Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CÔNG VÀ ĐẦU TƯ TƯ NHÂN. LIÊN HỆ
THỰC TRẠNG VIỆT NAM
Lớp học phần : Kinh tế đầu tư 1 (114)_4
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng
Nhóm sinh viên thực hiện:
STT Họ và tên Mã sinh viên
1 Hoàng Thị Hà Trang 11124038
2 Phí Thị Sim 11123349
3 Vũ Tú Uyên 11124523
4 Ngô Thị Hồng Nhung 11122930
5 Vũ Thùy Linh 11122306
6 Nguyễn Phương Hoa 11121447
7 Nguyễn Thanh Giang 11125019
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 1
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Qua quá trình phát triển của kinh tế học từ “bàn tay vô hình”của Adam Smith đến lý
thuyết trọng cầu của Keynes hay gần đây nhất là “nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson” ta
có thể biết được rằng nền kinh tế cần có sự điều tiết của Nhà nước thông qua các hoạt động
đầu tư công. Đầu tư công có vai trò thực sự quan trọng, nó không chỉ đóng góp trực tiếp vào
GDP mà còn gây ra tác động tràn thúc đẩy đầu tư tư nhân phát triển thông qua các hệ thống
CSHT : điện, đường, trường, trạm… hay định hướng phát triển ngành thông qua việc ưu tiên
đầu tư vào các ngành trọng điểm. Bằng việc đầu tư vào các cơ sở hạ tầng, cải thiện đường
giao thông và các hoạt động đầu tư cho giáo dục nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
- Nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước
2. Đầu tư tư nhân
2.1. Khái niệm
Đầu tư tư nhân là hình thức cá nhân hay một doanh nghiệp sở hữu tư nhân sử dụng
phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thu được lợi ích về kinh
tế.
Vì doanh nghiệp tư nhân chiếm tỉ trọng gần như toàn bộ trong số vốn cũng như các
dự án đầu tư (xét trong khu vực đầu tư tư nhân) vì vậy khi nhắc đến đầu tư tư nhân là đang
nhắc đến đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân (kể các doanh nghiệp nước ngoài có chủ sở
hữu là tư nhân)
2.2. Nguồn vốn của đầu tư tư nhân
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 3
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
Thay vì nguồn vốn được lấy ra từ ngân sách nhà nước hay từ những nguồn vốn thuộc
sở hữu nhà nước khác nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân chủ yếu là vốn tự có hoặc
đi vay. Các nguồn vốn của đầu tư tư nhân bao gồm:
- Vốn chủ sở hữu : nguồn vốn này của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn :
Thứ nhất là vốn tự có (vốn điều lệ ban đầu của doanh nghiệp), thứ hai là lợi nhuận giữ lại
trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Vốn vay: Đối với vốn vay doanh nghiệp cũng có hai con đường để tiếp cận nguồn
vốn này
+ Vay ngân hàng: đây là cách mà tất cả các doanh nghiệp đều có thể sử dụng khi
thiếu vốn sản xuất kinh doanh với điều kiện doanh nghiệp đáp ứng được những yêu cầu của
ngân hàng
+ Vay từ đại chúng: cách này chỉ được áp dụng đối với doanh nghiệp có khả năng
và được phép phát hành chứng khoán qua các đợt IPO và PO
3. Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân
3.1. Tác động của đầu tư tư nhân tới đầu tư công
3.1.1. Đầu tư tư nhân là yếu tố đóng góp không nhỏ cho ngân sách nhà nước phục
Mục đích của đầu tư công bao gồm những loại hoạt động của Nhà nước về: quốc
phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng (cầu đường,
sân bay, cảng, cơ sở y tế, giáo dục,…). Nhà nước sử dụng lực lượng doanh nghiệp nhà nước
để duy trì đầu tư ở một số họat động có tính chất công ích, đầu tư vào những lĩnh vực, dự án
mà các nguồn lực kinh tế khác chưa đáp ứng được nhằm bổ sung những khiếm khuyết của
thị trường, ví dụ như phát triển năng lượng sạch, công nghệ cao, cơ sở hạ tầng quan trọng,
cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo, bệnh viện chất lượng cao,… Từ đó, tạo ra môi
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 5
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
trường kinh doanh thuận lợi hơn cũng như giảm được chi phí sản xuất cho khu vực tư nhân
để tăng cường đầu tư.
Có thể nói môi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu cho quyết định bỏ vốn
của nhà đầu tư, sự cải thiện môi trường đầu tư có ảnh hưởng vô cùng quan trọng và tác động
tích cực đến nền kinh tế, làm tăng nguồn vốn đầu tư và tăng chi tiêu đầu tư toàn xã hội.
Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu
quả đầu tư. Có thể nói đến hai khái niệm:
- Môi trường cứng: bao gồm các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục vụ
cho sự phát triển kinh tế, ví dụ như hệ thống thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng giao thông,…
- Môi trường mềm: bao gồm hệ thống thủ tục hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan
đến hoạt động đầu tư, hệ thống tài chính– ngân hàng…
Cơ sở hạ tầng ở đây mang tính tiên phong, định hướng, xúc tác cho các hoạt động
đầu tư, nó mở đường cho các hoạt động kinh tế xã hội phát triển. Vì vậy cần chú ý đến công
tác đầu tư chuẩn bị hệ thống cơ sở hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư, tạo cho họ sự tin cậy để
bỏ vốn đầu tư. Một môi trường đầu tư ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúc đẩy
các nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư phát triển. Trong đó, việc đưa ra các chính sách nhằm tăng
lòng tin cho các nhà đầu tư cần được chính phủ quan tâm. Chính sách và hành vi của chính
phủ có ảnh hưởng mạnh thông qua tác động của nó đến chi phí, rủi ro và các rào cản cạnh
tranh.
b. Nhu cầu hàng hóa dịch vụ từ chính phủ khiến cầu về sản phẩm của khu vực tư
giữa sản lượng và lãi suất mà tại đó thị
trường tiền tệ cân bằng.
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 7
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
Khi chính sách tiền tệ không đổi, nhà nước tiến hành tăng chi tiêu cho hoạt động đầu
tư công sẽ khiến cho đường IS dịch song song qua phải gây nên tăng lãi suất trong ngắn hạn.
Trong dài hạn, lãi suất sẽ quay trở về mức ban đầu do sự điều tiết của chính sách tiền tệ.
Vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư, do đó với tư cách là chi phí sử
dụng vốn (hay giá của vốn) thì lãi suất ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu tài chính của dự án.
Các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất phản ánh giá của khoản tiền vay mượn
đó. Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt
giảm quy mô đầu tư và ngược lại.
b. Ngoài ra, việc tài trợ cho chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà nước, thường được thực
hiện bởi tăng thuế, đã cạnh tranh một cách trực tiếp với khu vực tư nhân trong việc tiếp cận
các nguồn lực tài chính khan hiếm của nền kinh tế.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vừa là công cụ tái phân phối của
cải xã hội, vừa là công cụ điều tiết phân bổ vốn giữa các nganhg, vùng miền. Thuế ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp nên các chính sách về thuế có ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động đầu tư, đặc biệt với những vùng kinh tế còn kém phát triển.
Thuế làm giảm hành vi sản xuất vì thuế đánh vào thu nhập từ lao động, tiết kiệm, đầu
tư hay những hình thức khác. Thuế thu nhập cá nhân làm giảm thu nhập khả dụng của người
lao động, không khuyến khích họ làm việc nhiều và thậm chí còn làm nản chí trong việc tìm
kiếm việc làm. Lao động giảm dẫn đến giảm tổng cung trong khi thu nhập giảm dẫn đến
giảm tổng cầu. Thuế thu nhập doanh nghiệp làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận sau
thuế của doanh nghiệp dẫn đến tổng cung giảm. Thuế đánh vào tiết kiệm làm giảm động cơ
tiết kiệm và do đó, tạo được ít nguồn vốn hơn cho đầu tư của các doanh nghiệp sản xuất.
c. Đầu tư công dẫn đến tăng nợ công, giảm nguồn vốn của đầu tư tư nhân.
Nợ chính phủ, là một phần thuộc Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản
tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay. Việc đi vay này là
Trong đó G: Đầu tư công (tỉ đồng)
I: Đầu tư lĩnh vực tư nhân (tỉ đồng)
Từ kết quả trên ta có thể thấy được rằng đầu tư tư nhân có ảnh hưởng tích cực đến đầu tư
công, cụ thể khi đầu tư tư nhân tăng 1 % và các yếu tố tác động khác không có gì thay đổi
sẽ làm cho đầu tư công tăng 0.934011%. Kết quả thống kê này thực sự có ý nghĩa thực tiễn
bởi việc gia tăng đầu tư tư nhân, doanh nghiệp tư nhân tạo ra nhiều lợi nhuận hơn từ đó
đóng góp nhiều hơn vào ngân sách nhà nước – nguồn vốn không thể thiếu của các dự án đầu
tư công.
Cụ thể những đóng góp của đầu tư tư nhân cho ngân sách nhà nước
(Đơn vị: tỉ đồng)
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 10
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
Nguồn: Tự tổng hợp từ số liệu của Tổng cục thống kê
Từ bảng số liệu ta có thể thấy được nguồn thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
trong nước có xu hướng ngày càng tăng qua các năm và chiểm 1 tỉ trọng ngày càng lớn.Cụ
thể năm 2000 đầu tư tư nhân chỉ đóng góp 5802 tỉ đồng vào vốn ngân sách Nhà nước và
chiếm 6.39% các khoản thu thì đến năm 2012 sau 12 năm con số đóng góp của khu vực kinh
tế này lên đến 93642 tỉ đồng gấp hơn 16 lần và chiếm đến 12% trong các khoản thu NSNN.
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 11
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
1.2. Đầu tư tư nhân giúp cho đầu tư công hiệu quả hơn trong các dự án hợp tác đầu tư
công - tư PPP
Ở Việt Nam, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-2009 đã có
32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ đô la.
Cũng giống như các nước khác, mô hình BOT (Hợp đồng Xây dựng – kinh doanh – chuyển
giao) và BOO chiếm tỷ phần chủ yếu. Hai lĩnh vực chiếm tỷ phần lớn nhất là điện và viễn
thông. Ngoài ra, có thể kể đến nhiều dự án hợp tác công - tư khác đã và đang được triển khai
từ thập niên 1990 đến nay như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất
- Mô hình hợp tác công tư PPP đã thổi một làn gió mới vào thị trường của Việt Nam,
khắc phục được những hạn chế của việc đầu tư công như quản lý kém hiệu quả, chất lượng
không cao… thay vào đó là hình ảnh những dự án vượt tiến độ và chất lượng cao
- PPP đã thực sự giải quyết được một phần tình trạng thiếu vốn để xây dựng cơ sở hạ
tầng ở Việt Nam.
2. Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân
2.1. Đầu tư công tác động thúc đẩy bổ sung đầu tư tư nhân
2.1.1. Đầu tư công ngày càng tạo được môi trường vĩ mô thuận lợi cho đầu tư tư
nhân.
Một trong những vai trò quan trọng nhất của đầu tư công đối với phát triển kinh tế
nói riêng và đầu tư tư nhân nói chung là cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô.
a. Môi trường hành chính, luật pháp
Sau gần 30 năm đổi mới từ năm 1986 Đảng và chính phủ đã không ngừng thay đổi và
hoàn thiện các bộ luật, các chính sách nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp
phát triển. Từ việc sản xuất theo hình thức kế hoạch hóa tập trung, đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI đã đề ra đường lối cải cách mới, giờ đây các doanh nghiệp được tự do hoạt động
trên các lĩnh vực mà Nhà nước cho phép. Với việc ra đời Luật đầu tư vào năm 2005 và
không ngừng sửa đổi bổ sung qua các năm, bên cạnh đó là việc khuyến khích các dự án cải
cách bộ máy hành chính đầu tư công đã góp phần không nhỏ vào việc cải thiện môi trường
pháp lý cho các doanh nghiệp trong nước. Sau 10 năm tiến hành cải cách hành chính tuy còn
nhiều bất cập nhưng nó cũng đạt được một số thành tựu đáng khích lệ, tạo môi trường pháp
lí thuận lợi hơn cho đầu tư tư nhân phát triển.
b. Cơ sở hạ tầng
Trong 10 năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông nước ta phát triển theo chiều
hướng khá tích cực: mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng. Các tuyến giao thông
đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt chính yếu đó được đầu tư nâng cấp kết hợp tăng
cường công tác quản lý bảo trì nâng cao đáng kể năng lực thông qua. Từ năm 1991 đến năm
2001 mật độ đường bộ tăng từ 0,66Km/Km2 lên 0,77Km/Km2. Hạ tầng giao thông đường
biển được đầu tư cơ bản, hoàn thành nâng cấp tại nhiều cảng biển chủ yếu nâng cao năng
lực thông qua cảng biển từ 110 triệu tấn năm 2000 lên 350 triệu tấn năm 2010.
2012 Quốc hội đồng ý chi cho lĩnh vực sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,
quản lý hành chính 704.400 tỷ đồng. Còn năm 2013, theo dự toán, lĩnh vực này được phân
bổ 674.440 tỷ đồng, nhưng cuối cùng, chi 694.300 tỷ đồng, tăng 2,9% so với dự toán). Đây
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 14
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
là một con số khá lớn để đổi lại chúng ta có một nền hòa bình được xếp hạng 45 trên thế
giới, tạo sự tin cậy và an tâm cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào Việt Nam.
Đầu tư công vào quốc phòng an ninh tăng khiến cho chất lượng nền an ninh quốc
phòng của Việt Nam ngày càng được cải thiện, vì vậy được các doanh nghiệp nước ngoài
đánh giá cao và tin tưởng. Có tới 57% doanh nghiệp Mỹ hoạt động trong khu vực đánh giá
Việt Nam là điểm đến hấp dẫn nhất để mở rộng đầu tư, với chi phí thấp và nền tảng chính trị
ổn định. Nhờ có vậy, trong những năm gần đây đầu tư tư nhân của các doanh nghiệp nước
ngoài vào Việt Nam đang ngày càng tăng, với lượng vốn đầu tư ngày càng lớn. Hiện có 25
trong Top 500 công ty hàng đầu của Mỹ có kế hoạch đầu tư vào những dự án lớn của Việt
Nam, trong đó có Intel, Chevron…Tổng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của Mỹ vào Việt Nam
đạt 10,5 tỷ USD (5-2013) với 658 dự án. Các nhà đầu tư từ các nước khác trên thế giới cũng
lần lượt tham gia vào thị trường Việt Nam.
An ninh quốc phòng được chú trọng đầu tư củng cố cũng giúp các doanh nghiệp tư
nhân trong nước ổn định tình hình sản xuất, có môi trường đầu tư chất lượng, thuận lợi. Nhờ
an ninh tốt mà doanh nghiệp đã tránh được nhiều rủi ro kinh tế như trộm, cắp, phá hoại tài
sản, gây rối,… Các tội phạm kinh tế liên tục giảm, những vụ việc đình công, chống phá
được giải quyết nhanh chóng,…
Chính vì vậy, tăng cường đầu tư cho an ninh quốc phòng, tạo nền kinh tế chính trị ổn
định đã phần nào làm gia tăng, thu hút đầu tư tư nhân trong và ngoài nước, góp phần nâng
cao hiệu quả đầu tư tư nhân ở Việt Nam.
d. Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực đầu vào. Dù còn
nhiều bất cập và hạn chế nhưng việc chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam trong khoảng thời
gian năm 2000-2005 rất lớn so với mức thu nhập của người dân và thu nhập của cả nước.
Nam, nâng cao năng suất lao động, tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp trong quá
trình tuyển dụng nhân lực.
Bảng số liệu trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động Việt Nam qua các năm (Nguồn
Tổng cục Thống kê)
Phân loại trình độ (Tổng 100%) 2010 2011 2012 2013
Không có trình độ chuyên môn kĩ thuật 85,5 84,6 83,4 82,1
Dạy nghề 3,8 4,0 4,7 5,3
Trung học chuyên nghiệp 3,4 3,7 3,6 3,7
Cao đẳng 1,7 1,7 1,9 2,0
Đại học trở lên 5,7 6,1 6,4 6,9
Từ số liệu trong bảng thống kê chúng ta có thể thấy sự gia tăng trong chất lượng nguồn nhân
lực Việt Nam qua từng năm. Đây chính là nền tảng cho nguồn nhân lực phục vụ cho khu
vực tư nhân, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
2.1.2. Chú trọng phát triển một số ngành trọng điểm định hướng phát triển ngành
cho tư nhân.
Ngày 23/4/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg phê
duyệt Danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn
2007 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và một số chính sách khuyến khích phát triển.
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 16
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
* Danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2007-2010,
tầm nhìn đến năm 2020 bao gồm:
• Dệt may (sợi, vải, lụa, quần áo xuất khẩu, nguyên phụ liệu),
• Da giầy (giầy dép xuất khẩu, nguyên phụ liệu) ,
• Nhựa (nhựa gia dụng, bao bì, chai lọ, ống , nhựa kỹ thuật),
• Chế biến nông, lâm, thủy hải sản,
• Thép (phôi thép, thép đặc chủng),
• Khai thác, chế biến bauxít nhôm, Hóa chất (hóa chất cơ bản, phân bón, hóa dầu, hóa
dược, hóa mỹ phẩm),
Khi 1 DN tư nhân đầu tư vào 1 dự án, tiềm ẩn trong đó là rất nhiều rủi ro, nhưng với
cơ chế PPP người đúng ra bảo lãnh là Nhà nước nên mức độ rủi ro giảm xuống. Bên cạnh
đó, trong quá trình vay vốn để tiến hành dự án, DN tư nhân thực hiện dự án đầu tư PPP sẽ có
nhiều cơ hội tiếp cận nguồn vốn hơn là những DN tư nhân đơn thuần. Chính vì thế ở Việt
Nam hiện nay ngày càng xuất hiện nhiều dự án PPP bởi tư nhân nhận thức được những lợi
ích mình sẽ có được. (Số liệu đã đề cập đến ở mục 1.2)
2.2. Đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân
2.2.1. Phân tích thực trạng lấn át
Ở Việt Nam, tuy đầu tư công đã đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đầy đầu tư tư
nhân, thực trạng chung hiện nay vẫn là đầu tư công đang có hiện tượng lấn át đầu tư tư
nhân.
Từ năm 2000, Việt Nam theo đuổi mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư,
tổng đầu tư toàn xã hội liên tục tăng và duy trì ở mức cao. Tỷ lệ vốn/GDP đã tăng từ 35,4%
năm 2001 lên 41.9% năm 2010. Bình quân cho cả giai đoạn 2001-2010 là xấp xỉ 41%, so
với 30,7% trong giai đoạn 1991-2000, thuộc loại cao nhất khu vực Đông và Đông Nam Á.
Đến năm 2013, tổng đầu tư toàn xã hội chiếm 30,4% GDP, thu hẹp đáng kể từ mức trên
40% GDP nhiều năm trước. Quy mô đầu tư trên GDP giảm đang giúp hạ nhiệt nền kinh tế,
hạn chế mức độ lãng phí trong đầu tư nhưng cũng đồng thời kìm chế GDP khi mô hình tăng
trưởng vẫn chủ yếu theo chiều rộng.
Tính theo giá so sánh thì vốn đầu tư nhà nước không tăng trong ba năm gần đây, tỷ
trọng đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội giảm từ trên 50% giai đoạn 2001-2005
còn khoảng 37% vào năm 2013. Tuy nhiên, tái cơ cấu đầu tư công trong thời gian qua, nếu
có, chỉ mang tính đối phó với tình trạng thiếu khả năng cân đối vốn, đầu tư dàn trải, thiếu
đồng bộ hơn là kết quả của một thể chế phân bổ và quản lý vốn đầu tư nhà nước hiệu quả
hơn ở cấp địa phương
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 18
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
Qua các năm tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư của các khu vực đều thường cao hơn
nhiều tốc độ tăng trưởng GDP. Trong 10 năm, vốn của khu vực đầu tư nước ngoài tăng 5,1
quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
2.2.2. Nguyên nhân gây ra thực trạng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân
a. Đầu tư công làm ảnh hưởng đến biến đổi lãi suất, từ đó ảnh hưởng đến việc đầu tư
của khu vực tư nhân
Năm Chi Nhà nước cho đầu tư phát
triển (tỷ vnđ)
Lãi suất cơ bản
2005 79199 7,5-7,8%/năm
2006 98.625 8,25%/năm
2007 112160 8,25%/năm
2008 119462 8,25-14%/năm
2009 181363 7%/năm
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 20
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
2010 183166 8-9%/năm
2011 208306 14-14.5%/năm
2012 195054 15-19%/năm
Tổng chi Nhà nước cho đầu tư phát triển và lãi suất cơ bản giai đoạn 2005 - 2012
Qua bảng trên cho thấy nhìn chung, tổng chi ngân sách nhà nước cho đầu tư tăng đều
qua các năm, có sự chuyển dịch cùng chiều với lãi suất cơ bản. Tổng chi ngân sách nhà
nước cho đầu tư phát triển năm 2005 là 79199 tỷ đồng tăng lên 208306 tỷ đồng năm 2011 và
tăng 129107 tỷ đồng, gấp 2,63 lần. sau đó, năm 2012 giảm nhẹ xuống còn 195054 tỷ đồng,
giảm 13253 tỷ đồng.
Lãi suất cơ bản giai đoạn 2005 – 2012 tăng từ 7,5% lên 19% gấp 2,53 lần
Mặc dù qua từng thời kỳ, nhà nước có sự điều chỉnh nhất định đối với lãi suất cơ bản
nhưng nhìn chung, sự điều chỉnh đều dựa trên thị trường, không tách rời quy luật thị trường.
Và kết hợp với đó, nhà nước có các chính sách điều tiết phù hợp để quy định lãi suất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Như vậy có thể kết luận rằng đầu tư công cũng có sự dịch chuyển cùng chiều với lãi
tăng lên. Tuy nhiên, đây chưa hẳn là một xu hướng tốt phản ánh sự giảm lệ thuộc vào nước
ngoài. Điều này thực chất phản ánh các khoản vay ưu đãi của nước ngoài đối với Việt Nam
đang ngày càng giảm. Lãi suất thương mại của nợ nước ngoài cao cộng với rủi ro tỉ giá buộc
chúng ta phải chuyển dần sang vay nợ trong nước. Tuy nhiên, việc vay nợ lớn trong nước lại
chèn ép mạnh đầu tư của khu vực tư nhân và làm giảm tăng trưởng kinh tế một khi đồng vốn
vay không được khu vực công sử dụng hiệu quả.
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 22
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
Về mặt lý thuyết, vay nợ nội địa sẽ không có gì đáng lo ngại khi Chính phủ có khả
năng thanh toán các khoản nợ này. Tuy nhiên, thực tế rủi ro hiện tại chủ yếu đến từ vay nợ
trong nước do kỳ hạn vay ngắn và lãi suất trả nợ cao. Hơn 88,7% nợ trái phiếu chính phủ và
trái phiếu chính phủ bảo lãnh có kỳ hạn chỉ từ 2 - 5 năm cho thấy sức ép trả nợ trong thời
gian tới khá lớn. Ở Việt Nam đầu tư công đang lấn át đầu tư tư nhân. Nếu tình trạng này kéo
dài gánh nặng nợ công chắc chắn sẽ tăng lên, gây áp lực trả nợ trong ngắn hạn mà còn chứa
đựng nguy cơ kìm hãm hoạt động sản xuất, kinh doanh, suy giảm khả năng tự đầu tư của các
thành phần kinh tế nói chung và đầu tư tư nhân nói riêng.
c. Đầu tư công kém hiệu quả, đầu tư tràn lan lấn sang cả lĩnh vực của tư nhân
Quản lý nhà nước Kinh tế Xã hội
2000 5.2 77.1 17.6
2002 3.0 82.7 14.3
2003 3.6 76.7 19.7
2004 6.3 74.5 19.1
2005 6.4 75.0 18.6
2006 7.1 73.9 19.0
2007 7.5 76.3 16.1
2008 8.7 74.8 16.5
2009 7.7 77.1 15.2
Bảng: Cơ cấu đầu tư công cho các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quản lý nhà nước
(%, giá so sánh)
cách pháp nhân, con dấu, biểu tượng, điều lệ tổ chức và hoạt động; được mở tài khoản tại
Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Tập đoàn này đã đầu tư mở rộng quá nhanh, quy mô lớn, dàn trải trên nhiều lĩnh vực,
địa bàn trái với quy hoạch được phê duyệt. Trong đó có những lĩnh vực không liên quan đến
công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển, nhiều lĩnh vực kém hiệu quả, có nhiều công ty, dự
án thua lỗ nặng nề. Ví dụ:
- Công ty Vận tải viễn dương Vinashin (VNSlines) (công ty con của Vinashin) đầu tư
hơn 200 triệu USD (khoảng 3.136 tỷ đồng) để mua về tới 6 con tàu có tuổi từ 22 đến 26 năm
trong số 9 tàu của Công ty này. Hầu như tất cả các con tàu này hiện tại đều không chạy
được, do hỏng hóc, do bị bắt giữ tại các cảng trong và ngoài nước.
- Tàu Lash Sông Gianh chỉ chạy thử 1 chuyến đầu tiên (và cũng là chuyến cuối cùng)
chở than từ Quảng Ninh vào Sài Gòn. Tổng tiền thu được từ chuyến hàng này chưa tới 1,8
tỷ, nhưng tiền bỏ ra để chi phí phục vụ cho việc chở đã tới hơn 4 tỷ đồng (bao gồm tiền dầu,
phí bảo đảm hàng hải, tàu lai, vật tư, phí tàu kéo lash con, lương thủy thủ, phí hoa tiêu ).
Thời gian hoàn thành chuyến hàng đầu tiên này cũng đạt mức kỷ lục: gần 2 tháng. Từ đó
đến nay, nó được neo đậu tại Nhà Bè - Sài Gòn.
- Đặc biệt với dự án Nhà máy cán nóng thép tấm tại Quảng Ninh, dự án này đã được
Vinashin có quyết định đầu tư vào năm 2002. Thông thường, với qui mô chỉ có 350.000
Môn học: Kinh tế đầu tư Page 24
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng Nhóm
6
tấn/năm, là nhà đầu tư chuyên nghiệp thì chỉ cần 2 năm là hoàn thành việc xây dựng và đưa
vào vận hành. Song đến nay, sau 8 năm xây dựng, nhà máy vẫn chưa có gì.
d. Có sự chênh lệch trong các ưu đãi giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân
Các doanh nghiệp nhà nước hầu như được ưu đãi nhiều hơn thông qua các khoản vay,
tiếp cận đất đai, chỉ tiêu lợi nhuận thấp… Điều này đang kìm hãm sự tăng trưởng của nền
kinh tế đồng thời dẫn đến việc giảm đầu tư của khu vực tư nhân.
Các DNNN hiện được hưởng 5 đặc quyền, đặc lợi, hay lợi thế tuyệt đối: Không sợ
phá sản cho dù thua lỗ kéo dài, hay khi “khó có người giúp”; biến độc quyền nhà nước thành
độc quyền doanh nghiệp; tận dụng cơ chế xin - cho; ưu đãi tiếp cận vốn, vay không lo trả và