ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Khoa Triết Học
Môn Lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Bài tiểu luận:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TUÂN TỬ
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Đoàn Thị Ngân
Nhóm thực hiện:
Vũ Ý Như 1356070038
Nguyễn Thị Lan Vi 1356070079
Lê Hoàng Yến 1356070081
1
2
MỤC LỤC
3
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trung Quốc là một quốc gia phương Đông có diện tích rộng lớn ở
khu vực châu Á.Với nền lịch sử văn hóa hàng ngàn năm, Trung
Quốc đã trở thành cái nôi hình thành nên nền văn hóa của khu vực
phương đông. Văn hóa Trung Quốc nổi bật với những quan niệm
đạo đức, nhân sinh, lễ nghĩa, cùng với đó là những tư tưởng triết học
mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, đã ảnh hưởng sâu rộng đến việc
hình thành tư tưởng triết học của các quốc gia phương Đông. Một
trong những trường phái triết học lớn có tư tưởng giá trị nhất trong
nền triết học Trung Quốc là trường phái Nho gia, một trường phái
triết học lấy luân lý đạo đức làm cơ sở cốt lõi để phát triền. Triết học
Nho gia cũng là phản ánh của một bộ phận lịch sử phức tạp, đa dạng
của Trung Quốc, thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc với những biến
đổi phức tạp trong quan niệm nhân sinh đạo đức Trung Quốc đương
5. Ý nghĩa của đề tài:
Ý nghĩa lí luận:
Nghiên cứu đề tài Triết học Tuân Tử giúp hiểu thêm về một tư
tưởng triết học lớn trong trường phái Nho Gia Trung Quốc, từ đó
tìm hiểu được những tiến bộ và phát triển trong lịch sử triết học
phương Đông nói chung cũng như triết học Trung Quốc nói riêng.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Đề tài nghiên cứu về triết học Tuân Tử có thể được sử dụng để
làm tài liệu cho các công trình nghiên cứu khác.
- Nghiên cứu triết học Tuân Tử để nhận ra các tư tưởng giá trị
trong về tự nhiên, xã hội và con người đối với thế giới xung
quanh mình để vận dụng vào đời sống thực tế, cách đối nhân xử
thế và quan hệ giữa con người và con người.
6. Kết cấu đề tài:
Đề tài bao gồm hai chương và 5 tiểu tiết.
5
Chương I: Những điều kiện tiền đề, cơ sở hình thành tư tưởng triết
học của Tuân Tử (2 tiểu tiết).
Chương II: Nội dung tư tưởng triết học Tuân Tử (3 tiểu tiết).
Phần nội dung
Chương I: Những điều kiện tiền đề, cơ sở hình thành tư tưởng triết học
của Tuân Tử:
1. Bối cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc vào thời Xuân Thu –Chiến Quốc:
6
1.1. Điều kiện tự nhiên:
1.1.1. Địa lí:
Trung Quốc là một đất nước rộng lớn và là một trong những nền văn
minh nhân loại xuất hiện sớm nhất.
Văn minh Trung Quốc ra đời bên cạnh hai con sông lớn: phía bắc là
Hoàng Hà và sông Trường Giang ở phía nam.
hiện cùng với tầng lớp thương nhân ngày càng lớn mạnh.
Qua thời Chiến Quốc, kinh tế phát triển mạnh mẽ, nghề luyện sắt hưng
thịnh , vật dụng bằng sắt được sử dụng phổ biến và rộng rãi; thêm đồ sơn, đồ
thuỷ tinh, kỹ thuật đồ gốm, kỹ thuật dệt và nhuộm (có khi người ta nhuộm tới
bảy màu), rất tiến bộ và người ta đã tìm được những hợp kim để chế tạo
những tấm gương soi mặt rất tốt. Từ đó hàng hóa đa dạng, nhiều chủng loại,
hoạt động thương mại diễn ra rất sôi nổi. Những nơi như Hàm Dương ở Tần,
Lâm Tri ở Tề, Hàm Đan ở Triệu, Đại Lương ở Nguỵ đều là những thị trấn
thương mại rất đông dân và thịnh vượng. Trong xã hội đã xuất hiện nhưng lái
buôn lớn chuyên đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường.
1.2.2. Văn hóa tư tưởng:
Vào thời kì các nước Hạ, Thương và Tây Chu, thế giới quan thần thoại,
tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần văn
hóa và xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ. Đã có sự xuất hiện của các tư tưởng
triết học, song vẫn chưa được phát triển thành một hệ thống. Nó gắn chặt thần
quyền với thế quyền, lí giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị -xã hội
1 Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi: Hàn Phi Tử, NXB Văn Hóa, năm 1994.
8
với lĩnh vực luân lí đạo đức. Lúc này đã có sự xuất hiện của những quan niệm
duy vật có tính chất phác, ngây thơ.
Đến thời kì Đông Chu hay còn gọi là Xuân Thu –Chiến Quốc, với sự
phát triển sôi nổi của xã hội đã xuất hiện các tụ điểm, những nơi tập trung các
“kẻ sĩ” luận tranh luận về những trật tự của xã hội cũ và đề ra những mô hình
của một xã hội trong tương lai. Thời kì này được gọi là thời kì “bách gia chư
tử”, làm sản sinh các nhà tư tưởng với những hệ thống triết học khá hoàn
chỉnh.
1.2.3. Chính trị:
Theo truyền thuyết Trung Hoa, triều đại đầu tiên là Hạ, bắt đầu từ
khoảng 2070 Tr.CN. Tuy nhiên, triều đại này bị các sử gia cho là thần thoại
cho đến các khai quật khoa học phát hiện ra những di chỉ đầu thời kỳ đồ
1.2.4. Xã hội:
Nhà Hạ mở màn cho chế độ chiếm hữu nô lệ. Chế độ này được chia
làm hai thời kì: Thời kì hình thành và phát triển (từ thế kỉ 21 -770 TCN), thời
kì suy vong (770 -476 TCN). Sau thời kì chiếm hữu nô lệ là sự giao hòa và
chuyển sang chế độ phong kiến, “từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia
trưởng, giá trị tư tưởng, đạo đức của xã hội cũ bị bang hoại, những giá trị tư
tưởng, đạo đức mới còn manh nha và đang trên con đường xác lập”
4
.
2. Tiền đề lí luận hình thành tư tưởng triết học Tuân tử:
Thời Xuân Thu –Chiến Quốc, chiến tranh loan lạc liên miên, nhân dân
rơi vào cảnh lầm than, sự suy đồi đạo đức của xã hội Trung Quốc bấy giờ đã
thúc đẩy phát triển các học thuyết. Trải qua các thời kì, lần lượt các tư tưởng
2 http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c
3 http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c
4 PGS. TS. Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử triết học phương Đông, NXB CTQG, tr240.
10
khác nhau đã ra đời. Vào cuối thời Chiến Quốc, nổi lên có Tuân Tử một nhà
triết học mang những tư tưởng vượt bậc, cách xa thời đại lúc bấy giờ. Tư
tưởng của ông được nhận định rằng “ hấp thụ triết lí tự nhiên của Lão –
Trang, lấy tư tưởng chính trị nhân bản của Mạnh tử, xuyên suốt học thuyết
của mình, có duy vật, có duy tâm song Tuân Tử đã thể hiện lòng trung thành
với luân lí chính trị của người đã sáng lập ra Nho gia”
5
. . Vào thời này, Tuân
tử, Nho giáo, Lão giáo và Mặc gia đều thịnh hành; các trường phái triết học
nở rộ, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa phê phán , công kích nhau từ nhiều
phía. Tuân tử là người theo học thuyết của Khổng tử, đề cao “nhân nghĩa”, “lễ
nhạc”, chủ trương “chính danh”, trọng vương khinh bá , nhưng tư tưởng của
ông lại tương phản với Khổng tử và Mạnh tử cả về thế giới quan cũng như
Tuân Tử
7
(315 tr.CN – 230 tr.CN), tên Huống, tự là Khanh người nước
Triệu,làm việc cho Tề Vương Vương. Tuân Tử chính là thầy của thừa tương
nhà Tần là Lý Tư. Ông vừa là quan trong triều đình vừa dạy học và viết sách.
Tác phẩm chính của ông là bộ Tuân Tử gồm 32 thiên. Trong tác phẩm đó, ông
trình bày toàn bộ quan điểm triết học của mình phần lớn bằng những câu
chuyện ngụ ngôn, hay những lời nói mang tính giáo huấn.
1. Thế giới quan:
6 Hồ Thích,Trung Quốc triết học sử đại cương , tr 488
7 Doãn Chính, Lịch sử triết học phương Đông
12
Tuân Tử đặt vấn đề về mối quan hệ giữa trời và người, mệnh đề: “Trời
và người có sự phân biệt”, là một nội dung quan trọng nhất trong tư tưởng
triết học của Tuân tử. Ông phản bác lối lập luận duy tâm thần bí vầ mối quan
hệ giữa trời và người của các nhà tư tưởng khác.
Tuân Tử đã phê bình triết học Trang Tử, ông cho rằng Trang Tử qúa
chú trọng về đạo trời nên mới sinh ra chủ nghĩa an mệnh, chủ nghĩa thủ cựu.
Ông đã phản đối kịch liệt: “ chỉ có thánh nhân là không cần biết trời”. (Thiên
luận). ”Cho nên người quân tử kính cái ở mình mà không mộ cái ở trời. Kẻ
tiểu nhân bỏ cái ở mình mà mộ cái ở trời. Người quân tử kính cái ở mình mà
không mộ cái ở trời cho nên ngày một tiến bộ. Kẻ tiểu nhân bỏ cái ở mình mà
mộ cái ở trời cho nên ngày một thoái bộ”. (Thiên luận). “
Trời là tự nhiên: Tuân Tử gạt bỏ tín ngưỡng truyền thống xem trời là
chủ tể tối cao, có lý trí, có ý chí và tình cảm, tận thiện và toàn năng. Ông chấp
nhận trời là gốc của sự sống, nhưng không tin trời như một tồn tại siêu nhiên.
Đối với ông, trời chỉ là tự nhiên – một thế lực ngang hàng với đất và người,
một sự vận hành theo phép tắc tự nhiên, vĩnh cửu và thường hằng bất biến.
Trong Thiên luận ông cho rằng: “Trời hoạt động theo bình thường
không vì vua Nghiêu mà để cho còn, không vì vua Kiệt mà làm cho mất”.
người có thể cải tạo được tự nhiên, cho rằng con người không thể chờ đợi tự
nhiên ban phát một cách bị động phải vận dụng tài trí, khả năng của mình,
dựa vào quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra nhiều của cải, sản vật để phục vụ
đời sống của con người. Ông chủ trương sửa trị việc nước, giáo hóa đạo đức,
lễ nghĩa làm cho xã hội tiến bộ văn minh hơn. Đó là chức năng của con người
– có thể sánh ngang với Trời đất vậy”
9
.
9 Doãn Chính, Lịch sử triết học phương Đông, tr 344
14
Theo Tuân Tử “Sao mà sa, cây mà kêu, đó là cái biến hóa của trời đất
âm dương, là sự ít khi xảy ra của vạn vật, cho là quái lạ thì nên, mà lo sợ thì
không nên” (Thiên luận). Ngay cả “Mặt trời, mặt trăng cũng có khi ăn lẫn
nhau, mưa gió cũng có khi không hợp thời, những ngôi sao lạ cũng có khi
xuất hiện từng chùm, những cái đó không thời nào mà không thấy” (Thiên
luận). Những việc do con người làm ra như “ chính trị hiểm ác mất lòng dân,
đất đai bỏ hoang không cày cấy, gạo đắt dân đói, chiến tranh loạn lạc, thây
chết đầy đường, lễ nghĩa không sửa, trong ngoài trên dưới không phân biệt,
trai gái dâm loạn, cha con nghi nhau, vợ chồng lìa nhau mới là quái gở, đáng
sợ và là thâm họa nhất” (Thiên luận).
Ông quả quyết rằng quỷ thần không chi phối được vận mệnh con
người. Trời không làm hại cũng không cứu giúp được con người. Trong cuộc
sống của mình, sự thành công hay thất bại của con người phụ thuộc vào việc
con người hành động thuận hay trái với lẽ tự nhiên. Với tư tưởng này ông
xứng đáng là nhà vô thần vĩ đại của Trung Quốc cổ đại.
Ngoài ra trong quan niệm về vũ trụ, khi giải thích về tự nhiên ông còn
đưa ra học thuyết về “khí” và cho rằng khí là nhân tố vật chất cấu tạo nên vạn
vật, đồng thời ông phân biệt sự khác nhau của vật chất vô cơ, thực vật, động
vật và loài người. Ông nhận thấy: nước, lửa có khí nhưng không có sinh
mệnh; cây cỏ có sinh mệnh nhưng không có tri giác; cầm thú có tri giác
danh). “Tâm” có khả năng trưng tri, là khả năng tổng hợp, phân tích, trừu
tượng hóa, khái quát hóa những cảm giác do giác quan mang lại, rồi đặt một
danh quy ước với một ý nghĩa nhất định cho những cái giống nhau. Nhờ có
“tâm” mà những tính chất do cảm quan “thiên quan” nhận biết mới được phân
biệt, phán đoán, “tri” mới trở thành “trí”. Ngược lại, hoạt động của “tâm” cốt
yếu phải lấy hoạt động của “thiên quan” làm cơ sở. Ông viết: “Tâm có cái
trưng tri. Có trưng tri rồi thì theo tai mà nghe âm thanh, theo mắt mà biết hình
16
thể, màu sắc. Song trưng tri phải đợi các giác quan ghi nhận các loại, rồi sau
mới biết”. Bên cạnh đó, khi nói về “tâm”, Tuân Tử cho rằng “tâm” có thể
nhận thức sâu sắc sự vật là do có những đặc tính hư, nhất, tĩnh. Hư (虚) trong
hư vô, nghĩa là trống rỗng. Tâm luôn có sự hiểu biết, tức là chất chứa những
hiểu biết trong tâm, tâm luôn chứa đựng hiểu biết. Thế nhưng những cái hiểu
biết đã được chứa chất trong tâm sẽ không làm ảnh hưởng đến cái đang được
tâm hiểu biết hay sẽ được tiếp nhân. Như vậy gọi là tâm “hư”.Nhất(壹) trong
thuần nhất, nghĩa là không lai tạp. Tâm có hiểu biết, có thể nhận biết nhiều cái
khác nhau trong cùng một thời điểm, tuy nhiên tâm vẫn luôn thuần nhất,
những cái hiểu biết ấy không lai tạp với nhau, không ảnh hưởng đến nhau,
như vậy gọi là “Nhất”. Tĩnh (靜) trái với động, nghĩa là đứng yên, không hoạt
động. Tâm luôn luôn hoạt động bất cứ lúc nào, như “tâm lúc ngủ thì mộng,
lúc trễ nải, biếng nhác thì phóng túng, lúc làm việc thì lo lắng. Cho nên tâm
chưa từng không động”. Tuy nhiên, mặc dù, tâm luôn hoạt động, nhưng
những cái biết, những hiểu biết có sẵn hoặc đang được nhận thức trong tâm
thì không bao giờ bị rối loạn, không mất đi. Như vậy gọi là “tĩnh”.
Khi nói về cảm giác, Tuân Tử đã cho rằng tác dụng của cảm giác không
phải bao giờ cũng hoàn toàn chính xác, bởi nó còn phụ thuộc bởi những điều
kiện nhất định. Trong những điều kiện khiến cảm giác bị hạn chế, cảm giác sẽ
đem lại những ấn tượng sai lầm. Ví dụ: Khi trời mưa, thì tầm nhìn của mắt sẽ
bị hạn chế, không thể xác định chính xác xa gần. Khi trời nắng, sự phản xạ
ánh sáng theo một góc tạo nên phản xạ toàn phần sẽ gây ảo giác trên đường
do đó sự nhận biết của thiên quan với vật thì giống nhau. Khi sự vật được so
sánh và một số sự vật được thấy là giống nhau, thì chúng được gán chung một
danh như một quy ước để sau này khi ta nói danh thì hiểu nó chỉ vật gì” (Tuân
Tử, Chính danh). Danh ở trong quan niệm của Tuân Tử không chỉ mang ý
18
nghĩa nhận thức mà con mang ý nghĩa đạo đức nữa. Việc tạo danh là để phân
biệt những cái giống nhau và cái khác nhau, tránh những rắc rối hiểu lầm khi
những cái giống nhau và khác nhau bị lầm lẫn. Ai sang ai hèn đã rõ, cái giống
cái khác đã rõ thì chẳng còn cái khó khăn phế bỏ nữa. Khi thiên quan nhận
biết những sự vật này, nó sẽ cảm giác được những cái giống nhau và gán cho
những cái giống nhau một cái danh chung, để khi nói đến danh đó ta lập tức
hiểu được danh đó nói đến sự vật gì. Tuy nhiên, cái chung cũng là từ những
cái riêng mà thành, vì vậy mà Tuân Tử đã chia danh thành hai loại là “danh
chung” và “danh riêng”. Thực cùng loại thì dùng danh chung, khác loại thì
dùng danh riêng. Thực mà khác loại thì không thể dùng danh khác nhau, mà
cùng loại thì không thể dùng danh khác nhau được, như vậy mới không gây ra
rối loạn trong quá trình nhận thức. Như vậy, đồng danh hay dị danh là do
chính bản thân sự vật, hay cái thực quy định. Cái chủ yếu để chế danh là tính
chất của sự vật. Bên cạnh đó, ông cũng đã nhận biết được mối quan hệ giữa
cái chung và cái riêng, cái cá biệt và cái toàn thể. Tuân Tử đã viết: “Cho dù
vạn vật vô số kể, sẽ có lúc chúng ta muốn gọi đến chúng thì chúng ta gọi
chung là vật”, “nhiều cộng danh sẽ có chung một đại cộng danh khác, cứ lần
lượt gọi gộp chung đến lúc không thể gộp chung được nữa thì thôi. Có lúc ta
muốn đề cập đến cái riêng, thì ta gọi điểu thú chẳng hạn, điểu thú là đại biệt
danh. Suy xuôi xuống mà goi tách ra, một biệt danh mới sẽ có nhiều biệt danh
khác, cứ lần lượt gọi tách biệt như thế đến lúc không thể gọi tách biệt được
nữa thì thôi”. Ông đã khẳng định cái toàn bộ ở trong cái cá biệt, và cái toàn bộ
chỉ có thể bao gôm cái cá biệt một cách đại khái.Quan niệm này đối lập với
quan điểm tách rời cái toàn bộ và cái cá biệt của phái Công Tôn. Với toàn bộ
quan niệm về danh trên, Tuân Tử đã phê phán những quan niệm luận cứ của
10 Will Durant, Di sản phương đông, tr 827
11 Nguyễn Hiếu Lê – Giản Chi, Tuân tử, tr 46
20
“Xưa nay thiên hạ gọi thiện là những gì hợp với sự chỉnh lí bình trị ,
gọi ác là những gì hợp với sự thiên nhiễm bội loạn. Đó là điểm phân biệt thiện
và ác” (Tính ác).
Tuân tử cũng cho rằng, cái tính của con người là do hòa khí xung hợp
mà thành tính linh hợp với mọi vật và có sự cảm ứng lẫn nhau sự yêu, ghét,
mừng, giận, buồn, vui của tính thì gọi là tình. Tình là cái vô cùng cho nên
phải có tâm để chọn cái nên và cái không nên mà làm gọi là “tư lự”. Có tâm
tư lự để khiến con người hành động và con người cần có sự học tập, rèn luyện
thì mới uốn nắn được cái bản tính của mình. Tâm tư lự và có thể theo đó hành
động thì gọi là ngụy. Tư lự nhiều, tập luyện thành kỹ năng, rồi sau thành tựu,
thì cũng gọi là ngụy (tạo tác). Hành động vì cái lợi chính đáng thì gọi là sự.
Hành động vì chính nghĩa thì gọi là tri (tri giác). Tri giác hợp vói ngoại vật thì
gọi là trí (kiến thức). Cái ở trong con người mà nhờ nó người ta có thể làm
công việc gọi là năng (khả năng). Khả năng hợp với ngoại vật thì gọi là năng
(tài năng). Tính bị thương gọi là bệnh. Cái mà ta tình cờ gặp thì gọi là mệnh.
Theo những câu chính Tuân tử định nghĩa trên thì tính là một cái gì do trời
sinh, còn ngụy là do sức con người tạo thành.
Từ đó ông cho rằng các khuôn pháp như “Lễ nghĩa hình phạt” của giai
cấp quý tộc và thể chế phong kiến là tất yếu tồn tại. Mặc dù Tuân Tử cho rằng
bản tính con người là ác, nhưng bằng việc giáo dục con người có thể tạo ra
được cái thiện, và để tạo ra được cái thiện thì con người phải có thầy có phép
dạy bảo thì mới thành thiện và cũng cần phải có lễ nghĩa giáo hóa con người.
“Đời xưa thánh nhân cho rằng bản tính con người là ác cho nên đề
xướng lễ nghĩa, đặt ra pháp độ để uốn nắn cho cái tính của con người chính
lại, để chuyển hóa cái tính tình của người ta mà dẫn dắt, khiến cho tất cả đều
ra từ trị mà hợp với đạo vậy”
12