Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh quảng nam - Pdf 27

MỤC LỤC
DANH MỤC TƯ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 1
1.1. Khái quát về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1
1.1.1. Khái niệm 1
1.1.2. Đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1
1.1.3. Các hình thức đầu tư của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2
1.2. Các chỉ tiêu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
1.2.1. Theo số lượng dự án và quy mô dự án 4
1.2.2. Theo cơ cấu ngành 4
1.2.3. Theo cơ cấu vùng 5
1.2.4. Theo hình thức đầu tư 5
1.2.5. Theo vùng, lãnh thổ 5
1.3. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.3.1. Tác động tích cực 5
1.3.2. Tác động tiêu cực 7
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài 10
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 17
2.1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Quảng Nam 17
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 17
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 20
2.2. Thực trạng hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam 22
2.2.1. Các chính sách liên quan đến việc thu hút vốn FDI 22
2.2.2. Kết quả thu hút vốn FDI trên địa bàn tỉnh 27
2.2.2.1. Quy mô vốn chung 27

3.1.1. Đối với nhà nước 63
3.3.2. Đối với Sở Kế Hoạch và Đầu Tư tỉnh Quảng Nam 65
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
4
STT Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
1 CNH Công nghiệp hóa
2 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
3 GPMB Giải phóng mặt bằng
4 HĐH Hiện đại hóa
5 HĐHTKD Hợp đồng hợp tác kinh doanh
6 KCN Khu công nghiệp
7 KH & ĐT Kế hoạch và đầu tư
8 KKT Khu kinh tế
9 MNE Công ty đa quốc gia
10 QN Quảng Nam
11 UBND Uỷ Ban Nhân Dân
12 XTĐT Xúc tiến đầu tư
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
 Bảng:
Bảng 2.1 : Số lượng dự án và quy mô vốn FDI đầu tư trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam giai đoạn 2012-2014 27
Bảng 2.2: Số vốn FDI theo cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam tính đến hết năm 2014 30
Bảng 2.3: Số dự án đầu tư và vốn đầu tư theo hình thức đầu tư trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam tính đến hết năm 2014 33
Bảng 2.4: Số dự án đầu tư và vốn đầu tư theo nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam tính đến hết năm 2014 35

tồn tại cùng các nguyên nhân gây ra những hạn chế đó trong thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, đưa ra giải pháp
để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài làm sao cho có hiệu quả vào
việc phát triển nền kinh tế tỉnh Quảng Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi: hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012-2014
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích thống kê, so sánh,
mô tả, khái quát, đánh giá, diễn giải…
6
Kết cấu của bài khóa luận gồm:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và các danh mục thì nội dung
của khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương :
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI)
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của tập thể nhân viên
phòng hợp tác đầu tư tại Sở Kế Hoạch& Đầu Tư tỉnh Quảng Nam cùng với
thầy giáo PGS.TS Hà Thanh Việt đã giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận
này. Tuy nhiên, hiểu biết thực tế còn hạn chế nên bài khóa luận không thể
tránh khỏi thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy,
cô giáo trong khoa để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Quy Nhơn, ngày… tháng… năm…
Sinh viên thực hiện
7
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN ĐẦU TƯ

tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định. Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của các
nhà đầu tư, họ tự quyết định đầu tư, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Chính vì
vậy hình thức này thường mang tính khả thi và hiệu quả cao.[2,tr144].
1.5.3. Các hình thức đầu tư của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức:
 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Trong khoản 16 điều 3 luật Đầu tư 2005. Hình thức hợp đồng hợp tác
kinh doanhlà hình thức đầu tư được nhà nước ta cho phép theo đó bên nước
ngoài và bên Việt Nam cùng nhau thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai
bên. Trong thời gian thực hiện hợp đồng các bên phải xác định rõ quyền lợi
và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của mỗi bên mà không tạo ra một pháp
nhân mới và mỗi bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình.
 Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa
Chính phủ nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác
với doanh nghiệp Việt Nam hoặc các doanh nghiệp liên doanh hợp tác với
nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở
hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư
nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư
cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Thời gian hoạt động không quá 50
năm kể từ ngày cấp giấy phép. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
được thành lập sau khi cơ quan có thẩm quyền về hợp tác đầu tư nước sở tại
cấp giấy phép và chứng nhận doanh nghiệp đã tiến hành ĐKKD hợp pháp.
9
 Hình thức hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao (BOT build operation-
transfer)

vào từng vùng, miền và khả năng thu hút các nhà đầu tư, đồng thời cũng là
tiêu chí so sánh hiệu quả khai thác giữa các vùng, miền với nhau.Tuy nhiên,
chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối, bởi nếu số dự án đầu tư vào các vùng,
miền nhiều nhưng tổng vốn đầu tư thấp thì chưa phản ánh hết được.
Tốc độ tăng của dự án đầu tư là số lượng dự án tăng lên của năm sau so
với năm trước. Qui mô vốn đầu tư là số lượng vốn đầu tư mà nhà đầu tưbỏ ra
để tiến hành đầu tư tại nước sở tại.
Chỉ tiêu vốn đầu tư đăng ký nhằm xác định tổng lượng vốn đầu tư vào
từng các dự án, đây cũng là một tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả thu hút
FDI. Tuy nhiên, chỉ tiêu này cũng chưa phản ánh chính xác sự phát triển và
hiệu quả khai thác bởi giữa các vùng miền có diện tích khác nhau, và vốn
đăng kí so với thực tế thực hiện là hoàn toàn khác nhau.
Chỉ tiêu vốn thực hiện là tổng số vốn thực tế đã chi ra để tiến hành các
hoạt động đầu tư bao gồm các chi phí như chi phí cho công tác xây lắp, chi
phí cho công tác mua sắm thiết bị và các chi phíkhác theo quy định của thiết
kế dự án và được ghi trong dự án đầu tư được phê duyệt. Tổng số vốn FDI
thực hiện trong kỳ càng tăng kết quả thu hút FDI càng tăng và ngược lại.
- Tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký trong kỳ
Tỷ lệ vốn thực hiện so với đăng ký = x 100%
- Vốn đầu tư bình quân một dự án
Vốn đầu tư bình quân một dự án =
1.6.2. Theo cơ cấu ngành
Tức là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được đầu tư vào một số
ngành nghềnhư : Nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ.
- Cơ cấu vốn đầu tư phân theo ngành.
Tỷ trọng vốn đầu tư của ngành nào đó = x100%
1.6.3. Theo cơ cấu vùng
11
Là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được đầu tưtheo từng địa bàn
khu vực hay tỉnh thành phố nào đó.

năng đa dạng hơn, bền hơn và với những mẫu mã đa dạng, hàng hoá lúc này
sẽ nhiều và tất nhiên sẽ rẻ hơn so với trước. Điều này chính là cung tăng lên
nhưng thực ra nó tăng lên để đáp ứng lại lượng cầu cũng tăng lên rất nhanh do
quá trình đầu tư có tác động vào. Tốc độ quay của vòng vốn tăng lên nhanh
hơn, do vậy sản phẩm cũng được sản xuất ra nhiều hơn và tiêu thụ cũng nhiều
hơn. Do sự tiêu thụ được tăng lên do vậy các ngành sản xuất, dịch vụ được
tiếp thêm một luồng sức sống mới, nhân lực, máy móc và các nguyên vật liệu
được đem ngay vào sản xuất, từ đó sức đóng góp của các ngành này vào GDP
cũng đã tăng lên.
- Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước: Do có các nhà đầu tư nước
ngoài nhảy vào các thị trường vốn có các nhà đầu tư trong nước chiếm giữ
phần lớn thị phần, nhưng ưu thế này sẽ không kéo dài đối với nhà đầu tư
trong nước khi ưu thế về nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài trội hơn hẳn.
Chính vì vậy các nhà đầu tư trong nước phải đổi mới cả quá trình sản xuất của
mình từ trước từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ bằng việc cải tiến công nghệ
và phương pháp quản lý để có thể trụ vững trên thị trường đó. Đó chính là
một trong những thử thách tất yếu của nền kinh tế thị trường đối với các nhà
sản xuất trong nước, không có kẻ yếu nào có thể tồn tại nếu không tự nó làm
mình mạnh lên để sống trong cơ chế đó.
- Tiếp cận với thị trường nước ngoài: Nếu như trước đây khi chưa có FDI, các
doanh nghiệp trong nước chỉ biết đến có thị trường trong nước, nhưng khi có
FDI thì họ được làm quen với các đối tác kinh tế mới không phải trong nước.
Họ chắc chắn sẽ nhận thấy rất nhiều nơi cần cái họ đang có, và họ cũng đang
cần thì ở nơi đối tác lại có, do vậy cần phải tăng cường hợp tác sẽ có nhiều
sản phẩm được xuất khẩu để thu ngoại tệ về cho đất nước đồng thời cũng cần
phải nhập khẩu một số loại mặt hàng mà trong nước đang cần. Từ các việc
trao đổi thương mại này sẽ lại thúc đẩy các công cuộc đầu tư giữa các nước.
Như vậy quá trình đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế là một quá trình
luôn luôn thúc đẩy nhau, hỗ trợ nhau và cùng phát triển.
13

động. Tuy nhiên sau một thời gian phát triển giá của lao động sẽ tăng, kết quả
là giá thành sản phẩm cao. Vì vậy họ muốn thay đổi công nghệ bằng những
công nghệ có hàm lượng cao để hạ giá thành sản phẩm. Do vậy việc chuyển
giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nước nhận đầu tư như là:
+ Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó. Do
đó nước đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh
nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận.
+ Gây tổn hại môi trường sinh thái. Do các công ty nước ngoài bị cưỡng
chế phải bảo vệ môi trường theo các quy định rất chặt chẽ ở các nước công
nghiệp phát triển, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài họ muốn xuất khẩu
môi trường sang các nước mà biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi trường
không hữu hiệu.
+ Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất cao và do đó sản phẩm của các
nước nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới.
- Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư: Đầu tư trực tiếp nước
ngoài thường chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo
rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước nhận đầu
tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên
quốc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan
trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho
các nước nhận đầu tư . Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia
là những bên đối tác nước ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các
công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước
khác. Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ
thuộc của nền kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn . Nhưng
vấn đề này có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào chính sách và khả năng
tiếp nhận kỹ thuật của từng nước. Nếu nước nào tranh thủ được vốn, kỹ thuật
và có ảnh hưởng tích cực ban đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà nhanh
chóng phát triển công nghệ nội địa, tạo nguồn tích lũy trong nước, đa dạng
15

Mặt khác, mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư
vào những nơi có lợi nhất. Vì vậy khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm
sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối
này có thể gây ra mất ổn định về chính trị. Hoặc FDI cũng có thể gây ảnh
hưởng xấu về mặt xã hội. Những người dân bản xứ làm thuê cho các nhà đầu
tư có thể bị mua chuộc, biến chất, thay đổi quan điểm, lối sống và nguy cơ
hơn là họ có thể phản bội Tổ quốc. Các tệ nạn xã hội cũng có thể tăng cường
với FDI như mại dâm, nghiện hút
1.8. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
Trong chiến lược đầu tư của mình các nhà đầu tư thường có xu hướng
tìm tới những nước có điều kiện tốt nhất đối với công việc kinh doanh của
mình như điều kiện kinh tế, chính trị và hệ thống pháp luật ra làm sao. Hàng
loạt câu hỏi đó đặt ra của các nhà đầu tư đòi hỏi các nước muốn tiếp nhận và
thu hút nguồn vốn này phải đưa ra những điều kiện ưu đãi cho các nhà đầu tư,
cho họ thấy ra được những lợi ích khi quyết định tham gia đầu tư ở nước
mình. Ngoài ra môi trường cũng có tác động không nhỏ tới công việc kinh
doanh của các nhà đầu tư vì cũng như hầu hết các hoạt động đầu tư khác nó
mang tính chất đặc điểm của các nghiệp vụ kinh tế nói chung, do vậy nó chịu
tác động của các quy luật kinh tế nói chung và những ảnh hưởng của môi
trường kinh tế xã hội, các chính sách có liên quan, hệ thống cơ sở hạ tầng …
 Môi trường kinh tế
Với điều kiện của từng nước mà các nhà đầu tư quyết định tham gia
vào từng khu vực với từng dự án cho phù hợp với điều kiện của tỉnh đó như
về điều kiện kinh tế: GDP, GDP/đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu
các ngành…
Nói chung để quyết định đầu tư và một quốc gia nào đó các nhà đầu tư
phải cân nhắc xem điều kiện kinh tế tại nước sở tại có đáp ứng được yêu cầu
về mặt kinh tế cho dự án của mình phát triển và tồn tại hay không. Chẳng hạn
17

sẽ không còn do đó các nhà đầu tư phải gánh chịu hoàn toàn những bất lợi khi
xảy ra biến động chính trị. Khi có chiến tranh xảy ra sẽ khiến cho các hoạt
động kinh doanh ngừng trệ và có thể gây ra thiệt hại về cơ sở vật chất.
Đây là yếu tố thường được các nhà đầu tư nước ngoài phải thường
xuyên quan tâm theo dõi trước khi có nên quyết định đầu tư vào quốc gia này
hay không. Những bất ổn về chính trị không chỉ làm cho nguồn vốn đầu tư bị
kẹt mà còn có thể không thu lại được hoặc bị chảy ngược ra ngoài. Nhân tố
tác động này không chỉ bao gồm các yêu cầu như bảo đảm an toàn về mặt
chính trị xã hội mà còn phải tạo ra được tâm lý dư luận tốt cho các nhà đầu tư
nước ngoài. Bất kể sự không ổn định chính trị nào, các xung đột khu vực, nội
chiến hay sự hoài nghi, thiếu thiện cảm từ phía các nhà đầu tư đối với chính
quyền các nước sở tại đều là những yếu tố nhạy cảm tác động tiêu cực tới tâm
lý các nhà đầu tư có ý định tham gia đầu tư
Trong giai đoạn hiện nay nước ta được coi là một nước có tình hình
chính trị ổn định, đây là lợi thế rất lớn cho chúng ta và chúng ta phải luôn tạo
ra được sự tin tưởng từ phía các đối tác.
 Môi trường văn hoá
Môi trường văn hoá cũng ảnh hưởng ít nhiều đến đầu tư nước ngoài.
Đây là yếu tố rất nhạy cảm mà các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, theo đó các
nhà đầu tư xem xét xem có nên đầu tư vào quốc gia này hay không.
 Yếu tố luật pháp
Luật pháp là những quy định đã được Quốc hội thông qua, bắt buộc
mọi người phải tuân theo và kể cả các đối tác tham gia đầu tư vào nước đó
cũng phải tuân theo điều này. Để quyết định tham gia đầu tư vào một nước
nào đó các nhà đầu tư phải xem xét rất kỹ về yếu tố này vì nó liên quan trực
tiếp tới cách thức thực hiện đầu tư dự án của mình mà còn ảnh hưởng tới
phương án kinh doanh của mình trong tương lai. Các quốc gia muốn thu hút
được các nhà đầu tư tham gia đầu tư vào nước mình thì phải bằng cách nào đó
19
từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình đặc biệt là hoàn thiện hệ

Thuế thu nhập doanh nghiệp: Mức thuế đánh vào thu nhập của các
doanh nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ tới dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài
chảy vào trong nước bởi nó liên quan tới việc phân chia lợi nhuận của nhà đầu
tư với các bên đối tác, sự hấp dẫn của chính sách là làm sao cho các dự án có
vốn đầu tư trực tiếp đóng góp nhiều nhất có thể vào ngân sách nhưng phải
đảm bảo vẫn phải hấp dẫn được các nhà đầu tư. Thuế thu nhập doanh nghiệp
áp dụng với các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao thấp sẽ ảnh
hưởng tới dòng chảy của FDI vào trong nước .
Thuế nhập khẩu vốn, máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu: Đây là
những yếu tố liên quan tới đầu vào của doanh nghiệp thực hiện đầu tư, nếu có
sự khuyến khích giảm mức thuế đối với các yếu tố kể trên thì sẽ làm cho đầu
vào của các dự án giảm xuống do đó làm tăng lợi thế của các dự án đầu tư vì
thế mà số lượng các dự án sẽ tăng và trang thiết bị cũng như vốn sẽ được đưa
vào nhiều hơn .
Thuế đánh vào các khoản lợi nhuận luân chuyển ra nước ngoài: Ưu đãi
về thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong số các ưu đãi tài chính giành
cho đầu tư nước ngoài, mức ưu đãi thuế cao hơn là động lực lớn khuyến khích
các nhà đầu tư tìm tới, vì thế cần áp dụng sự ưu đãi này với những mức khác
nhau cho từng loại dự án và áp dụng với mức thấp nhất có thể, đặc biệt đối
với các dự án đầu tư có tỷ lệ vốn nước ngoài cao, quy mô lớn dài hạn, sử
dụng nhiều nguyên vật liệu và lao động trong nước .
 Lực lượng lao động
Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước đang phát
triển, các MNEs cũng nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương
đối thừa thải ở các nước này. Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn
được đáp ứng đầy đủ và có thể thỏa mãn yêu cầu của các công ty nước ngoài.
Tuy vậy, chỉ có thể tìm được các nhà quản lý giỏi, cũng như cán bộ kỹ thuật
có trình độ và kinh nghiệm ở các thành phố lớn. Động cơ, thái độ làm việc
21
của người lao động cũng là yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa

hoạt động này, môi trường đầu tư cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài
ra, hiệu quả hoạt động của các cơ sở công nghiệp địa phương, sự có mặt của
các ngành công nghiệp hỗ trợ, sự tồn tại các đối tác tin cậy để các công ty
nước ngoài có thể liên doanh liên kết cũng là những yêu cầu rất quan trọng
cần phải được xem xét đến.
Ngoài cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường thu hút đầu tư còn chịu ảnh
hưởng khá lớn của cơ sở hạ tầng xã hội. Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm hệ
thống y tế và chăm sóc sức khỏe cho người dân, hệ thống giáo dục và đào tạo,
vui chơi giải trí và các dịch vụ khác. Ngoài ra, các giá trị đạo đức xã hội,
phong tục tập quán, tôn giáo, văn hóa cũng cấu thành trong bức tranh
chung về cơ sở hạ tầng xã hội của một nước hoặc một địa phương.
 Các khu chế xuất, khu công nghiệp
Với nhiều dự án để có thể triển khai được, nó đòi hỏi những điều kiện
hết sức khắt khe và không thể nơi nào cũng có thể đáp ứng được những yêu
cầu, điều kiện đó, các nước sở tại phải tiến hành đầu tư xây dựng các khu kinh
tế đặc biệt và trong đó có đầy đủ các điều kiện có thể đáp ứng đầy đủ các điều
kiện mà dự án đặt ra. Với những khu công nghiệp hiện đại, khu kinh tế mởnày
có thể tập trung rất nhiều dự án và có nhiều vốn, các dự án khác nhau này có
thể hỗ trợ và cung cấp các đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho thu hút vốn đầu tư.
Quốc gia nào có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất hiện đại thì sẽ thu hút
được nhiều dự án đầu tư.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
2.1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Quảng Nam
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
 Vị trí chiến lược
Nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam, thuộc vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng - Trung tâm thương mại, dịch
23
vụ, đào tạo của miền Trung; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Tây giáp

o
C, Mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới
20
o
C. Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84%. Lượng mưa trung bình
2000-2500mm, nhưng phấn bố không đều theo thời gian và không gian, mưa
ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm
80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào
miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và
gây ngập lũ ở các vùng ven sông.
 Hệ thống sông ngoài
Do nằm trong vùng có lượng mưa lớn, hệ thống sông ngòi trong tỉnh
khá phát triển. Hệ thống sông Thu Bồn là một trong những hệ thống sông lớn
của Việt Nam với tổng diện tích lưu vực khoảng 9.000 km
2
. Sông Tam Kỳ với
diện tích lưu vực 800 km
2
là sông lớn thứ hai. Ngoài ra còn có các sông có
diện tích nhỏ hơn như sông Cu Đê 400 km
2
, Tuý Loan 300 km
2
, LiLi
280 km
2
,
Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm. lưu lượng
dòng chảy sông Vu Gia 400m
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status