Giao kết và thực hiện hợp đồng trong kinh doanh tại công ty trách nhiệm hữu hạn Luxuru Denshi Việt Nam – thực trạng và giải pháp. - Pdf 28

Đề tài: “Giao kết và thực hiện hợp đồng trong kinh doanh tại công ty trách
nhiệm hữu hạn Luxuru Denshi Việt Nam – thực trạng và giải pháp”.
Lời nói đầu 2
Tµi liÖu tham kh¶o 47
1
Lời nói đầu
Hợp đồng kinh tế là vấn đề tuy “ cũ” song vẫn còn là một vấn đề nóng hổi. Cũ vì
ai cũng hiểu biết về tầm quan trọng, vai trò và vị trí của nó trong hoạt động kinh
doanh. Mới vì nội dung của nó rất đa dạng, diễn tiến, và những kinh nghiệm được
rút ra từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng là rất phong phú.
Một hợp đồng có thể coi là khởi đầu của một phi vụ kinh doanh và nó cũng là
yếu tố quyết định đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau này. Sở dĩ
như vậy là vì trong hợp đồng thể hiện sự cam kết ràng buộc rất chặt chẽ về đối
tượng hợp đồng, quyền và nghĩa vụ mỗi bên. Trong một thời điểm doanh nghiệp
thường phải giao kết và thực hiện nhiều hợp đồng, do đó vấn đề nội dung thoả
thuận trong hợp đồng và vấn đề thực hiện những nội dung đó đòi hỏi phải có sự
sắp xếp và quản lý một cách có hiệu quả.
Vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng tưởng chừng như đơn giản song trong
thực tế do quy mô của từng công ty, các tiềm lực của công ty, vấn đề thị trường,
mùa vụ đều ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình thực hiện hợp đồng. Và làm sao để
có thể giao kết được nhiều hợp đồng, thực hiện có hiệu quả các hợp đồng đó,
kiểm soát được tiến trình thực hiện từng hợp đồng là vấn đề lớn vẫn còn bỏ ngỏ.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giao kết và thực hiện hợp đồng trong
hoạt động kinh doanh tại nước ta nói chung và hoạt động kinh doanh tại công ty
TNHH Luxuru Denshi Việt Nam nói riêng, trên cơ sở những hoạt động thực tế
trong thời gian thực tập tại công ty , cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo
PGS.TS Lê Thị Thanh, cùng các cô, các chú, các anh chị cán bộ công nhân viên ở
công ty, em đã chọn đề tài ““Giao kết và thực hiện hợp đồng trong kinh doanh
tại công ty trách nhiệm hữu hạn Luxuru Denshi Việt Nam – thực trạng và giải
pháp” làm báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề thực tập, em đã dựa trên phương pháp duy

hiện nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng của nhà nớc trong xây dựng và
phát triển đời sống xã hội, nó làm cho lợi ích của mỗi cá nhân, tập thể phù hợp với
lợi ích chung của toàn xã hội. Nó xác lập và gắn chặt mối quan hệ hợp tác giữa các
cá nhân, đơn vị, tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý trong đời sống xã hội, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên ký kết, giúp đỡ các bên xây dựng kế hoạch
một cách vững chắc, kế hoạch ấy chỉ trở thành phơng án thực hiện khi nó bảo đảm
bằng những cam kết hợp đồng. Ngợc lại hợp đồng cụ thể hoá, chi tiết hoá nội dung
kế hoạch của các chủ thể hợp đồng. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cụ thể đó
chính là việc thực hiện từng phần kế hoạch.
Nghiên cứu vai trò của hợp đồng, chúng ta khẳng định rằng hợp đồng có vai
trò quan trọng trong đổi mới cơ chế quản lý đời sống xã hội: đổi mới kế hoạch hoá
nhằm bảo đảm quyền tự chủ của các đơn vị, tăng cờng quản lý kinh tế quản lý thị
trờng.
4
Trong pháp luật nớc ta đang quy định gồm nhiều loại hợp đồng tồn tại thuộc
các lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau nh: hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp
đồng mua bán ngoại thơng, hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp
đồng lao động
1.1.2.Khỏi nim v hp ng kinh t
Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nền kinh tế nớc ta
còn bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Ngoài khu vực kinh tế quốc
doanh, tập thể còn có kinh tế cá thể trong nông nghiệp, thủ công nghiệp và thành
phần kinh tế t bản t doanh cha đợc cải tạo. Hoạt động kinh tế của các cơ quan Xí
nghiệp Nhà nớc của các đơn vị kinh tế tập thể tiến hành song song với hoạt động
kinh tế của t nhân. Để thu hút mọi hoạt động kinh tế đi theo hớng có lợi cho việc
cải tạo quan hệ sản xuất cũ, từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất mối quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa. Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Nghị định 735/TTg ngày
10/4/1957, kèm theo Nghị định này là bản Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh
doanh. Bản Điều lệ này bao gồm những quy định điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
giữa các đơn vị kinh tế nh các đơn vị kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, công ty hợp

đồng chính trị ở nớc ta. Hợp đồng kinh tế đã thực sự trở thành công cụ điều chỉnh
và củng cố các quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Trớc yêu cầu của việc cải tiến quản lý kinh tế: xoá bỏ lối quản lý hành chính
cung cấp, thực hiện quản lý theo phơng thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, khắc
phục cách quản lý thủ công phân tán theo lối sản xuất nhỏ, xây dựng cách tổ chức
quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình đa nền kinh tế quốc dân
từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất xã hội chủ nghĩa.
6
Ngày 10/3/1975, Nhà nớc ta đã ban hành bản Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh
tế (ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ).
Điều lệ này đã quy định tơng đối đầy đủ các vấn đề nh: Vai trò của hợp đồng kinh
tế, nguyên tắc ký kết, các nội dung ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế, giải quyết
tranh chấp và trách nhiệm do vi phạm chế độ hợp đồng kinh tế những quy định
này đã trở thành căn cứ pháp lý quan trọng đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải tiến
quản lý kinh tế, góp phần đa các quan hệ hợp đồng kinh tế trở thành nề nếp, ở giai
đoạn này với sự phát triển cao độ của cơ chế tập trung quan liên bao cấp, hợp đồng
kinh tế đã trở thành một công cụ pháp lý chủ yếu của Nhà nớc để quản lý nền kinh
tế kế hoạch hoá xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là hợp đồng kinh tế đợc coi là một công cụ
hữu hiện trong xây dựng, thực hiện và đánh dấu việc hoàn thành hay không
hoàn thành kế hoạch
Nói một cách khác, Nhà nớc ta đã đặt một cái dấu bằng giữa hợp đồng kinh tế
và kế hoạch. Ký kết hợp đồng kinh tế là xây dựng kế hoạch, thực hiện hợp đồng
kinh tế là thực hiện kế hoạch vi phạm hợp đồng kinh tế là vi phạm hợp đồng kế
hoạch Do đó, việc ký kết hợp đồng kinh tế đợc Nghị định 54/CP quy định là một
nghĩa vụ, là kỷ luật Nhà nớc. Nhà nớc quy định tỷ mỉ, chặt chẽ gần nh toàn bộ nội
dung của hợp đồng kinh tế buộc các bên phải tuân thủ nghiêm chỉnh. Về mặt lý
luận, ai cũng biết rằng, một trong những đặc điểm của hợp đồng kinh tế buộc các
bên phải tuân thủ nghiêm chỉnh. Về mặt lý luận, ai cũng biết rằng, một trong những
đặc điểm của hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ là ở chỗ,
trong quan hệ hợp đồng kinh tế có sự thống nhất của 2 yếu tố: yếu tố trao đổi tài

8
+Hợp đồng ngắn hạn: Đây là những hợp đồng có thời hạn đợc thu thực hiện từ
một năm trở xuống.
Dựa vào tính chất của hợp đồng kinh tế, có thể chia hợp đồng kinh tế thành
hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh và hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu
Pháp lệnh.
Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là hợp đồng kinh tế đợc ký căn cứ
vào chỉ tiêu Pháp lệnh của Nhà nớc giao. Ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế
theo chỉ tiêu Pháp lệnh là kỷ luật của Nhà nớc, là nghĩa vụ của các đơn vị kinh tế
đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu Pháp lệnh. Trong nền kinh tế thị trờng, số lợng hợp đồng
kinh tế thuộc loại này rất hạn chế.
Hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu Pháp lệnh là loại hợp đồng đợc ký kết
theo nguyên tắc tự nguyện nhằm xây dựng và thực hiện kế hoạch của các chủ thể.
Các chế độ ký kết, thực hiện hợp đồng của loại hợp đồng này đợc nghiên cứu trong
các mục tiếp theo của chơng này.
Căn cứ vào nội dung cụ thể của các quan hệ kinh tế, trong hợp đồng có thể
chia hợp đồng kinh tế thành các loại sau đây:
- Hợp đồng mua bán hàng hoá
- Hợp đồng vận chuyển
- Hợp đồng xây dựng cơ bản
- Hợp đồng gia công
- Hợp đồng dịch vụ
- Hợp đồng nghiên cứu khoa học, triển khai kỹ thuật
- Các loại hợp đồng khác.
1.1.3. c im hp ng kinh t
9
Về nội dung: Hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm phục vụ hoạt động kinh
doanh. Đó là nội dung thực hiện các công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ,
nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác do các chủ thể tiến
hành trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình tái sản xuất, từ khi đầu t

hoạch với thị trờng. Hợp đồng kinh tế đợc ký kết dựa trên định hớng kế hoạch của
Nhà nớc, nhằm các việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của các đơn vị kinh tế.
Trong đó có những hợp đồng kinh tế mà việc ký kết và thực hiện nó phải hoàn toàn
tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của Nhà nớc. Trong cơ chế quản lý theo
phơng pháp kế hoạch hoá tập trung thì tính kế hoạch là đặc tính số một của hợp
đồng kinh tế. Mặc dù trong giai đoạn hiện nay, Nhà nớc ta đã có những thay đổi
lớn trong công tác kế hoạch hóa, nhng tính kế hoạch của hợp đồng kinh tế vẫn tồn
tại: Hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh vừa là cơ sở để xây
dựng kế hoạch, vừa là công cụ pháp lý bảo đảm việc thực hiện kế hoạch.
Những đặc điểm của hợp đồng kinh tế giúp ta phân biệt hợp đồng kinh tế và
các loại hợp đồng khác nh hợp đồng dân sự, hợp đồng ngoại thơng, hợp đồng lao
động.v.v
1.2. Ch giao kt hp ng trong kinh doanh
1.2.1. Nguyên tc giao kt hp ng trong kinh doanh
Các nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế là những t tởng chỉ đạo, có tính chất
bắt buộc đối với các chủ thể khi ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế. Tính bắt
buộc này đợc thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật. Các nguyên tắc cơ bản đ-
ợc ghi nhận trong Điều 3 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
11
Hợp đồng kinh tế đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp
luật.
Nguyên tắc tự nguyện:
Theo nguyên tắc này, một hợp đồng kinh tế đợc hình thành, phải hoàn toàn dựa trên
cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể (tự do ý chí ), không thể do sự áp đặt ý
chí của bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào.
Khi xác lập quan hệ hợp đồng, các bên hoàn toàn tự do ý chí, tự nguyện trong việc
thoả thuận, bày tỏ ý chí và thống nhất ý chí nhằm đạt tới mục đích nhất định. Các
bên có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm ký kết và các nội dung ký kết.
Mọi sự tác động làm tính tự nguyện của các bên trong quá trình ký kết nh bị cỡng

ích cho một bên hoặc một bên chỉ có quyền còn bên kia chỉ có nghĩa vụ. Một hợp
đồng kinh tế đợc ký kết mà vi phạm nguyên tắc bình đẳng thì sẽ ảnh hởng đến hiệu
lực của hợp đồng kinh tế đó.
Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế nớc ta còn tồn tại nhiều thành phần, cơ cấu
chủ thể của hợp đồng kinh tế rất đa dạng, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan
trọng. Nó góp phần tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các thành phần kinh
tế, khuyến khích sự phát triển và đa dạng hoá các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế
thị trờng.
Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật
Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản là các bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh tế
phải dùng chính tài sản của đơn vị mình để đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp
đồng kinh tế. Tuy nhiên, một chủ thể có thể ký kết hợp đồng kinh tế trong trờng
hợp đợc một chủ thể khác đứng ra bảo lãnh về tài sản.
Quy định việc ký kết hợp đồng không trái pháp luật đòi hỏi nội dung, hình thức
chủ thể của hợp đồng kinh tế đó phải phù hợp, tuân theo các quy định của pháp
luật, không đợc lợi dụng việc ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật.
Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện hợp đồng kinh tế và
việc bảo về trật tự quản lý kinh tế của Nhà nớc. Một hợp đồng kinh tế chỉ có thể đ-
ợc thực hiện một cách nghiêm chỉnh khi nó không trái pháp luật và các bên có khả
năng thực hiện đẩy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Trong giai đoạn hiện nay
nguyên tắc này càng cần đợc coi trọng.
1.2.2. Cn c v thm quyn giao kt hp ng trong kinh doanh
13
Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế đợc quy định tại Điều 10 Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế. Theo quy định này, hợp đồng kinh tế đợc ký kết trên các căn cứ sau:
Định hớng kế hoạch của Nhà nớc, các chính sách, chế độ, các chuẩn mực kinh tế,
kỹ thuật hiện hành.
Đối với mỗi đơn vị kinh tế, ký kết hợp đồng kinh tế là cơ sở để xây dựng kế hoạch
và là cộng cụ để thực hiện kế hoạch của mình. Kế hoạch của mỗi đơn vị kinh tế đợc
xây dựng căn cứ vào định hớng kế hoạch của Nhà nớc, do đó việc ký kết các hợp

nội dung cũng nh tính chất hợp pháp của mỗi quan hệ và khả năng đáp ứng về
hàng hoá, khả năng thanh toán của mỗi bên. Căn cứ này nhằm đảm bảo cho mỗi
hợp đồng kinh tế có đầy đủ cơ sở pháp lý và cơ sở kinh tế để thực hiện trên thực tế.
Tóm lại, khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, các đơn vị kinh tế phải căn cứ vào
những quy định của pháp luật, những yêu cầu khách quan và khả năng chủ quan để
xác lập mối quan hệ kinh tế một cách hợp pháp, có đầy đủ điều kiện để thực hiện
nhằm mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho đơn vị mình và cho xã hội.
* Thẩm quyền ký kết hợp đồng kinh tế:
Theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa các bên
sau đây:
- Pháp nhân với pháp nhân
- Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Nh vậy, chủ thể của hợp đồng kinh tế ít nhất một bên phải là đơn vị có t cách pháp
nhân, còn bên kia có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh.
Pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Có tài khoản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng các tài sản đó.
- Tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật, có thể trở thành nguyên đơn,
bị đơn trớc toà án.
- Tồn tại độc lập và đợc pháp luật công nhận là một tổ chức độc lập.
- Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là ngời đã đăng ký
kinh doanh tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền theo đúng thủ tục pháp luật quy
định và đã đợc cấp giấy phép kinh doanh (giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh )
15
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 42, Điều 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, những
ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân,
ng dân cá thể, tổ chức và cá nhân nớc ngoài tại Việt Nam khi ký kết hợp đồng với
một pháp nhân Việt Nam cũng đợc áp dụng các quy định của Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế.
Về chủ thể của hợp đồng kinh tế, trong khoa học pháp lý hiện có quan điểm cho
rằng, hợp đồng kinh tế là những hợp đồng có mục đích kinh doanh. Vì vậy, nó phải

minh th của ngời đợc uỷ quyền; tính chất và nội dung uỷ quyền, thời hạn uỷ quyền
và phải có chữ ký xác nhận của cả hai ngời này. Ngời đợc uỷ quyền chỉ đợc phép
hành động trong phạm vi đợc uỷ quyền và không đợc uỷ quyền lại cho ngời khác.
Trong phạm vi uỷ quyền, ngời uỷ quyền phải chịu trách nhiệm về hành vi của ngời
đợc uỷ quyền nh hành vi chính của mình.
Quy định trên đây có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc vì nó vừa giúp cho các đơn vị kinh tế
có thể linh hoạt trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế lại vừa ràng buộc
trách nhiệm theo nguyên tắc chịu trách nhiệm cá nhân.
1.2.3. Ni dung v hỡnh thc ca hp ng trong kinh doanh:
Theo quy định tại Điều 12 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì nội dung của hợp đồng
kinh tế bao gồm những điều khoản cụ thể sau:
Ngày tháng năm ký kết hợp đồng kinh tế.
- Tên, địa chỉ, số tài khoản, ngân hàng giao dịch của các bên.
- Họ tên ngời đại diện, ngời đứng tên đăng ký kinh doanh.
Điều khoản đối tợng của hợp đồng:
Tức là các bên trao đổi mua bán, giao dịch về cái gì ? công việc gì ?
Đối tợng của hợp đồng đợc tính bằng khối lợng, số lợng hoặc giá trị quy ớc đã thoả
thuận.
Điều khoản chất lợng
Tức là sự quy định thể hiện những đặc điểm, tính cách của đối tợng hợp đồng.
Các bên phải thoả thuận cụ thể về chủng loại, quy cách, cách tính, tính đồng bộ,
mẫu mã, tiêu chuẩn của sản phẩm. Hàng hoá hoặc những yêu cầu kỹ thuật của
công việc giao dịch giữa các bên.
Điều khoản giá cả:
Các bên có thể thoả thuận xác định đơn giá, hoặc giá trị của toàn bộ công việc thoả
thuận những nguyên tắc xác định rõ giá cả
17
Điều khoản bảo hành:
Điều khoản nghiệm thu, giao nhận:
Các bên đợc thoả thuận đặt ra các điều kiện dể giao nhận sản phẩm hàng hoá, điều

- Điều khoản chất lợng.
- Điều khoản giá cả.
Ngoài ra hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các bên về viềc thiết lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh. Do đó nội
dung của hợp đồng kinh tế trớc hết là những điều khoản do các bên thoả thuận.
Những điều khoản mà các bên đã thoả thuận đó là phát sinh thay đổi hoặc chấm
dứt quyền và nghĩa vụ của ác bên tham gia thoả thuận.
Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng trong nền kinh tế thị trờng, pháp luật không
giới hạn các điều khoản mà các bên đã ký kết hợp đồng thoả thuận với nhau. Nói
nh vậy không có nghĩa là các bên thoả thuận nh thế nào đợc, các bên có quyền thoả
thuận nhng những thoả thuận đó không đợc trái với pháp luật thì mới có hiệu lực và
đợc pháp luật bảo vệ. Do đó yêu cầu đặt ra là nội dung của hợp đồng kinh tế phải
hợp pháp, có khả năng thực hiện, các điều khoản của hợp đồng phải rõ ràng cụ thể.
Trong trờng hợp cần thiết, Nhà nớc vẫn có quyền can thiệp vào nội dung của quan
hệ hợp đồng. Chẳng hạn buộc các bên ký kết hợp đồng phải tuân theo những quy
định bắt buộc về chất lợng sản phẩm để đảm bảo an toàncho ngời tiêu dùng.
Nh vậy, nội dung của hợp đồng kinh tế không chỉ là những điều khoản mà các bên
thoả thuận mà còn có thể bao gồm cả những điều khoản mà các bên không thoả
thuận nhng theo dquy định của pháp luật các bên có nghĩa vụ thực hiện. Bởi vì
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng không chỉ phát sinh từ
những điều khoản mà các bên thoả thuận mà còn có thể phát sinh từ những quy
định pháp luật.
Trong Thứ hai: điều khoản thờng lệ, là những điều khoản đã đợc pháp luật ghi
nhận, nếu các bên không ghi vào các văn bản hợp đồng thì coi nh các bên đã mặc
nhiên công nhận và có nghĩa vụ thực hiện những quy định đó. Nếu các bên thoả
thuận ghi vào văn bản hợp đồng thì không đợc ghi trái với những điều đã quy đinh
đó, nếu thoả thuận trái pháp luật thi những thoả thuận đó không có giá trị.
19
Những quy định của pháp luật sẽ trở thành nội dung của hợp đồng kinh tế thay vào
những điều khoản các bên đã thoả thuận trái đó. Do đó, các bên phải thực hiện

Còn nếu các bên thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc không là nghĩa vụ của
các bên, do đó nó hoàn toàn là bình thờng, chẳng có lý do gì để thởng cả, còn bên
20
nào vi phạm hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm vật chất (phạt hợp đồng và bồi th-
ờng thiệt hại nếu có).
Trong hợp đồng kinh tế, hàng hoá đợc trao đổi ngang giá, do đó điều khoản thởng
phạt tronh hợp đồng kinh tế là vô lý, trái với quy luật kinh tế. Bởi vì giá cả trong
hợp đồng đã chịu sự tác động khách quan của quy luật giá trị và quy luật cung cầu
của thị trờng. Nếu cộng thêm khoản tiền thởng nó sẽ phá vỡ quy luật trao đổi hàng
hoá trên cơ sở ngang giá.
Trong quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các chủ doanh nghiệp t nhân với nhau hoặc
giữa các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế quốc doanh, nếu họ thoả thuận thởng
cho nhau thì đó là việc của họ. Điều vô lý đó không ảnh hởng đến lợi ích của ai nên
pháp luật cũng không can thiệp. Nhng trong quan hệ hợp đồng giữa các doanh
nghiệp Nhà nớc với nhau hoặc giữa doanh nghiệp Nhà nớc với doanh nghiệp của
các thành phần kinh tế khác thì không nên có điều khoản tuỳ nghi này. Vì sự tuỳ
nghi đó có thể dẫn đến sự tuỳ tiện làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nớc.
Nói tóm lại các điều khoản của hợp đồng là do các bên thoả thuận, pháp luật không
hạn chế các điều khoản mà các bên thoả thuận, miễn là những thoả thuận đó không
phải trái pháp luật. Pháp luật chỉ quy định những điều khoản tối thiểu phải có để
chứng tỏ giữa các bên có quan hệ hợp đồng. Những điều khoản tối thiểu đó là
những điều khỏan chủ yếu của hợp đồng.
Tuy nhiên, về từng khía cạnh cụ thể cần có những hiểu biết và kinh nghiệm sâu sắc
đặc biệt về chủ thể hợp đồng, về hình thức, về nội dung hợp đồng nh tiêu đề trình
bày.
1.2.4. Th tc giao kt hp ng trong kinh doanh
Để xác lập một quan hệ hợp đồng kinh tế có hiệu lực pháp lý, các bên có thể
lựa chọn một trong hai cách ký kết hợp đồng kinh tế nh sau:
Ký kết hợp đồng bằng phơng pháp ký trực tiếp là cách ký đơn giản. Hợp đồng
kinh tế đợc hình thành một cách nhanh chóng. Khi ký kết bằng cách này, đại diện

phơng pháp ký kết để xác lập một quan hệ hợp đồng kinh tế.
1.3. Ch thc hin hp ng trong kinh doanh
1.3.1.Nguyờn tc thc hin hp ng kinh t:
Sau khi ký hợp đồng kinh tế và hợp đồng kinh tế có hiệu lực, các bên bị ràng
buộc vào trách nhiệm thực hiện các cam kết trong hợp đồng. Mọi hành vi không
thực hiện hợp đồng và thực hiện không đầy đủ đều đợc coi là vi phạm hợp đồng và
chịu trách nhiệm vật chất. Để cho hợp đồng đợc thực hiện một cách đầy đủ và đúng
đòi hỏi các bên phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
-Nguyên tắc chấp hành hiện thực: Chấp hành hiện thực hợp đồng là chấp hành
đúng đói tợng hợp đồng, không đợc tự ý thay đổi đối tợng này bằng một đối tợng
khác hoặc không đợc thay thế việc thực hiện nó. Nguyên tắc này đòi hỏi thoả thuận
cái gì thì thực hiện đúng cái đó.
-Nguyên tắc chấp hành đúng: Thực hiện hợp đồng một cách đầy đủ và chính
xác tất cả các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng. Theo nghĩa này, đây là
nguyên tắc bao trùm, rộng hơn nguyên tắc hiện thực. Nguyên tắc chấp hành đúng
đòi hỏi các bên thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ đúng đắn, chính xác
cam kết không phân biệt điều khoản chủ yếu, điều khoản thờng lệ hay tuỳ nghi.
Nếu vi phạm bất cứ cam kết nào trong hợp đồng đều phải chịu trách nhiệm vật chất
cho hành vi đó.
-Nguyên tác hợp tác, tơng trợ giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Nguyên tắc này đòi hỏi các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế phải hợp
tác chặt chẽ, thờng xuyên theo dõi giúp đỡ lẫn nhau để khắc phục khó khăn nhằm
thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết và ngay cả khi có tranh chấp, các
bên cũng phải áp dụng phơng pháp này thông qua việc hiệp thơng giải quyết hậu
quả của việc vi phạm hợp đồng kinh tế. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trog
23
việc phòng ngừa và giải quyết kịp thời các tranh chấp hợp đồng kinh tế nhằm bảo
đảm lợi ích các bên.
1.3.2. Bin phỏp m bo thc hin hp ng trong kinh doanh
Thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh tài sản là những biện pháp bảo đảm

kinh tế đợc thực hiện cùng với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế tại cơ
quan có thẩm quyền. Đó là Toà án kinh tế hoặc các trung tâm Trọng tài kinh tế phi
Chính phủ.
So với pháp luật về hợp đồng kinh tế trớc đây, Bộ luật dân sự quy định về các
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự một cách chặt chẽ và đầy đủ hơn. Các
biện pháp đảm bảo trong Bộ luật dân sự phong phú hơn.
1.3.3. Thay i, ỡnh ch, thanh lý hp ng trong kinh doanh
-Thay đổi hợp đồng kinh tế là việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của nội dung
của hợp đồng kinh tế ch o phù hợp với nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh của
các bên hoặc là sự thay đổi chủ thể hợp đồng. Khi có sự chuyển giao một phần
hoặc toàn bộ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh từ một chủ thể hợp đồng kinh tế sang
một pháp nhân hay cá nhân có đăng ký kinh doanh. Việc sửa đổi hợp đồng kinh tế
có mục đích giúp các bên khắc phục các thiếu sót trong ký kết hợp đồng các bên
gặp phải hoặc nhằm khắc phục hậu quả của nguyên nhân khách quan. hợp đồng
kinh tế chỉ thay đổi khi các bên thống nhất ý chí bằng văn bản.
-Đình chỉ thực hiện hợp đồng kinh tế là sự chấm dứt nửa chừng việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hợp đồng kinh tế. Khi một bên vi
phạm hợp đồng kinh tế và đã thừa nhận sự vi phạm đó hoặc đã đợc cơ quan, tổ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status