TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG CÁN BỘ - CÔNG CHỨC LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH KHÓA XVI NĂM 2013
Tổ chức tại Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I
Từ ngày 02 tháng 10 năm 2013 đến ngày 02 tháng 01 năm 2014 Tình huống quản lý
Quản lý nhà nước về giải tỏa khai thác khoáng sản vàng sa khoáng trên địa
bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Học viên : Nguyễn Thị Thu Thủy
Chức vụ : Phó trưởng phòng
Đơn vị công tác : Phòng NN&PTNT Huyện Than Uyên
Tỉnh Lai Châu Hà Nội, tháng 12 năm 2013
PHẦN III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG 12
3.1. Mục tiêu giải quyết 12
3.2. Phương pháp giải quyết 12
3.3. Lựa chọn phương án giải quyết 13
3.4. Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án 14
3.4.1. Các bước thực hiện 14
3.4.2. Kết quả thực hiện 18
PHÂN IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19
4.1. Kết luận 19
4.2. Kiến nghị 20
4.2.1. Đối với các Bộ, ngành Trung ương 20
4.2.2. Đối với tỉnh 21
4.2.3. Đối với huyện 21
4.2.4. Đối với UBND các xã, thị trấn và các tổ chức được cấp phép 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, đặc
biệt là tài nguyên khoáng sản, tài nguyên này được phân bố chủ yếu ở các tỉnh
miền núi phía Bắc. Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn tài nguyên khoáng sản đã đem lại
nhiều lợi ích cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Tân Uyên được thành lập theo Nghị định số 04/NĐ-CP ngày
31/10/2008 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Than
Uyên để thành lập huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Huyện Tân Uyên nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Lai Châu, diện tích tự
nhiên 89.732,88 ha, 47.262 nhân khẩu với 10 dân tộc anh em cùng sinh sống,
bảo nguồn thu cho ngân sách địa phương, giữ vững ổn định tình hình an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Qua một thời gian được học tập và tiếp thu những kiến thức về quản lý
Nhà nước chương trình chuyên viên chính, qua quá trình công tác thực tế tại
địa phương, tôi lựa chọn tình huống: “Quản lý nhà nước về giải tỏa khai thác
khoáng sản vàng sa khoáng trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu”
thông qua một tình huống cụ thể nhằm làm sáng tỏ kiến thức đã học và đề
xuất một số giải pháp trong thực hiện công tác quản lý nhà nước về khoáng
sản trên địa bàn huyện Tân Uyên.
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 3
PHẦN I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1.1. Hoàn cảnh ra đời
Tình huống là một sự việc xảy ra trong hoạt động quản lý Nhà nước về
tình hình thăm dò, khai thác khoáng sản vàng sa khoáng trên địa bàn huyện
Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Sự việc này đã xảy ra trong hoạt động quản lý Nhà
sản vàng sa khoáng dọc theo suối Nậm Sỏ, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên (tại
Công văn số 771/UBND-CN ngày 30/6/2011, với diện tích 80 ha. Trong đó
Khu vực 1 diện tích 54 ha, khu vực 2 diện tích 26 ha, thời gian khảo sát 06
tháng kể từ ngày ký), còn lại các tổ chức, cá nhân khác không có giấy phép
khảo sát, khai thác.
Đặc biệt, tháng 9 năm 2011, UBND huyện Tân Uyên nhận được báo
cáo của UBND xã Nậm Sỏ về việc nhân dân bản Tho Ló, xã Nậm Sỏ và một
số công nhân thuộc Công ty cổ phần tập đoàn Sao Sáng xảy ra xô xát, gây mất
trật tự trị an, đánh người gây thương tích, phá hoại tài sản công dân tại địa bàn
bản Tho Ló, xã Nậm Sỏ và một số đơn kiến nghị, đề nghị của nhân dân các
xã: Nậm Cần, Tà Mít về việc các tổ chức, cá nhân khai thác trái phép vàng sa
khoáng làm mất đất sản xuất nông nghiệp của nhân dân ảnh hưởng đến đường
giao thông đi lại của nhân dân, gây ô nhiễm môi trường mà không bồi
thường, hỗ trợ. Cụ thể sự việc như sau:
Tháng 6 năm 2011, UBND tỉnh Lai Châu cấp giấy phép, cho phép Công
ty cổ phần tập đoàn Sao Sáng được phép khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng
sản vàng sa khoáng trên địa bàn xã Nậm Sỏ. Đến cuối năm 2011, công ty tiến
hành khai thác vào khu vực bãi bồi thuộc bản Tho Ló không thông báo cho
UBND xã Nậm Sỏ và nhân dân trong khu vực được biết, nên việc khai thác của
Công ty đã bị một số công dân bản Tho Ló ngăn cản. Về phía Công ty vẫn tiếp
tục tổ chức thăm dò, khai thác vì đây là diện tích đã được cấp phép.
Ngày 20 tháng 12 năm 2011, một số công dân bản Tho Ló, xã Nậm Sỏ
kéo ra bờ sông nơi neo đậu tàu thuyền đã có hành vi chửi bới, ném đá vào tàu
thuyền và phương tiện sản xuất của các tổ chức, cá nhân khai thác trái phép.
Công nhân của công ty đã dùng thuyền chở 20 người lên bờ cầm dao và gậy
đánh một số người dân, hậu quả làm bị thương 2 người dân. Chính quyền xã
Nậm Sỏ và các ngành chức năng đã giải tán đám đông và đưa người bị thương
đi cấp cứu. Đến 21 giờ 10 phút cùng ngày có hai công nhân của công ty cổ
phần tập đoàn Sao Sáng đang đi trên đường thuộc địa phận bản Tho Ló, xã
Nậm Sỏ, thì bị một số người dân bản Tho Ló chặn đánh. Tình hình an ninh,
cơ quan có liên quan và cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền giải
quyết vụ việc phải thực sự am hiểu pháp luật về lĩnh vực tài nguyên khoáng
sản và bảo vệ môi trường; nắm chắc các lý do thực tế của tình huống để phân
tích, lựa chọn các quy định của pháp luật để áp dụng giải quyết và ra văn bản,
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 6
quyết định xử lý tình huống đảm bảo đúng quy định của Nhà nước, đảm bảo
quyền lợi và lợi ích của Công ty và của người dân; đồng thời phải có biện
pháp tổ chức thi hành nghiêm chỉnh các văn bản này.
- Luật Khoáng sản năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nghị
định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09/3/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Khoáng sản và có hiệu lực thi hành từ ngày
25/4/2012; Tại Điều 81, Luật Khoáng sản được Quốc hội thông qua ngày
17/11/2010 có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 quy định về trách nhiệm quản lý
Nhà nước về khoáng sản của Ủy ban nhân dân các cấp.
- Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với công tác hoạt động thăm
dò, khai thác, chế biến, sử dụng, xuất khẩu khoáng sản, theo đó không cấp
phép mới khai thác vàng sa khoáng.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu đã ban hành các văn bản:
+ Công văn số 1129/UBND-CN ngày 30/9/2011 của UBND tỉnh Lai
Châu về việc yêu cầu Công ty cổ phần tập đoàn Sao Sáng tạm dừng hoạt động
khảo sát và lập quy trình khảo sát sơ bộ.
+ Công văn số 1314/UBND-CN ngày 18/10/2011 của UBND tỉnh Lai
Châu về việc rà soát, kiểm tra hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
+ Công văn số 119/UBND-CN ngày 20/02/2012 của UBND tỉnh Lai
Châu về việc không cấp phép đối với các hoạt động khai thác vàng sa khoáng
trên địa bàn tỉnh.
của nhân dân trong khu vực.
+ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các tổ chức, cá nhân
hiểu rõ được việc khai thác khoáng sản trái phép và tự giác chấp hành, không
phải thực hiện cưỡng chế buộc di dời.
- Đảm bảo lợi ích của nhân dân trong khu vực: Đây là mục tiêu được
xác định nhằm đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân khai thác trái phép và nhân
dân trong khu vực không tạo thành điểm nóng, gây xung đột, giảm bớt đơn
kiến nghị, đề nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân có thể khiếu kiện vượt cấp.
Để thực hiện được mục tiêu này, các cơ quan quản lý nhà nước và cán
bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền cần phải tham mưu UBND huyện đề
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 8
ra các giải pháp và thực hiện giải quyết theo đúng quy định của Luật Khoáng
sản và các văn bản hướng dẫn thi hành; tuyên truyền các quy định pháp luật
về địa phương và nhân dân trong khu vực cùng phối hợp với các cơ quan nhà
nước các cấp trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản.
2.3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả
2.3.1. Đối với tổ chức, cá nhân khai thác trái phép
Tại địa bàn các xã Nậm Cần, Nậm Sỏ, Tà Mít thuộc huyện Tân Uyên có
08 tổ chức, cá nhân đang hoạt động khai thác vàng sa khoáng trái phép tại 10
điểm. Trong đó: xã Nậm Cần 01 điểm, xã Nậm Sỏ 07 điểm, xã Tà Mít 02 điểm
thuộc khu vực sông Nậm Mu, suối Nậm Sỏ; 04/07 tổ chức, cá nhân vào khai
thác bắt đầu từ tháng 7/2011, còn lại 03/07 tổ chức, cá nhân vào khai thác tháng
11/2011, diện tích khai thác lòng sông, suối khoảng 5,0 ha, đất sản xuất nông
nghiệp của nhân dân bản Phiêng Sỏ, xã Nậm Sỏ với diện tích 0,5 ha.
Các tổ chức, cá nhân khai thác vàng sa khoáng trái phép dùng phương
tiện khai thác là máy xúc, sàng trượt và tàu để khai thác. Việc khai thác của
các tổ chức, cá nhân làm ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến đời sống, sinh
Từ mùa lũ năm 2008, đất bãi bồi này lắng đọng bồi trúc trên bản Tho
Ló, xã Nậm Sỏ, người dân tự canh tác không báo cáo UBND xã Nậm Sỏ.
Việc canh tác tại bãi bồi đã đem lại thu nhập cho người dân (có hộ thu được
0,5 tấn thóc/1 vụ và trồng các loại cây hoa màu khác), nên các hộ dân muốn
Công ty và các tổ chức, cá nhân ngừng thăm dò, khai thác để giữ đất canh tác.
Việc khai thác vàng sa khoáng trái phép đã làm mất diện tích sản xuất nông
nghiệp, ảnh hưởng đến thu nhập cũng như đời sống sinh hoạt của nhân dân.
Một bộ phận cán bộ, nhân dân trong xã còn nghi ngờ Công ty cổ phần
tập đoàn Sao Sáng chưa đủ tư cách pháp nhân để thăm dò, khai thác vàng sa
khoáng. Chính quyền và nhân dân địa phương chưa nắm được diện tích của vị
trí thăm dò, khai thác và các mốc giới tọa độ trên bản đồ và thực tế đến đâu,
chưa có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm của Công
ty cổ phần tập đoàn Sao Sáng cũng như các tổ chức, cá nhân đã gây nên các
tình trạng bất ổn về an ninh xã hội. Khi thực hiện khai thác thì chưa làm rõ
trách nhiệm của Công ty cũng như các tổ chức, cá nhân khác với việc đảm
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 10
bảo môi trường, đảm bảo an ninh trật tự, quyền lợi và trách nhiệm của nhân
dân trong khu vực khai thác như thế nào?
Vai trò lãnh đạo của ban chi ủy chi bộ, khu dân cư kém hiệu quả,
không lãnh đạo được nhân dân. Trong đó một bộ phận nhân dân bỏ sản
xuất nông nghiệp, các cháu học sinh bỏ học tập tham gia khai thác vàng
sa khoáng tại các điểm khai thác nói trên, cá biệt có hộ dân vì lợi ích
trước mắt chuyển nhượng cả diện tích đất ruộng cho Công ty cổ phần tập
đoàn Sao Sáng khai thác trái phép, việc chuyển nhượng này không thông
qua chính quyền địa phương.
2.3.3. Nguyên nhân xảy ra sự việc
- Ủy ban nhân dân các xã Nậm Cần, Nậm Sỏ, Tà Mít còn buông lỏng
- Làm biến dạng đất, thu hẹp diện tích sản xuất nông nghiệp của
nhân dân, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất của người dân, mất nguồn thu
ngân sách nhà nước.
- Cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương lúng túng trước sự việc xảy
ra, nội bộ mất đoàn kết.
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 12
PHẦN III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
3.1. Mục tiêu giải quyết
Từ tình huống nêu trên, nhằm làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn
vị quản lý Nhà nước; các tổ chức, cá nhân, nhân dân trong việc khai thác tài
nguyên khoáng sản; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong việc khai thác
vàng sa khoáng trên địa bàn; tăng cường và nâng cao hiệu lực, quản lý nhà
nước, thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành; phát huy vai
trò giám sát của nhân dân trong công tác tuyên truyền, giám sát việc khai thác
tài nguyên khoáng sản… giải tỏa dứt điểm việc khai thác vàng sa khoáng trên
địa bàn huyện Tân Uyên.
3.2. Phương pháp giải quyết
Từ nội dung, mục tiêu cụ thể của tình huống nêu trên, vận dụng kiến
thức về quản lý nhà nước với chức năng, nhiệm vụ công tác của mình, tôi xin
đề xuất 2 phương án giải quyết tình huống như sau:
- Phương án 1: Tuyên truyền, vận động, thuyết phục, thực hiện đình chỉ
khai thác, yêu cầu các tổ chức, cá nhân nêu trên phải tháo dỡ toàn bộ tài sản,
phương tiện, nhân công phục vụ khai thác ra khỏi địa bàn huyện và hoàn thổ
trả lại hiện trạng ban đầu như: Khơi thông lòng sông, suối, đắp trả lại đất sản
xuất nông nghiệp cho nhân dân.
- Phương án 2: Tổ chức cưỡng chế buộc di dời, yêu cầu các tổ chức, cá
Căn cứ vào ưu điểm và tính khả thi của từng phương án, qua nghiên
cứu áp dụng giữa lý luận và thực tế, tôi xin lựa chọn phương án thứ nhất là
phương án tối ưu để giải quyết tình huống đã nêu trên nhằm mục đích cụ thể
như sau:
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản trên
địa bàn huyện, đặc biệt là các xã: Nậm Sỏ, Nậm Cần, Tà Mít.
- Giải tỏa, chấm dứt toàn bộ hoạt động khai thác vàng sa khoáng của
các tổ chức, cá nhân di dời toàn bộ tài sản, phương tiện máy móc phục vụ
khai thác ra khỏi địa bàn huyện.
- Tổ chức giải tỏa đảm bảo an toàn về người, tài sản, tiết kiệm kinh
phí giải tỏa.
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 14
3.4. Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án
3.4.1. Các bước thực hiện
- Bước 1: Thành lập tổ kiểm tra, thành phần gồm: Lãnh đạo UBND
huyện làm tổ trưởng; lãnh đạo các cơ quan: Tài nguyên và Môi trường, Công
an huyện làm tổ phó; các thanh viên gồm: Trưởng Ban chỉ huy quân sự
huyện, Chủ tịch UBND, Trưởng công an, Trưởng Ban chỉ huy quân sự các xã:
Tà Mít, Nậm Cần, Nậm Sỏ là thành viên.
- Bước 2: Xây dựng kế hoạch giải tỏa
+ Mục đích: Giải tỏa các tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng
sản trái phép tại địa bàn các xã: Nậm Cần, Nậm Sỏ, Tà Mít thuộc huyện Tân
Uyên ra khỏi địa bàn huyện Tân Uyên trước ngày 29/02/2112; đánh giá đúng
thực trạng các tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, đề
xuất biện pháp giải quyết, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét quyết định;
Chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về hoạt động
khai thác khoáng sản.
nhân quản lý, tạm giữ tài sản; trao đổi trực tiếp những người đứng đầu các tổ
chức, cá nhân thống nhất thời gian họp để di dời tài sản, máy móc, phương
tiện và thời gian di chuyển ra khỏi địa bàn huyện.
- Bước 5: Tổ chức họp tuyên truyền, vận động
* Thành phần: + Lãnh đạo UBND huyện.
+ Thành viên tổ công tác;
+ Lãnh đạo UBND các xã: Nậm Cần, Nậm Sỏ, Tà Mít.
+ Đại diện các tổ chức, cá nhân khai thác trái phép.
* Nội dung: + Lãnh đạo UBND huyện quán triệt nội dung cuộc họp.
+ Phòng Tài nguyên và Môi trường báo cáo tình hình
các tổ chức, cá nhân khai thác vàng sa khoáng trái phép tại địa bàn các xã:
Nậm Cần, Nậm Sỏ, Tà Mít, huyện Tân Uyên; ý kiến thảo luận của các cơ
quan chuyên môn và các tổ chức, cá nhân khai thác vàng sa khoáng trái
phép nhất trí với nội dung báo cáo, lãnh đạo UBND huyện, kết luận với các
nội dung sau:
- Yêu cầu các tổ chức, cá nhân chấm dứt mọi hoạt động khai thác vàng
sa khoáng trái phép tại các điểm khai thác thuộc các xã: Nậm Cần, Nậm Sỏ,
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 16
Tà Mít và di chuyển toàn bộ tài sản, nhân công phục vụ khai thác ra khỏi địa
bàn huyện và hoàn thổ, trả lại hiện trạng ban đầu như: Khơi thông lòng sông,
suối, đắp trả lại đất sản xuất nông nghiệp của nhân dân:
+ Đối với các điểm khai thác vàng sa khoáng trái phép sử dụng máy
xúc, sàng trượt để khai thác di chuyển ra khỏi địa bàn huyện trước ngày
15/02/2012.
+ Đối với các điểm khai thác khoáng sản vàng sa khoáng trái phép sử
dụng tàu để khai thác di chuyển ra khỏi địa bàn huyện trước ngày 29/02/2012.
Các tổ chức, cá nhân khai thác vàng sa khoáng trái phép tại các điểm
- Giao Chánh Văn phòng HĐND-UBND huyện đôn đốc, kiểm tra việc
thực hiện các nội dung Thông báo kết luận của UBND huyện đối với UBND
các xã: Nậm Cần, Nậm Sỏ, Tà Mít, các cơ quan, đơn vị có liên quan; các
thành viên tổ công tác báo cáo về UBND huyện.
+ Các tổ chức, cá nhân ký cam kết tháo dỡ, di dời tài sản ra khỏi địa
bàn huyện.
- Bước 6: Tổ công tác kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện của các tổ
chức, cá nhân việc chấp hành tháo dỡ.
- Bước 7: Họp tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm sau đợt giải tỏa và
báo cáo cấp trên.
Trong các bước nêu trên bước nào cũng quan trọng xong bước 5 là
quan trọng nhất, vì nếu các tổ chức, cá nhân sau khi được tuyên truyền, vận
động mà thống nhất thoải mái về tư tưởng tự nguyện tháo dỡ, di dời, thực
hiện đúng cam kết thì kết quả đạt được theo yêu cầu. Do đó, lý luận của cơ
quan quản lý nhà nước phải rõ ràng có lý, có tình, thể hiện sự nghiêm minh,
cương quyết của pháp luật, nêu rõ việc khai thác trái phép, trách nhiệm, lợi
ích của các các tổ chức, cá nhân khai thác trái phép trong việc chấp hành,
không chấp hành việc tháo dỡ di dời, nếu cố tình không chấp hành chuyển hồ
sơ đến cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật, buộc phải cưỡng
chế, tịch thu tài sản, bán thanh lý tài sản nộp vào ngân sách nhà nước làm ảnh
hưởng đến kinh tế của các tổ chức, cá nhân.
Các tổ chức, cá nhân gây khó khăn, chống đối người thi hành công vụ
sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, khởi tố nếu đủ điều kiện.
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 18
3.4.2. Kết quả thực hiện
Do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tổ công tác
mặc dù mất rất nhiều thời gian với ít người nhưng với nghiệp vụ chuyên môn,
PHÂN IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận
Qua một thời gian nghiên cứu, học tập lý luận về quản lý nhà nước
(chương trình chuyên viên chính), nhất là phần quản lý nhà nước đối với
ngành, lĩnh vực và đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về khoáng
sản. Xuất phát từ tình hình thực tế của huyện Tân Uyên trong việc quản lý
khai thác vàng sa khoáng tại địa bàn các xã: Nậm Cần, Nậm Sỏ, Tà Mít,
huyện Tân Uyên, gắn với việc phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là giữ vững
ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, với chức năng nhiệm vụ của
mình, bản thân tôi nhận thức:
- Các cấp, các ngành, chính quyền địa phương cần tăng cường hơn nữa
trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai, tài nguyên khoáng sản và
môi trường. Hàng năm phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
việc thực hiện các dự án phép thăm dò, khai thác nhất là công tác quản lý nhà
nước về tài nguyên khoáng sản. Khi cấp mới, cấp lại giấy phép hoặc gia hạn
phải đảm bảo đúng quy trình và khoa học: Từ lập hồ sơ, khảo sát, quy hoạch,
cấp phép đầu tư, xem xét đánh giá báo cáo tác động môi trường của quá trình
khai thác với dòng chảy, giao thông đường thủy, an toàn đê điều, phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương sở tại…
- Các cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ Việt Nam, các đoàn thể nhân
dân, các doanh nghiệp cần quán triệt sâu sắc các chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước về quản lý khai thác khoáng sản, tạo điều kiện
cho nhân dân giám sát các cấp chính quyền trong quản lý nhà nước nhất là
lĩnh vực quản lý đất đai, quản lý tài nguyên khoáng sản theo phương châm:
“Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.
- Cơ quan quản lý nhà nước thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện
và xử lý nghiêm túc những vi phạm của các tổ chức, cá nhân tham gia khai
thác vàng sa khoáng trái phép trên địa bàn huyện.
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính
Tình huống quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính 21
đồng thời bảo vệ môi trường, môi sinh trong quá trình khai thác, đạt mục tiêu
phát triển bền vững; đầu tư các dự án chế biến sâu khoáng sản.
4.2.2. Đối với tỉnh
- Trong tình hình khai thác khoáng sản thiếu quy hoạch, nhiều bất ổn
như hiện nay, đề nghị UBND tỉnh dừng lại việc cấp phép thăm dò, khai thác,
mặt khác phải tăng cường việc tổ chức kiểm tra, rà soát, đánh giá và thẩm
định lại hoạt động của những đơn vị đã được cấp phép. Nâng cao năng lực và
vai trò của các tổ chức được cấp giấy phép và chính quyền cơ sở phải chịu
trách nhiệm đầu tiên về công tác quản lý khoáng sản. Khi phát hiện hoạt động
trái phép chính quyền và doanh nghiệp phải chủ động thực hiện các biện pháp
xử lý theo thẩm quyền, những vấn đề vượt quá thẩm quyền thì báo cáo cơ
quan cấp trên để có biện pháp xử lý.
- Ngoài việc thiếu hành lang pháp lý cho công tác quy hoạch, các quy
định về nội dung, trình tự thủ tục lập, thẩm định quy hoạch, các hướng dẫn kỹ
thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật cũng chưa được xác định, làm cho việc triển
khai những hoạt động này trong thực tế hết sức khó khăn. Để quản lý tốt hoạt
động khai thác khoáng sản phải có những quy định cụ thể ngay từ khâu cấp
phép, thẩm định các dự án cho đến các chế tài xử lý các hành vi vi phạm.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các
dự án cấp phép thăm dò, khai thác nhất là công tác quản lý nhà nước về tài
nguyên khoáng sản. Khi cấp mới, cấp lại giấy phép hoặc gia hạn phải đảm
bảo đúng quy trình và khoa học: Từ lập hồ sơ khảo sát, quy hoạch, cấp giấy
phép đầu tư, xem xét đánh giá báo cáo tác động môi trường của quá trình khai
thác không ảnh hưởng đến dòng chảy, giao thông đi lại của nhân dân, phát
triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương sở tại…
4.2.3. Đối với huyện
các thông tin, số liệu khi các cơ quan thanh tra, kiểm tra yêu cầu.