phẫu thuật cấp cứu và phát hiện ruột
non thoát vị nội qua khe giữa mạc treo đoạn ruột và mạc treo đại
tràng ngang (Hình 4.1). Để hạn chế rủi ro này, kỹ thuật xuyên sát
chân mạc treo đại tràng ngang trước D2 tá tràng (hình 4.1) đã được
cải tiến và thực hiện. Đoàn thanh Tùng (2005) với 133 TH NMRD đã
ghi nhận như sau: thủng dạ dày tá tràng 6,01%, chảy máu đường mật
3%, tổn thương tĩnh mạch cửa 0,75%, , 2 TH rò đầu ruột dưới da
(1,5%) và 13 nhiễm trùng vết mổ (9,7%).
Mặc dù nghiên cứu chưa ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ ung thư
đường mật giữa 2 nhóm nhưng theo Tocchi A. (2001), khi hồi cứu
1.003 TH, nhận thấy bản thân nối mật-ruột cũng có tiềm ẩn nguy cơ
ung thư đường mật là 5,5 %, trong đó nối OMC-tá tràng 7,9 % và nối
mật-ruột Roux-Y là 1,9 %. Như vậy, câu hỏi đặt ra là: “Nối mật-ruột
có làm gia tăng nguy cơ ung thư đường mật ở bệnh nhân sỏi trong
gan?” Câu trả lời của Li SQ (2006) là có.
4.4. Kết quả điều trị sỏi
Sau mổ 2 tuần, bệnh nhân được nội soi lấy sỏi và không có biến
chứng nào được ghi nhận nên có thể thấy rằng thời điểm 2 tuần là an
toàn và phù hợp.
20
Tỷ lệ sạch sỏi sau cùng của 2 nhóm chưa ghi nhận khác biệt và nói
chung cũng tương tự các nghiên cứu khác với các ngõ vào khác nhau.
Do đặc điểm sỏi khác nhau nên sự so sánh chỉ có ý nghĩa tương đối.
Vì thế, điều mà nghiên cứu muốn khảo sát chính là ảnh hưởng của
các ngõ vào đối với thao tác nội soi đường mật lấy sỏi. Có thể rút ra
một số nhận xét về vấn đề này như sau:
- Đối với NĐRBL: ngõ vào là đoạn ruột, sỏi phải được lấy khỏi
đường mật ra ngoài hoặc đưa qua Oddi xuống tá tràng, tức là kích

cũng là một ưu điểm được mong đợi của NĐRBL so với NMRD.
Điều trị trào ngược: 6 TH đã được nối mật-ruột Roux-Y hát hiện trào
ngược thức ăn và không hẹp OMC/Oddi, chúng tôi phẫu thuật
chuyển thành NĐRBL bằng cách cắt ngang quai Roux và khâu kín để
cắt đứt sự thông nối giữa đường tiêu hóa và đường mật.
4.6. Tạo hình chỗ hẹp: Chúng tôi thực hiện 9 TH và kết quả đạt
tương tự như Li Y: chưa có hẹp tái phát. Có thể nhận xét bước đầu kỹ
thuật tạo hình chỗ hẹp đường mật tương đối đơn giản, thích hợp cho
vị trí hẹp ở vùng trung tâm (OGC-OGP-OGT) và kết quả hứa hẹn.
4.7. Chỉ định: Đối với những TH sỏi còn nguy cơ tái phát và phương
pháp điều trị dự kiến nếu tái phát vẫn là nội soi đường mật lấy sỏi thì
phẫu thuật tạo ngõ vào lâu dài là giải pháp hợp lý.
NĐRBL có những ưu điểm sau đây:
- Tạo ngõ vào đường mật lâu dài và hiệu quả để lấy sỏi nếu tái phát
- Bảo tồn chức năng cơ vòng Oddi
- Thực hiện được kỹ thuật tạo hình chỗ hẹp đường mật
NMRD chỉ được chọn lựa trong những trường hợp sỏi trong gan
nhưng không thể bảo tồn được chức năng cơ vòng Oddi như: cắt
ngang OMC, hẹp OMC/Oddi.
22
4.8. Những hạn chế của nghiên cứu
- Việc phân nhóm không ngẫu nhiên đã dẫn đến một số kết quả về
đặc điểm sỏi trong gan là không tương đồng và do đó hiệu quả điều
trị sỏi cũng như các biến chứng liên quan chưa đủ cơ sở để kết luận.
- Mẫu nghiên cứu thật sự chưa đủ lớn và thời gian theo dõi chưa đủ
dài nên khó đánh giá và so sánh giữa 2 nhóm.
- Phương pháp NĐRBL và NMRD thực tế chỉ là những giải pháp tạo
ngõ vào để lấy sỏi khi tái phát nhằm tránh phẫu thuật lại, do đó, chưa
thể hiện được khả năng phòng chống tái phát sỏi trong gan.
KẾT LUẬN

đánh giá tổn thương đường mật, ống mật chủ cũng như cơ vòng Oddi
- Cần bảo tồn mạch máu và làm dài mạc treo, nhất là trong nối mật-
da với đoạn ruột biệt lập
- Độ dài đoạn ruột không quá dài (5-8cm), đầu xa nối với đường mật
- Đầu ruột được khâu đính vào phúc mạc thành bụng
● Về tai biến, biến chứng, tử vong:
- Tai biến (thủng tá tràng) và các biến chứng sớm (nhiễm trùng vết
mổ, bục thành bụng, áp-xe tồn lưu, rò mật, tắc ruột sớm) có tỷ lệ thấp
(1,1%-19,5%), không khác nhau giữa hai phương pháp nối mật-da
với đoạn ruột biệt lập và nối mật-ruột-da.
- Biến chứng muộn viêm đường mật ngược dòng thường gặp với
phương pháp nối mật-ruột-da (36%) hơn là phương pháp nối mật-da
với đoạn ruột biệt lập (0%).
- Không có tử vong liên quan với cả hai phương pháp nối mật-da với
đoạn ruột biệt lập và nối mật-ruột-da, thời gian sống còn tương
đương nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status