TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN MễN: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
TấN ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA DOANH NGHIỆP
GVHD: PHẠM ĐèNH TỊNH
Lớp: CĐKT7CLT
Nhóm thực hiện: Nhóm 9
1. Nguyễn Thị Hoài Trang
2. Trần Thị Huyền Trang
3. Đỗ Thị Hồng Trang
Tp, HCM, Tháng 1 năm 2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN MễN: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
TấN ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ TRÁCH NHIấM XÃ HỘI
CỦA DOANH NGHIỆP
GVHD: PHẠM ĐèNH TỊNH
Lớp: CĐKT7CLT
Nhóm thực hiện: Nhóm 9
1. NGUYỄN THỊ HOÀI TRANG
2. TRẦN THỊ HUYỀN TRANG
3. ĐỖ THỊ HỒNG TRANG
Tp, HCM, Tháng 1 năm 2010
LỜI CẢM ƠN
Trong khoảng thời gian gần ba tháng học tập ở Trường Đại Học Công Nghiệp Thành
doanh nghiệp, với nhà đầu tư, với người tiêu dùng và toàn xã
hội.
1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?
Có rất nhiều định nghĩa về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social
Responsibility - CRS). Trong số đó, Uỷ ban kinh tế thếgiới về phát triển bền vững định
nghĩa: "trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một cam kết kinh doanh nhằm cư xử đạo
đức và đóng góp cho sự phát triển kinh tế cùng với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của
người lao động và gia đình của họ cũng như chất lượng cuộc sống của cộng đồng và xã hội
nói chung." Doanh nghiệp mong muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn
mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả
lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng.
2. Vấn đề thường nhật ở các nước phát triển
Trên thế giới, những người khổng lồ đang chi trả rất nhiều tiền để trở thành một hình
mẫu kinh doanh lí tưởng, và để trở nên có trách nhiệm với xã hội. Điển hình cú hóng điện
dân dụng Best Buy với việc áp dụng chương trình tái chế sản phẩm. Starbucks, hãng cà phê
có mặt khắp ngóc ngách của hành tinh, đã bắt tay vào hàng loạt các hoạt động cộng đồng.
Evian, hãng nước khoáng nổi tiếng của Pháp, phân phối sản phẩm của mình trong những
chai nước thân thiện với môi trường. Công cụ tìm kiếm vô địch Google với trụ sở
Googleplex đối xử với nhân viên như vàng ngọc. General Electrics sử dụng 2 tỉ đụla hàng
năm để nghiên cứu các công nghệ bảo vệ môi trường mới. Phó phòng Quan hệ cộng đồng
của Best Buy, Paul Prahl đã phát biểu rằng "Chúng tôi chỉ cảm thấy chúng tôi sẽ thành
công trên thị trường nếu chúng tôi chịu trách nhiệm xã hội." Ở nhiều công ty báo cáo trách
nhiệm xã hội còn đi kèm với các báo cáo thường niên.
Ngoài việc đảm bảo chất lượng cuộc sống cho nhân viên, bảo vệ môi trường, và phát
triển các sản phẩm tạo ra lợi ích cho người tiêu dùng và môi trường. Các công ty còn xây
dựng quỹ và làm từ thiện đóng góp vào sự phát triển của xã hội và cộng đồng. Royall
Dutch Shell, tập đoàn giàu khí lâu đời, đã thành lập các quỹ từ thiện, trong đó có việc xây
dựng trung tâm giáo dục Early Learning Centre ở Nam Phi nhằm giỏo dục trẻ em và dạy kĩ
năng cho người trưởng thành. Ngân hàng thế giới World Bank và hãng dược phẩm Merck
đã đưa ra sáng kiến nhằm phát triển nguồn quỹ lên 50 triệu đụla Mỹ trong đó có cả việc
còn cơ hội tiếp cận thị trường.
Ngày nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao hàm nhiều khía cạnh hơn. Nhiều
nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một doanh nghiệp hiện đại chỉ được xem là có trách nhiệm xã
hội khi: đảm bảo được hoạt động của mỡnh khụng gây ra những tác hại đối với môi trường
sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất của
mình, đây là một tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng; Phải biết quan tâm đến
người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh
thần, buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo
sức lao động của mình là điều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;
Phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính
trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi
người; Không được phân biệt đối xử, từ chối hoặc trả lương thấp giữa người bình thường
và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; Phải cung cấp những sản
phẩm có chất lượng tốt, khụng gõy tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây cũng là một
tiêu chí rất quan trọng thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng;
Dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng. Vì
cộng đồng và san sẻ gánh nặng với cộng đồng đang là một mục tiêu mà các doanh nghiệp
có trách nhiệm xã hội đang hướng tới bên cạnh mục tiêu phát triển lợi nhuận của mình, như
các chương trình hỗ trợ châu Phi, châu Á trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe của nhà tỷ phú
Bill Gates là một ví dụ tiờu biểu. Quả thực, sẽ có nhiều trẻ em được cứu sống hơn, nhiều
trẻ em được đến trường hơn…, nếu các doanh nghiệp sẵn sàng chia sẻ lợi ích với cộng
đồng
III. Bộ quy tắc ứng sử về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động chủ yếu thông qua các
Bộ Quy tắc ứng xử Trách nhiệm xã hội. Các bộ Quy tắc quy định về xã hội, môi trường và
đạo đức giỳp cỏc doanh nghiệp thực hiện các tiêu chuẩn cao hơn luật pháp quốc gia và đối
với các nhà cung ứng (bên bán) phải được giám sát việc thực hiện cũng như kiểm tra độc
lập thường xuyên. Các Bộ Quy tắc này bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1990. Bộ đầu
tiên do Levi Straus xây dựng năm 1991. Hiện nay ước tính có khoảng hơn 1000 Bộ Quy
tắc ứng xử do các công ty đa quốc gia xây dựng, trong đó có SA8000 do tổ chức quốc tế về
1. Cuộc tranh luận về CSR
Ðại diện nổi bật nhất cho chủ thuyết quản trị “Đại diện” là Milton Friedman [6].
Trong một bài báo viết cho tờ New York Times tháng 9/1970, ông nêu rõ: “Doanh
nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông,
trong khuôn khổ luật chơi của thị truờng là cạnh tranh trung thực và công bằng.” Theo ông,
nguời quản lý doanh nghiệp (thành viên hội dồng quản trị và ban giám dốc) là những người
đại diện cho chủ sở hữu/ cổ đông đứng ra quản lý công ty. Họ được bầu hoặc được thuê dể
dẫn dắt công ty theo cách mà các cổ đông muốn, đa phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều
càng tốt, dồng thời tuân thủ các quy tắc xã hội cơ bản vốn đã được thể hiện trong luật và
các nguyên tắc đạo đức phổ biến. éú chớnh là bản chất vì- lợi nhuận (for-profit) của doanh
nghiệp và nguời quản lý doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm đối với cổ đông là nguời chủ sở
hữu công ty đã lựa chọn họ dể làm đại diện. Do đó, nếu nguời quản lý công ty muốn, anh ta
có toàn quyền để thực hiện các trách nhiệm xã hội đựa trên nhận thức và tình cảm của
riêng mình và bằng thời gian và tiền bạc của cá nhân, nhưng không được sử dụng nguồn
lực của công ty và nhân danh công ty, nếu không duợc cổ đông ủy thác dể làm việc đó.
Thứ hai, công ty vốn là một chủ thể “vụ tri vô giỏc” do con nguời tạo ra; do đó công ty
không thể tự nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức vốn chỉ có con nguời mới có. Bởi vì
chỉ có từng cá nhân con nguời mới có luong tâm dể nhận thức sự việc đúng- sai.
Hơn nữa, các trách nhiệm xã hội thuộc lĩnh vực của nhà nuớc, là chủ thể cung cấp các
dịch vụ cộng, vì lợi ích công cộng và phi lợi nhuận. Chỉ có nhà nuớc mới có đủ thông tin
để quyết định đúng đắn trong việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả. Và cấu trúc
tam quyền phân lập dã đảm bảo sự phân bổ đó được công bằng và có kiểm soát. Trách
nhiệm của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công nghệ (bởi vì doanh nghiệp
là chủ thể vì- lợi nhuận duy nhất trong xã hội), đem lại lợi nhuận, tạo ra việc làm và thu
nhập cho nguời lao dộng. Trách nhiệm chính của doanh nghiệp đối với nhà nuớc là đúng
góp thuế. Và trách nhiệm của nhà nuớc là làm sao sử dụng tiền thuế dó hiệu quả nhất vì lợi
ích công cộng. Như vậy, nếu doanh nghiệp cũng thực hiện các trách nhiệm xã hội thì sẽ có
sự trùng lặp và doanh nghiệp sẽ trở thành nguời vừa dóng thuế, vừa quyết dịnh việc chi
tiêu khoản thuế dó ra sao. Nguời quản lý doanh nghiệp khi ấy sẽ trở thành một nhân viên
công vụ hơn là một người đại diện cho lợi ích của cổ dông.
kinh tế và xã hội khi nhìn nhận bản chất và hoạt động của doanh nghiệp.
Và nguời quản lý với tư cách là nguời thác quản doanh nghiệp cần thực hiện các trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì nghĩa vụ và lợi ích của chính doanh nghiệp mình. Trách
nhiệm của họ không phải là việc quyết định điều gì tốt hay xấu cho xã hội, mà là đáp ứng
những điều mà xã hội mong muốn và trông đợi ở doanh nghiệp như một thành viên đầy đủ
trong dó. CSR chính là lực cản cuối cùng giúp giữ doanh nghiệp không đi quá đà vì lợi ích
kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức (vốn không phải lúc nào cũng được thể hiện
đầy đủ bằng các quy định pháp luật), bỏ quên những tác dộng tiêu cực của mình dến các
thành phần khác trong xã hội.
Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội cũn vỡ lợi ích tăng truởng và phát triển bền
vững của chính mình. Ðiều tra của Bowman & Haire từ năm 1973 dã cho thấy nhúm cỏc
công ty cam kết với CSR có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (ROE) cao hơn các công ty khác
(14.7% so với 10.2%). Khác với mô hình công ty gia đình truớc kia, doanh nghiệp hiện đại
thuờng là các công ty cổ phần đại chúng, hoạt dộng đa ngành nghề, đa quốc gia. Do dó,
ngày nay doanh nghiệp không chỉ hoạt dộng trong môi truờng đơn nhất duợc giám sát bởi
các cơ chế thị truờng thuần túy kinh tế (giá cả, cạnh tranh, thị truờng chứng khoán), mà còn
chịu tác dộng của các cơ chế xã hội- chính trị- môi truờng. éỏng chú ý, hai hệ thống này có
sự tác dộng qua lại với nhau. Thực tế cho thấy nguời tiêu dùng và nhà dầu tư ngày càng
tính đến cỏc tiờu chí thành tích của công ty về đạo đức, lao dộng, môi truờng, xã hội trong
các quyết định tiêu dùng hay đầu tư của mình. Hơn thế nữa, không chỉ liên quan dến tính
cạnh tranh, CSR còn liên quan trực tiếp đến tính bền vững của công ty. Những vụ dổ vỡ
của tập đoàn Enron, công ty kiểm toán Arthur Anderson, hoặc ngay vụ cỏc cõy xăng gian
lận bị rút giấy phép là những minh chứng rõ nét nhất cho thấy rằng thiếu CSR, doanh
nghiệp sẽ tự loại mình ra khỏi thị truờng và cộng dồng doanh nghiệp.
2. Phong trào CSR ở các nuớc phát triển
CSR dã trở thành một phong trào thực thụ và truởng thành, phát triển rộng khắp thế
giới. Nếu chúng ta tra cứu các cụm từ có gốc “trỏch nhiệm xã hội của doanh nghiệp” bằng
tiếng Anh trên Google, chúng ta sẽ thấy có hon 70 triệu luợt tìm kiếm (chua kể các cụm từ
về CSR ở từng nuớc cụ thể). Hàng vạn bài báo, nghiên cứu, sách, tạp chí, diễn dàn, trang
web của các tổ chức NGOs, giới khoa học, doanh nghiệp, tu vấn, báo chí và chính phủ bàn
giảm chi phí hoạt dộng cho công ty không nhỏ.
3Có thể nói CSR đã có chỗ đứng khá vững chắc trong nhận thức của giới doanh nghiệp.
Một số trung tâm, viện nghiên cứu về trách nhiệm doanh nghiệp đã được các truờng đại
học ở Mỹ thành lập. 78% sinh viên ngành quản trị doanh nghiệp cho rằng chủ dề CSR nên
được đưa vào các chuong trình giảng dạy. Trong cuộc khảo sát của công ty McKinsey nam
2007, 4 84% số quản trị viên cao cấp được hỏi cho rằng việc đóng góp vào các mục tiêu xã
hội của cộng dồng cần đuợc tiến hành song song với việc gia tăng giá trị cổ đông, trong khi
chỉ có 16% cho rằng lợi nhuận là mục tiêu duy nhất. 51% và 48% ý kiến lần luợt cho rằng
môi truờng (trong số 15 vấn dề chính trị- xã hội khác nhau) là vấn đề hàng dầu tập trung sự
chú ý của công luận, và có ảnh huởng tiêu cực hoặc tích cực nhất dối với giá trị cổ đông
trong năm năm tới. Khi được hỏi về ảnh huởng xấu mà các công ty lớn có thể gây ra cho
cộng dồng, 65% trả lời- ô nhiễm môi truờng, 40%- đặt lợi nhuận lên trên sức khỏe con
nguời, 30%- gây áp lực chính trị. Về các ảnh huởng tích cực mà doanh nghiệp đem lại thì
tạo việc làm duợc xếp cao nhất (65%), tiến bộ khoa học công nghệ (43%), cung cấp sản
phẩm- dịch vụ cho nhu cầu con nguời (41%), nộp thuế (35%).
3.Một số khái niệm CSR:
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Mỗi tổ chức, công ty, chính phủ nhìn nhận
CSR duới những góc độ và quan diểm riờng, phụ thuộc vào diều kiện, đặc diểm và trình dộ
phát trển của mình. Keith Davis (1973) đưa ra một khái niệm khá rộng “CSR là sự quan
tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn dề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu
cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”.
Trong khi dó, Carroll (1999) cho rằng CSR cũn cú phạm vi lớn hơn “là tất cả các vấn
dề kinh tế, pháp lý, đạo đức, và những linh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp
trong mỗi thời diểm nhất dịnh.”
Theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm
khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền
vững và trách nhiệm môi truờng. éú là một khái niệm động và luôn duợc thử thách trong
từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thự.”
Như vậy, bản chất của CSR là quan diểm về vai trò của doanh nghiệp trong mối tương
quan với vai trò của nhà nuớc khiến khái niệm CSR luôn biến dổi, luôn mới tùy thuộc
hoặc là tự phát hơn là một việc làm tự nguyện gắn liền với hoạt động kinh doanh và hình
ảnh của doanh nghiệp.
Nước ta cũng có những doanh nhân làm từ thiện gắn với hình ảnh các doanh nghiệp đó
là bà Dương Thị Bạch Diệp, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Diệp Bạch Dương, đã ủng hộ
quỹ “Vỡ người nghốo” của UBMTTQ Việt Nam 18 tỷ đồng; bà Nguyễn Thị Diệu Hiền,
Giám đốc Công ty TNHH chế biến thủy sản Bình An ; ngoài ra chúng ta cũng cú cỏc hoạt
động ủng hộ thiên tai, bão lụt của các doanh nghiệp và doanh nhân. Và tất cả mới chỉ dừng
lại ở đó.
Như vậy, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tất yếu đi liền với kinh doanh
ở các nước phát triển, trong khi đó ở Việt Nam, các doanh nghiệp phần lớn chỉ thực hiện
do mang tính bắt buộc hay từ thiện tâm của người đứng đầu doanh nghiệp. Đó là hai quan
niệm kinh doanh hoàn toàn khác nhau. Vậy thực hiện CRS có lợi gì đối với doanh nghiệp?
Và doanh nghiệp Việt Nam có cần tự nguyện thực hiện CRS giống như ở các nước phát
triển?
II. Những điểm cần lưu ý về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở
Việt Nam
Ở Việt Nam, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang trở thành một nội dung được
quan tâm, nó sẽ đem lại cho các doanh nghiệp những lợi ích và cơ hội như: khả năng gia
tăng các hợp đồng mới và hợp đồng gia hạn từ các công ty đặt hàng nước ngoài; năng suất
lao động của các công ty tăng lên do công nhân có sức khoẻ tốt hơn và hài lòng với công
việc hơn. Khi lợi thế về giá nhân công rẻ hay nguồn tài nguyên phong phú không còn là
của riêng Việt Nam, thì việc thực thi trách nhiệm xã hội đặc biệt có ý nghĩa đối với các
doanh nghiệp này vỡ nú chớnh là một công cụ đắc lực giúp cho doanh nghiệp nội địa
chiếm được ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng đặt ra ở đây là cần phải hiểu đúng và thống nhất thế nào
là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trên thực tế rất dễ hiểu lầm khái niệm trách nhiệm
xã hội theo nghĩa “truyền thống”, tức là doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội như là
một hoạt động tham gia giải quyết các vấn đề xã hội mang tính nhân đạo, từ thiện. Khái
niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam, vì vậy việc
thực hiện cho đến nay vẫn còn hạn chế. Do chưa thấy được vai trò quan trọng cũng như lợi
1. Nhận thức đúng và những điểm cần lưu ý:
Một là, cần khẳng định rằng các bộ quy tắc ứng xử không thể thay thế và đứng trên
luật quốc gia. Phần lớn các nội dung của bộ quy tắc ứng xử dựa trờn các công ước là thông
lệ quốc tế và luật quốc gia. Do vậy việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử ở bất cứ quốc gia
nào phải phù hợp với luật quốc gia và hỗ trợ việc thực hiện luật quốc gia, vấn đề quan
trọng là đưa ra cách thức quản lý, theo dõi, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện những quy
định này.
Hai là, việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử là tự nguyện, hoàn toàn không mang tính
bắt buộc. Khi có một công ty bạn hàng nước ngoài quy định việc thực hiện một bộ quy tắc
ứng xử nào đó là bắt buộc để có thể ký kết hợp đồng thương mại thì đó là quan hệ giữa
doanh nghiệp với doanh nghiệp, chứ không phải là sự bắt buộc từ phía chính phủ sở tại
cũng như chính phủ nước nhập khẩu.
Ba là, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được quy định trong các bộ quy tắc ứng
xử được hiểu là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với toàn xã hội thông qua sản phẩm của
mình.
Bốn là, việc thực hiện các quy định thể hiện trách nhiệm xã hội trong các bộ quy tắc
ứng xử là một khoản chi phí mang tính chất đầu tư của doanh nghiệp, được thực hiện trước
và trong khi làm ra sản phẩm, chứ không phải là một đóng góp của doanh nghiệp mang
tính chất nhân đạo, từ thiện.
Năm là, nếu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và bộ quy tắc ứng xử được hiểu
đúng và thực hiện đúng, phù hợp với luật pháp quốc gia thì việc thực hiện trách nhiệm xã
hội chính là một việc làm mà cỏc bờn đều có lợi: đó là uy tín và tính cạnh tranh của doanh
nghiệp được tăng lên; quyền lợi và nhân phẩm của người lao động được bảo đảm tốt hơn;
và việc thực hiện luật pháp quốc gia cũng được tốt hơn, tính cạnh tranh của cả nền kinh tế
cũng cao hơn, môi trường đầu tư tốt hơn.
Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam là một công việc không thể
bỏ qua trên con đường hội nhập, vừa lợi ích cho doanh nghiệp, vừa lợi ích cho xã hội, đặc
biệt là nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của quốc gia và hỗ trợ thực hiện tốt
hơn Luật pháp Lao động tại Việt Nam, cũng là nội dung quan trọng trong xây dựng văn
hoá doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện đại. Để định hướng và tạo điều kiện cho doanh
kinh doanh của mình.
MỤC LỤC TRANG
PHẦN 1: MỞ ĐẦU………………………………………………………… 2
I. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - vấn đề còn nguyên tính hấp dẫn
II. Nhận thức về “Trỏch nhiệm xã hội của doanh nghiệp”……………… 3
III. Bộ quy tắc ứng sử về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp………….4
PHÂN 2: NỘI DUNG TIỂU LUẬN
I. Trách nhiệm xã hội: không “mới” nhưng vẫn “lạ” ở Việt Nam……….10
II. Những điểm cần lưu ý về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt
Nam 11
III. Một số vấn đề thúc đẩy các doanh nghiệp có ý thức thực hiện trách nhiệm xã
hội 12
PHẦN 3: KẾT LUẬN………………………………………………………14
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Nhận xét chung :
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………