Hồng Bàng thị truyện như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại - Pdf 28

"Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của
người Việt Nam thời trung đại
(Tác giả Liam C. Kelley; Hoa Quốc Văn dịch)
Trong một thời kì xấp xỉ nghìn năm khi những vùng đất mà ngày nay thuộc miền Bắc và một số
phần của miền Trung Việt Nam đang nằm bên trong những đường biên của các đế chế Trung Hoa
khác nhau, thông tin về khu vực đó phần lớn được ghi chép bởi các tác giả Trung Hoa. Những
người này gom thông tin trong các bộ sử qua các triều đại về những cuộc nổi dậy và sự bổ nhiệm
các quan lại đến khu vực ấy, và xếp chúng trong những loại mục của những cuốn sách mang tính
bách khoa và tuyển tập về những gì mà họ xem là nhân vật và sản vật kì lạ đến từ vùng ngoại
biên của đế chế. Ngay khi khu vực này trở nên tự chủ [thoát] khỏi sự cai trị của Trung Hoa vào
thế kỉ X, người Việt Nam bắt đầu soạn các cuốn biên niên sử về vùng đất của họ
(1)
.
Trong quá trình này, họ cũng ghi chép thông tin chi tiết về những nhóm dân nào đó từng sống ở
đây thậm chí trước thời Trung Hoa cai trị, và về nhóm dân mà các tác giả Trung Hoa không đề
cập đến. Cho rằng có thông tin về các giai đoạn xa xưa của lịch sử trong các công trình của
người Việt Nam, vốn không tồn tại trong các nguồn tư liệu Trung Hoa, các học giả về cơ bản đã
kết luận: người Việt Nam hẳn đã có những truyền thống lịch sử của riêng mình được họ lưu
truyền bằng miệng và rồi cuối cùng được viết ra ngay khi vùng đất của họ thoát khỏi sự cai trị
của Trung Hoa
(2)
. Cái nhìn bao rộng này là sai lầm. Thay vào đó, rõ ràng thông tin mới lạ mà các
tác giả Việt Nam trung đại ghi chép về lịch sử cổ xưa của họ được kiến tạo ở một thời điểm nào
đó trong các thế kỉ ngay trước khi và/hay sau khi Việt Nam trở thành một chính thể độc lập vào
thế kỉ X, và nó cấu thành cái mà chúng ta có thể gọi là một “truyền thống được kiến tạo”
(3)
.
Trong khi mọi truyền thống được kiến tạo ở một thời điểm nào đó, khái niệm về một “truyền
thống được kiến tạo” biểu thị một kiểu truyền thống riêng biệt. Như đã được mô tả bởi Eric
Hobsbawn, một truyền thống được kiến tạo là một truyền thống được tạo ra trong một thời đoạn
có sự biến chuyển xã hội khi những truyền thống “cũ” và những người truyền bá chúng trở nên

độ có hạn, và rồi họ được tiếp nối bởi những học giả có quốc tịch khác ở thế kỉ XX. Cho đến
thập kỉ 1960s, người ta có thể tìm thấy nhiều nhận xét đầy hoài nghi về thông tin trong câu
chuyện này từ các công trình của các học giả Việt Nam, Trung Hoa và Pháp
(5)
. Tuy nhiên, rõ ràng
lúc bấy giờ quá trình lịch sử lâu dài của sự chất vấn thông tin trong Hồng Bàng thị truyện đã
bước vào một ngã rẽ mới. Các học giả Việt Nam dân chủ cộng hoà (DRV) đã có một nỗ lực có
dự tính nhằm “chứng minh” sự tồn tại trong lịch sử của các vua Hùng, và thông tin trong Hồng
Bàng thị truyện đóng vai trò then chốt trong nỗ lực đó. Nó là những ý kiến tranh luận và cách
tiếp cận của thực thể học thuật được tạo ra bởi những học giả DRV bắt đầu từ cuối thập kỉ 1960s,
và vẫn giữ vai trò chủ đạo ở Việt Nam ngày nay, mà đây chính là điều bài viết này chủ yếu phản
bác lại. Cùng thời, với tư cách một nghiên cứu bằng tiếng Anh cho độc giả đọc tiếng Anh, bài
viết này cũng thách thức một số điểm trong chuyên khảo của Keith Taylor năm 1983, cuốn Sự
hình thành của Việt Nam [The Birth of Vietnam], một công trình được viết trong sự đồng tình với
quan điểm mà các học giả DRV đã bắt đầu trình bày ở cuối thập kỉ 1960s và đầu thập kỉ 1970s.
Liệt truyện, sự truyền miệng và các dị bản
Trong khi ngày nay Liệt truyện được xem là một nguồn tư liệu quan trọng về lịch sử cổ xưa của
Việt Nam, thì ở đây lại có một hiện tượng bất thường xảy ra. Tình trạng hiện tại của những bản
sao hiện tồn của tác phẩm phơi bày ra điều này. Liệt truyện rõ ràng chưa từng được xuất bản.
Ngày nay, có khoảng 14 bản chép tay của văn bản ở Việt Nam, với nhiều dị biệt giữa chúng
(6)
.
Trong khi chúng ta không biết phần lớn các bản chép tay được làm ra khi nào, thì nhiều bản có
chứa một bài tựa có nội dung dừng lại ở năm 1492. Bài tựa này được cho là của một ông Vũ
Quỳnh nào đó, người từng lưu ý trong bài tựa ấy rằng những câu chuyện hiện có trong Liệt
truyện được viết bởi nhiều người khác nhau. “Không có ghi chép nào về thời điểm chúng được
khởi thảo hay người đã hoàn thành chúng” Vũ Quỳnh nói về các truyện đó. “Có lẽ một bản thảo
đã được tạo ra bởi những học giả xuất sắc ở thời Lí và Trần, và rồi chúng được nhuận sắc thời
gần đây bởi những bậc đáng kính vốn am hiểu và hiếu cổ”
(7)

xem Liệt truyện như một nguồn tư liệu cực kì giá trị. Tức là, họ xem nó như là một kho truyền
thuyết đã được lưu truyền qua nhiều thế kỉ trong “nhân dân” hoặc “dân gian”, và nó có thể được
sử dụng hợp thức như những tài liệu lịch sử
(12)
. Bằng việc thiết lập cái nhìn này, các học giả hiện
đại hẳn phải điều hoà hai tuyên bố đối lập về Liệt truyện từ thời tiền hiện đại. Trong bài tựa năm
1492 của mình, Vũ Quỳnh lưu ý rằng:
Từ trước thời Xuân Thu và Chiến Quốc (722 – 221 trước CN), không xa thời thái cổ, phong tục
phương Nam vẫn còn giản phác. Chưa có sử sách gì của vương quốc để ghi chép các sự kiện. Vì
vậy, [nhiều thông tin về] hầu hết các sự kiện đã bị mất mát. Những điều may mắn tiếp tục còn
tồn tại và không bị huỷ hoại là do những sự lưu truyền bằng miệng của nhân dân/dân gian”
(13)
Rồi ở thế kỉ XVIII, Lê Quý Đôn viết về Liệt truyện rằng: “Cuốn sách này vay mượn và phát triển
nhiều [thông tin từ các văn bản khác] nhiều đến nỗi không thể kể xiết”. Rồi ông cung cấp một ví
dụ về hiện tượng này này bằng việc trích dẫn các văn bản Trung Hoa đã gợi hứng cho một câu
chuyện trong Liệt truyện
(14)
. Trong khi Vũ Quỳnh quy nguồn gốc của ít nhất một số chất liệu
trong Liệt truyện cho sự truyền khẩu của “nhân dân/dân gian” thời cổ, thì Lê Quý Đôn cho rằng
nhiều nội dung trong công trình này được lấy từ những nguồn bên ngoài.
Như khi các học giả DRV đã cố tạo ra một lịch sử cho đất nước mới độc lập của họ, họ quay
sang Liệt truyện để tìm thông tin về thời kì ở thiên niên kỉ đầu trước CN khi các vua Hùng được
cho là đã nắm quyền ở đây, và họ phải giải quyết việc đánh giá tính mâu thuẫn về nguồn gốc của
những chất liệu này
(15)
. Rốt cuộc, những gì các học giả bắt tay vào làm sau đó, và những gì họ
tiếp tục làm bây giờ, là khăng khăng cho rằng trong khi những câu chuyện này có thể chịu ảnh
hưởng ở mức độ nhất định bởi ghi chép của giới tinh hoa trong những thế kỉ sau khi chúng được
tạo ra, thì song le, chúng vẫn là những câu chuyện được truyền miệng từ thời cổ
(16)

ta nói về “nhân dân/dân gian”, có phải Vũ Quỳnh nói đến những người nông dân không biết chữ?
Hay ông ta có ý nói những người có học như bản thân ông? Đó là những câu hỏi cơ bản cần
được đặt ra nhưng chưa được chú ý [giải quyết].
Một vấn đề khác là các học giả chưa hướng sự quan tâm đến quá trình truyền miệng. Các học giả
Việt Nam mường tượng sự lưu truyền các truyện truyền miệng xảy ra thông qua một quá trình,
mà theo Stuart Blackburn, chúng ta có thể gọi là quá trình “kế thừa trực hệ” – những câu chuyện
truyền nhau bởi những thành viên của một nhóm có cùng ngôn ngữ từ thế hệ này sang thế hệ
kia
(21)
. Trong khi các học giả này chấp nhận sự tiếp xúc giữa người Việt Nam và các nhóm sắc
tộc khác và thừa nhận rằng một số thông tin trong một cuốn sách như Liệt truyện có thể được kế
thừa từ các nhóm người như Mường hay bắt nguồn từ một nguồn tư liệu chung, thì họ lại cho
người Việt là trung tâm của sự lưu truyền này
(22)
.
Có vô số những vấn đề với một niềm tin như thế. Người ta quan tâm đến chứng cứ mà họ trích
dẫn nhằm chứng minh rằng người dân sống ở đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỉ đầu trước
CN về cơ bản là giống với người dân sống ở đó thời trung đại. Các học giả Việt Nam cho rằng
những phát hiện khảo cổ học ở đồng bằng sông Hồng từ thế kỉ đầu trước CN, như các trống đồng
Đông Sơn, và những bằng chứng về các cuộc khởi nghĩa trong xấp xỉ một ngàn năm Trung Hoa
cai trị, như cuộc khởi nghĩa của chị em họ Trưng ở thế kỉ đầu sau CN, đều chỉ ra sự tồn tại của
một nhóm dân cư ổn định ở khu vực này trong suốt thời kì dài
(23)
. Tuy nhiên, kiểu chứng cứ này
không nhất thiết ủng hộ cho một tuyên bố như thế.
Thứ nhất, việc kết hợp các di vật khảo cổ với nhóm người đã tạo ra những câu chuyện trong Liệt
truyện đòi hỏi một điều là người ta đã phóng chiếu sự tồn tại của một nhóm sắc tộc được cho là
đã tồn tại trong lịch sử (“người Việt”) được nhận dạng từ các văn bản trung đại lên những di vật
khảo cổ tiền sử. Như Siân Jones đã nói, các học giả những người đã can dự vào một sự thực hành
như vậy luôn luôn nhận diện một cách thiếu phê phán một nhóm sắc tộc đặc thù từ các nguồn tư

thông tin truyền miệng này rốt cuộc được dịch sang tiếng Hán cổ. Một nỗ lực tiến được hành để
quyết định xem cái gì nằm trong phạm vi truyền miệng trước khi thông tin được chuyển thành
bản viết, và làm thế nào chúng ta nhận ra các dấu hiệu của ngôn ngữ truyền miệng trong các
nguồn tư liệu viết như thế, đã trở thành [vấn đề] trung tâm trong lĩnh vực văn học truyền miệng ở
phương Tây nhiều thập kỉ qua. Tuy nhiên, các học giả phải điều tra một cách có phê phán những
chủ điểm này trong trường hợp Việt Nam
(27)
.
Vì vậy, có nhiều vấn đề cẩn phải khảo xét sâu rộng hơn nhằm chứng minh rằng những thông tin
lịch sử cốt lõi về thời viễn cổ của Việt Nam có thể được lưu truyền bằng miệng qua nhiều thế kỉ.
Nghĩa là, các học giả ở phương Tây từ lâu đã nhận ra rằng sự kiếm tìm sự thật lịch sử trong các
câu chuyện truyền miệng thế này là cực kì có vấn đề, và trong trường hợp xấu nhất đó là một “sự
truy cầu điều hão huyền”
(28)
. Một sự tiếp cận hiệu quả hơn cho các nhà sử học là kiểm xét quá
trình lưu truyền truyền thống truyền miệng, vì điều đó có tính lịch sử. Do đó, không quan tâm
đến việc có hay không có một sự thật lịch sử trong một câu chuyện truyền miệng, [thay vào đó]
dạng thức tồn tại của nó có thể nói cho chúng ta nhiều điều về một thời điểm cụ thể trong quá
khứ
(29)
. Thay vì tìm hiểu thông tin đã không “được khảm nạm bằng những sự sắp đặt bắt nguồn
từ những luồng văn hoá của các thế kỉ sau”, theo giả thiết của Taylor, chúng ta có thể tìm tòi để
xác định từ những thứ “đồ khảm nạm” này thời điểm và lí do một câu chuyện được trình bày
bằng một cách thức nào đó
(30)
. Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta cũng cần tâm niệm về khả
năng những bản thảo viết về những thứ ngày ngay chúng ta tin là có thể bắt nguồn từ các câu
chuyện truyền miệng thực ra có thể bắt nguồn từ dạng thức viết. Chẳng hạn, trong hoàn cảnh
châu Âu, Ruth Bottingheimer đã cho rằng không phải một dân gian mù chữ đã sáng tạo ra các
truyện thần kì đầu tiên sau đó phổ biến chúng thông qua hình thức kể chuyện bằng miệng cho

quái đã thực hiện một chức năng tương tự, trong đó chúng bàn luận về sự dị thường bằng thứ
ngôn ngữ rõ ràng của trước tác lịch sử, bằng cách đó chúng “cho nhập tịch” cái kì lạ
(34)
. Campany
cũng lưu ý rằng những người thuộc các thị hiếu tri thức khác nhau – chúng ta có thể mệnh danh
vì mục tiêu giản dị ở đây là: Đạo sĩ, Nhà sư và học giả Khổng giáo – đã sử dụng các truyện chí
quái để trình bày những quan điểm hỗ trợ cho niềm tin của họ về thế giới.
Trong bài tựa của mình, Vũ Quỳnh dứt khoát đặt Liệt truyện vào thể loại chí quái. Ông ví tác
phẩm với cuốn Sưu thần kí ở thế kỉ IV của Can Bảo, một trong những tác phẩm khá sớm của thể
chí quái
(35)
. Ông cũng đặt tác phẩm trong một bối cảnh Nho học phổ biến khi cho rằng tất cả các
truyện về cơ bản “đề cao cái tốt và trừng phạt cái xấu” (khuyến thiện trừng ác), mệnh đề đóng
vai trò cơ bản đối với một thể loại các văn bản chữ Hán là “sách đạo đức” [thiện thư]
(36)
. Thể văn
này xuất hiện ở thời Tống và sử dụng khái niệm “nghiệp báo” của Phật giáo để nói về tầm quan
trọng của việc thực hành đức hạnh Khổng giáo. Nhiều tác phẩm như thế đã khẳng định rằng nội
dung của chúng được phi lộ bởi các vị thần, một thực hành nghi lễ gắn với các Đạo sĩ
(37)
.
Do đó, Liệt truyện rõ ràng là một bộ phận của những khuynh hướng văn chương rộng hơn lúc
bấy giờ. Trong phạm vi vấn đề người ta nên xem nó là sự thật hay hư cấu, tôi cho rằng Liệt
truyện là cả hai. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, có nhiều phần trong Hồng Bàng thị truyện rõ
ràng là hư cấu. Tuy nhiên, cũng hiển nhiên là mục đích của bài tiểu luận này là viết về sự tồn tại
của một chính thể ở Đồng bằng sông Hồng thời trung đại đặt trong một bối cảnh địa lí và lịch sử
rộng lớn hơn. Theo đó, ngược với bản chất hư cấu trong phần nhiều câu chuyện, bản thân nỗ lực
tạo ra câu chuyện như thế đã là một sự thật lịch sử mà chúng ta có thể đặt trong một thời đại lịch
sử đặc tương đối đặc thù. Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang [bàn về] Hồng Bàng thị truyện và
khảo sát những nhân tố hư cấu và có thực của nó một cách kĩ lưỡng hơn.

“Nước Thục dựng nước bắt đầu từ Nhân Hoàng, ông đã đặt Thục ngang hàng với Ba. Thời
Hoàng Đế, con ông là Chang Yi lấy con gái họ Thục Sơn, sinh ra một con trai tên là Cao Dương,
trở thành Đế Cốc. Đế Cốc phong tước vị cho các thành viên của các chi bàng hệ trong gia tộc
mình ở đất Thục, nơi họ đã phụng sự [vương quốc] qua nhiều thế hệ với tư cách là hầu tước và
nam tước. Điều đó được tiếp nối qua các triều Hạ, Thương, Chu”
(40)
.
Rõ ràng như mọng đợi, thông tin trong đoạn văn này rất giống với đoạn mở đầu Hồng Bàng thị
truyện của Liệt truyện. Đặc biệt, cũng như Hồng Bàng thị truyện, văn bản này tạo nên sự kết nối
về phả hệ với một thủ lĩnh Trung Hoa huyền thoại, có một đứa con được sinh ra từ cuộc hôn
nhân giữa một phụ nữ địa phương với một hậu duệ của vị thủ lĩnh ấy, và rồi có những thành viên
khác của gia đình cá nhân ấy được phong làm người cai trị địa phương ấy. Nói khác đi, cả Liệt
truyện và Hoa Dương quốc chí tạo ra một câu chuyện giống nhau nhằm kết nối những địa điểm
tương ứng với một nhân vật ở thời cổ đại của Trung Hoa. Nếu chúng ta xem xét đoạn mở
đầu Toàn thư ở thế kỉ XV của Ngô Sĩ Liên, một văn bản được viết gần như ngang với thời điểm
Vũ Quỳnh “hiệu đính” Liệt truyện và viết bài tựa cho nó, chúng ta sẽ thấy thậm chí còn nhiều sự
tương đồng hơn nữa với Hoa Dương quốc chí.
Trong Toàn thư, Ngô Sĩ Liên tái tạo lại thông tin phả hệ từ Liệt truyện trong đó nối Thần Nông
với Kinh Dương Vương. Tuy nhiên, ông bắt đầu xử lí chất liệu này bằng một chú thích của riêng
mình trong đó chỉ ra những mối liên hệ khác giữa nước ông và các vị thủ lĩnh Trung Hoa cổ xưa
khác nữa. Trong chú thích này, Ngô Sĩ Liên gọi quê hương ông là Giao Chỉ, một cái tên cổ mà
Trung Hoa đã đặt cho vùng đất chính của đồng bằng sông Hồng, và gọi là Nam Giao, một khái
niệm xuất hiện ở một trong những văn bản Trung Hoa cổ nhất, cuốn Thượng thư, trong đó có lẽ
cũng chỉ một khu vực tương tự. Ông cũng đề cập đến các thủ lĩnh Trung Hoa cổ khác, như
Hoàng Đế huyền thoại, [Đế] Nghiêu, và bề tôi của ông, Hy Thúc, cũng như nhân vật nửa lịch sử
[nửa huyền thoại] là Vũ, người sáng lập nổi tiếng của triều Hạ (khoảng thế kỉ XXI trước CN đến
thế kỉ XVI trước CN). Trích dẫn:
“Thời Hoàng Đế, muôn nước được thiết lập và Giao Chỉ phân ranh giới về phía Tây Nam, xa
ngoài đất của Bách Việt
(41)

sự song hành trực tiếp hơn với những thông tin trong các văn bản hiện còn. Câu chuyện tiếp tục
kể rằng Kinh Dương Vương, nhân vật được giao cai trị phương Nam, có thể đi vào các vùng
nước [thuỷ phủ], một khái niệm mà các nguồn tài liệu Trung Hoa dùng để chỉ nơi ở của các vị
thần nước và các vua rồng. Có lẽ không gian phải là ở thuỷ phủ để ông gặp một phụ nữ có tên
Thần Long, nghĩa là “Rồng thiêng”, là con gái của một Động Đình quân nào đó, một người có
cùng cái tên với một hồ lớn ở trung tâm Trung Hoa ngày nay. Kinh Dương Vương cưới Thần
Long và Thần Long sinh ra một con trai, Sùng Lãm, người sẽ được gọi là Lạc Long Quân. Rồi
câu chuyện lưu ý rằng Lạc Long Quân nắm quyền cai trị vương quốc của cha và dạy cho dân cày
cấy và nuôi tằm. Nó cũng lưu ý rằng lúc bấy giờ xuất hiện một trật tự tôn ti giữa đấng chí tôn và
bề tôi, giữa người trên và kẻ dưới, cũng như những mối quan hệ đúng đắn giữa cha với con, giữa
chồng với vợ
(44)
.
Những nhân vật như Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân không được đề cập trong các nguồn
tư liệu Trung Hoa. Trong khi những bình luận trong đoạn văn về một trật tự tôn ti đúng đắn xuất
hiện trong giai đoạn xa xưa này rõ ràng phản ánh cái nhìn của Khổng giáo, thì nhiều học giả lại
có xu hướng tin rằng Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân hẳn phải là những người anh hùng
văn hoá có thật của người Việt Nam, và phải tìm hiểu để lí giải nguồn gốc của họ. Chẳng hạn,
học giả được chú ý là Đào Duy Anh đã cố gắng làm điều đó với trường hợp Kinh Dương Vương
trong một số công trình học thuật của mình cuối những năm 1940 đầu 1950. Đào Duy Anh, cũng
như nhiều hoc giả khác lúc bấy giờ, tin rằng người Việt Nam trong lịch sử đã di cư xuôi về phía
Nam đến đồng Bằng sông Hồng từ những khu vực ở Nam Trung Hoa
(45)
. Ông chỉ ra rằng khu vực
xuang quanh sông Dương Tử nơi có hồ Động Đình đã được biết đến từ thời cổ là khu vực của hai
châu Kinh [Jing;荊] và Dương [Yang;楊]. Những chữ trong tên hai châu này đồng âm với những
chữ “Kinh” và “Dương” trong cái tên Kinh Dương Vương [涇陽], nhưng chúng được viết khác
nhau. Đào Duy Anh nhận ra điều này và cho rằng câu chuyện về Kinh Dương Vương có lẽ bắt
nguồn từ khi người Việt đang sống dọc sông Dương Tử ở khu vực châu Kinh và Dương, và rằng
qua nhiều thế kỉ người Việt truyền miệng câu chuyện này khi họ di cư về phía Nam đến đồng

.
Câu chuyện này rõ ràng là sự gợi ý cho cuộc hôn nhân giữa Kinh Dương Vương và Thần Long,
con gái của Động Đình quân mà chúng ta thấy trong Liệt truyện và Toàn thư. Trên thực tế, nó là
một mối liên hệ không phải không được lưu ý trong quá khứ, bởi nó được bình luận trong Toàn
thư. Văn bản Toàn thư được đặt rải rác với những chú thích ngắn gọn. Không rõ là ai hoặc là
Ngô Sĩ Liên hoặc là một học giả nào đó sau này đã viết những lời bình luận này. Dù thế nào, sau
đoạn nói về cuộc hôn nhân này, Toàn thư cũng có một bình luận có phần khó hiểu sau đây:
“Theo Đường kỉ, Kinh Dương lúc bấy giờ có người phụ nữ chăn dê, xưng là con gái út của Động
Đình quân, lấy con thứ hai của Kinh Xuyên, nhưng sau đó nàng bị bỏ. Cô giao một bức thư cho
Liễu Nghị, người đệ trình một kỉ vật choi Động Đình quân. Thế thì, những cuộc hôn nhân qua
nhiều thế hệ giữa Kinh Xuyên và Động Đìnhđã có một lịch sử lâu dài”
(49)
.
Bất kể là ai viết bình luận này rõ ràng đều biết những thông tin trong Liễu Nghị truyện,mặc dù
ông khẳng định rằng nó bắt nguồn từ “Đường kỉ”
(50)
. Tuy nhiên, lời bình luận khá rối rắm, đặc
biệt là dòng cuối khi nó lưu ý rằng những cuộc hôn nhân giữa Kinh Xuyên và Động Đình “có
một lịch sử lâu dài”. Như đã nói ở trên, Kinh Dương và Kinh Xuyên đều là 2 địa điểm ở tỉnh Sơn
Tây, và cả hai đều được đề cập đến trong Liễu Nghị truyện. Rõ ràng, người nào đó viết bình luận
này đã gần như kết hợp Kinh Dương Vương với Kinh Dương ở Sơn Tây khi mà những chữ này
là giống nhau. Có vẻ như người chú thích đang cố gắng nói rằng từ khi Kinh Dương Vương cưới
con gái Động Đình quân thời xa xưa, và từ khi có một cuộc hôn nhân ở thời Đường giữa con gái
út của Động Đình Quân và một người nào đó ở khu vực Kinh Dương, thì đã có một lịch sử hôn
nhân lâu dài giữa hai vùng đất này.
Vấn đề là một trong những nhân vật đã cưới con gái Động Đình Quân là một con người, Kinh
Dương Vương, còn người kia lại là con trai của một con sông, Kinh Xuyên. Điều này rõ ràng là
phi lí nhìn từ thực tế lịch sử, nhưng nó có thể hiểu được bởi thông tin từLiễu Nghị truyện là hư
cấu, cũng như câu chuyện về Kinh Dương Vương. Rốt cuộc, một số học giả Việt Nam có vẻ
nhận ra điều này. Cuốn Khâm định Việt sử thông giám cương mục ở thế kỉ XIX, một cuốn sử mà

Năm mươi người con trai theo Âu Cơ sau đó tôn người có khả năng nhất trong số họ lên làm thủ
lĩnh, gọi là Hùng Vương, và xưng nước của họ là nước Văn Lang
(54)
.
Đoạn văn này cực kì nổi tiếng khi nhiều học giả thời hiện đại đã viết về đoeeì mà họ xem là có ý
nghĩa sâu sắc chỉ mối tương tác giữa những người ở vùng nước và những người ở vùng cạn. Đặc
biệt, các học giả đã xem điều này là sự biểu tượng hoá mối tương tác giữa một nền văn hoá biển
và một nên văn hoá lục địa ở một thời điểm xa xôi nào đó trong quá khứ, một mối tương tác mà
các học giả này nói rằng đã xác định một cách sâu sắc đặc trưng của dân Việt
(55)
. Chẳng hạn,
Keith Taylor đã cho rằng:
“Những truyền thống huyền thoại xung quanh Lạc Long Quân và nguồn gốc của các vua Hùng
đã phi lộ một nền văn hoá mang thiên hướng biển đang tiến tới sự liên hệ với môi trường đất
liền. Nền văn minh đến với một người anh hùng văn hoá từ biển, người đã vượt lên trên sức
mạnh của lục địa bằng cách chiếm vợ của kẻ thù và biến cô ta thành mẹ của những đứa con thừa
tự của mình. Chủ đề về người anh hùng văn hoá bản địa này đang trung hoà một mối đe đoạ của
phương Bắc bằng cách chiếm lại nguồn gốc tính chính đáng của nó, báo hiệu một mối quan hệ
lịch sử giữa người Việt và người Trung Hoa. Nguồn gốc huyền thoại của các vua Hùng phản ánh
một cơ sở văn hoá biển với những sự trưởng thành về chính trị dưới sự ảnh hưởng mang tính lục
địa. Ý tưởng này sau đó được giới trí thức Việt Nam đưa vào phả hệ của Lạc Long Quân và Âu
Cơ, cái đã gom tuyến đường nước phương Nam với tuyến lục địa phương Bắc vào một gia đình
hoàng gia đơn nhất, trong cái gia đình đó người sáng lập được lựa chọn lùi lên tận vị hoàng đế
Trung Hoa trong huyền thoại đầu tiên”
(56)
.
Quan điểm của Taylor ở đây là, người Việt Nam đã sở hữu một “chủ đề về người anh hùng văn
hoá bản địa đang trung hoà một sự đe đoạ của phương Bắc bằng cách chiếm lại nguồn gốc tính
chính đáng của nó” trước khi tiếp xúc với người Trung Hoa. Tuy nhiên, không rõ người mà “mối
đe doạ phương Bắc” bị làm nền bởi “một người anh hùng văn hoá trừ vùng biển” này là ai.

mươi người con trai theo Âu Cơ lên non thực sự là sự phản ánh kí ức văn hoá sâu sắc nào đó của
cuộc tiếp xúc giữa những phương thức sống dưới biển và trên lục địa? Hay có phải nó đơn thuần
là một truyện kể trung đại được đan dệt bởi một học giả bản địa người được gợi hứng bởi một
truyện kể hư cấu về những con cá sấu ở địa phương? Chúng ta không thể chắc chắn được, nhưng
rõ ràng rất đáng khảo sát bối cảnh trung đại để tìm ra một nguồn tư liệu tiềm năng cho những
thông tin trong những truyện này. Và trong khi toàn bộ hiểu biết và truyền thuyết địa phương có
thể là một nguồn cảm hứng cho câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ, thì chúng ta cũng không
nên loại trừ khả năng câu chuyện này được gợi hứng từ những nguồn tài liệu viết.
Tất nhiên, có vô số câu chuyện về rồng và tiên trong văn học Trung Hoa liên quan đến những
khu vực phía Nam sông Dương Tử. Theo đó, để xác định xem liệu có bất kì cái gì thống nhất
trong câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ hay không, sẽ là khôn ngoan khi trước hết nên
đào xới danh mục các câu chuyện Trung Hoa viết về rồng và tiên. Chỗ tốt nhất để bắt đầu có lẽ
là Liễu Nghị truyện, và như đã biết, có những mối liên hệ rõ ràng giữa câu chuyện đó với câu
chuyện về Kinh Dương Vương và Thần Long. Và hoá ra, cũng có những sự tương đồng
giữa Liễu Nghị truyện và đoạn văn trong Liệt truyện đã dẫn ở trên. Những mối liên hệ ở đây
không trực tiếp như những mối quan hệ liên quan đến Kinh Dương Vương và Thần Long, nhưng
chúng gợi ý một cách mạnh mẽ rằng câu chuyện này ít nhất gợi một số ý tưởng cho câu chuyện
về Lạc Long Quân và Âu Cơ.
Trong Liễu Nghị truyện, Liễu Nghị chuyển một bức thư cho Long quân hồ Động Đình sống dưới
long cung vì lợi ích của con gái ông. Khi Liễu Nghị đến cung điện, văn bản ghi chép những
thông tin sau đây:
[Liễu] Nghị hỏi [một người chỉ đường cho ông đến long cung]:
- Động Đình quân đang ở đâu?
- Chủ nhân của chúng tôi đang ở gác Huyền Châu. Ông đang bàn bạc về Hoả kinh với Thái
Dương đạo sĩ. Họ có lẽ sắp kết thúc rồi.
- Hoả kinh nói về cái gì?
- Chủ nhân của chúng tôi là rồng. Sức mạnh thần thánh của rồng liên quan đến nước; với một
giọt nước ông có thể chụp lên cả các ngọn núi và thung lũng. Trong khi đó, Đạo sĩ là người. Sức
mạnh thần thành cua người liên quan đến lửa; với một ngọn đèn, ông ấy có thể đốt cháy cung A
Phòng [một cung điện được xây dựng bởi Tần Thuỷ hoàng đế]. Vì hai loại trí tuệ thần thánh là

. Tuy nhiên, có một vẻ ngạo mạn thực dân trong nhận
định của Maspero rằng người Việt Nam đơn thuần chỉ sao lại một lỗi lầm mà chẳng nhận ra nó
và từ đó đã gọi những vị vua lập nước của mình bằng một khái niệm sai lầm qua nhiều thế kỉ.
Hiểu rõ giọng điệu và những ngụ ý trong quan niệm của Maspero, ta không ngạc nhiên khi nhận
định của ông rốt cuộc gây ra nhiều tranh cãi. Sự tranh cãi bắt đầu từ thập kỉ 1940, và cho đến
cuối thập kỉ 1960 đầu thập kỉ 1970 nó đạt đến một kết luận mang tính chính trị, theo đó ngả về
cái tên “Hùng”
(60)
. Tuy nhiên, nó cũng phải tiến đến một kết luận khoa học. Trong khi các học giả
bàn luận liên miên về việc chọn chữ nào là đúng, lạc hay hùng, thì ít người tranh luận về đoạn
văn lớn hơn mà trong đó có các chữ xuất hiện ở những nguồn tư liệu Trung Hoa cổ xưa. Tuy
nhiên, khi nhìn vào đoạn văn và lịch sử văn bản của nó, đáp án cho câu hỏi khái niệm nào đúng
hơn trở nên rõ ràng hơn.
Sự tranh cãi này tập trung xung quang và nguồn tư liệu được cho là gốc. Hai trong số đó có chứa
chữ “Lạc”, và một chứa chữ “Hùng”. Tất cả các công trình này nay đã mất, nhưng những đoạn
văn [còn lại] của chúng được trích dẫn trong các tác phẩm hiện còn. Nguồn tư liệu chính đầu tiên
là Giao Châu ngoại vực kí. Những chứng cớ về văn bản gợi ý rằng công trình này có niên đại từ
hoặc cuối thế kỉ III hoặc đầu thế kỉ IV sau CN
(61)
. Đoạn văn trong công trình này có chép về
những vị thủ lĩnh xưa ở Đồng bằng Sông Hồng được bảo lưu trong cuốn Thuỷ kinh chú ở thế kỉ
VI của Lịch Đạo Nguyên. Trích dẫn:
“Giao Châu ngoại vực chí chép rằng ‘trong quá khứ, trước khi Giao Chỉ có quận và huyện, vùng
đất này đã có ruộng Lạc. Ruộng này theo sự lên xuống của nước lũ, và vì vậy người dân đã khai
khẩn ruộng này để trồng cấy, họ được gọi là dân Lạc. Lạc vươngvà Lạc hầu được bổ nhiệm để
cai trị các quận huyện khác nhau. Nhiều huyện có các lạc tướng. Lạc tướng đeo ấn đồng treo trên
dây thao xanh”
(62)
.
Đoạn văn này chứa đựng những thông tin trái ngược. Nó có ý miêu tả một giai đoạn trước khi

chức đã chết ở thế kỉ trước, người lại trích dẫn sách Ích Châu truyện. Đối với văn bản mà Yao
Cha đã trích, không rõ khi nào nó được viết, và do ai. Nhiêu Tông Di tìm thấy một ít văn bản có
cái tên hoặc là Ích Châu truyện hoặc là Ích Châu kí có từ các giai đoạn triều Hán, thời Tam Quốc
và thời Lương (206 trước CN – 557 sau CN). Vì vậy, trong khi không rõ chính xác bao giờ Ích
Châu truyện như trích dẫn của Tư Mã Trinh được soạn, thì đoạn văn về đồng bằng sông Hồng
của nó như sau:
“Triệu thị dẫn Ích Châu truyện, trong đó nói rằng: Giao Chỉ có Lạc điền, ruộng ấy dựa vào sự lên
xuống của nước lũ. Người dân sống cạnh ruộng ấy được gọi là Lạc dân. Ở đó có Lạc vương và
lạc hầu. [Thủ lĩnh] các quận khác nhau tự gọi mình là Lạc tướng. Với ấn đồng treo trên dây thao
xanh, họ giống như những quan địa phương các huyện hiện nay”
(63)
.
Hẳn nhiên là đoạn văn này rõ ràng hơn đoạn văn tương tự trong Giao Châu ngoại vực kí.Những
vấn đề như thông tin trái ngược về Lạc vương và Lạc hầu được bổ nhiệm cai trị các quận và
huyện ở một giai đoạn trước khi các quận huyện được thiết lập, và nghi vấn về người bổ nhiệm
họ, đã được loại trừ.
Một ít thế kỉ sau khi Tư Mã Trinh thâu nhập thông tin này vào lời bình luận của ông cho sách Sử
kí, thông tin này được giản hoá còn xa hơn. Nó xuất hiện khi lời bình luận của Tư Mã Trinh, cho
đến thời điểm này nó đã là một văn bản độc lập, được sáp nhập vào thực thể văn bản Sử kí và
được xuất bản kết hợp cả chính văn và phần bình luận ở thời Nam Tống (1127 – 1279 sau CN).
Khi điều này xảy ra, vì lí do nào đó tên của văn bản mà Diêu thị đã tham khảo nhiều thế kỉ trước
đã được đổi tên từ Ích Châu truyện thànhQuảng Châu kí. Một số thay đổi cũng được tiến hành
khi trích dẫn đoạn văn, đến nỗi nó xuất hiện như dưới đây:
Trong phần “Sách ẩn” (ở Sử kí), Diêu thị đã dẫn Quảng châu kí trong đó nói rằng “Giao Chỉ có
ruộng Lạc, ruộng đó dựa vào sự lên xuống của nước. Nhân dân sống ở bên ruộng ấy được gọi là
Lạc hầu. Những thủ lĩnh cấp huyện khác nhau tự gọi họ là Lạc tướng. Với ấn đồng treo trên dây
thao xanh, họ giống như những quan địa phương các huyện hiện nay”
(64)
.
Thêm vào sự thay đổi tiêu đề, sự khác nhau đáng chú khác trong phiên bản này là nó không còn

như khái niệm “Lạc” trong các văn bản trên kia. Cái “khí” trong đất mạnh [hùng], và bởi vì vậy
nên nhân dân ở vùng này cũng được gọi là Hùng, hay mạnh. Nói khác đi, tác giả này không đơn
thuần là mắc một sai lầm khi sao chép và viết “Hùng” trong khi đáng lẽ phải viết “Lạc”, như
Maspero nhận định. Thay vào đó, ông thay đổi đột ngột đoạn văn này cho phù hợp với nghĩa của
khái niệm “Hùng” nghĩa là “mạnh”. Để làm điều này, ông đã thêm thông tin vào phần mở đầu
của đoạn văn về việc đất ấy phì nhiêu và khí nơi đây thì mạnh, và rồi kết nối thẳng từ “Hùng”
với nghĩa “mạnh” này với những cái tên của đất và người nơi đây.
Nếu chứng cớ về mức độ kiến tạo thông tin của tác giả này ở đây vẫn còn chưa rõ ràng, thì chúng
ta cũng cần phải chỉ ra rằng mệnh đề “đất đen và màu mỡ” là một bản sao rất gần gũi với thiên
“Vũ cống” trong Thượng thư, nơi nó viết rằng “”đất nhẹ và màu mỡ”
(67)
. Đây không phải là một
biểu ngữ phổ biến trong Hán cổ. Thay vào đó, tác giả này rõ ràng đang mô phỏng dòng văn
trong Thượng Thư. Ngược lại, đoạn văn tương tự trong hai văn bản trên không cho thấy chứng
cứ nào về sự vay mượn từ các văn bản khác [của chúng].
Một mẫu hình xuất hiện khi người ta xem xét tất cả những thông tin ở trên. Rõ ràng là thông tin
này chúng tôi tìm thấy trong cái được cho là những nguồn thông tin khác biệt rốt cuộc tìm thấy
ngọn nguồn từ một nguồn thông tin gốc. Mỗi một câu chuyện cung cấp những thông tin cơ bản
giống nhau trong trật tự giống nhau và về cơ bản là bằng cùng một cách thức. Cũng hiển nhiên là
thông tin này được trích dẫn đi trích dẫn lại. Hơn nữa, mỗi lần được trích dẫn là một lần mới có
tiềm năng khiến cho một người sao chép nào đó thay đổi đoạn văn. Điều này rõ ràng xảy ra với
cái phiên bản chứa đựng chữ “Lạc”. Đặc biệt, (các) tác giả đã thay đổi đoạn văn để khiến cho
thông tin trở nên rõ ràng hơn và loại bỏ những mâu thuẫn. Đã biết rằng phiên bản chứa đựng chữ
“Hùng” cũng cung cấp những thông tin cơ bản tượng tự trong cùng thứ tự và cung cách, và rằng
những sự thay đổi mà nó chứa đựng khiến cho thông tin này rở nên rõ ràng hơn, sẽ là logic khi
kết luận rằng phiên bản chứa đựng chữ “Hùng” được tạo ra bởi một người sao chép bằng việc
thay đổi từ phiên bản có chữ “Lạc” sang để khiến cho văn bản trở nên rõ ràng hơn.
Ở thập kỉ 1950, học giả Pháp Émile Gaspardone đã xem xét các đoạn văn có chữ “Lạc” và
“Hùng” rồi cho rằng chúng cấu thành hai truyền thống lịch sử khác nhau. Trong khi nhận ra một
cấp độ của sự song hành giữa hai phiên bản, thì ông lại tập trung nhiều hơn và nội dung của

Tư Mã Trinh vốn có đề cập đến các vị vua. Trong khi đó, chính cái tiêu đề, Quảng Châu kí, và sự
vắng bóng của bất kì đề cập nào đến các vị vua trong cái văn bản được cho là có này, đều là
những sự phát triển về văn bản rất muộn về sau. Và chúng phát triển vì những nguyên nhân
chẳng liên quan gì đến hiện thực của bối cảnh ở đồng bằng sông Hồng
Vì vậy, rốt cuộc Maspero đã đúng khi cho rằng “Lạc” là khái niệm đúng. Tuy nhiên, ông đã sai
khi khẳng định rằng một người chép văn bản Trung Hoa nào đó đã đơn thuần mắc lỗi khi sao
chép chữ này và viết thành “Hùng”. Trong khi những người sao chép Trung Hoa không nghi ngờ
gì nữa có thể mắc sai lầm, giống như những người sao chép thời trung đại ở những phần khác
của thế giới, thì họ cũng biến đổi một cách có cân nhắc các văn bản họ “sao chép”. Trong trường
hợp thông tin về đồng bằng sông Hồng, rõ ràng những người sao chép đã nhiều lần thay đổi
thông tin này qua các thế kỉ. Chúng ta có thể thấy sự biến đổi dần dần đối với phiên bản “Lạc” và
một sự biến đổi kịch đột ngột hơn với sự sáng tạo ra phiên bản “Hùng”, song tất cả các văn bản
này đều tuân theo một mẫu hình chung và thể hiện thông tin tương tự. Theo đó, rõ ràng là có duy
nhất một truyền thống, một truyền thống nỗ lực giản lược và gạn lọc những thông tin rắc rối, và
khái niệm “Hùng” được tạo ra chính trong quá trình này.
Maspero cũng đã sai khi khẳng định rằng người Việt chỉ đơn thuần sao chép lại một chữ sai, vì
họ rốt cuộc đã kiến tạo ra một cái gì đó mới bằng cách sử dụng cả “Hùng” và “Lạc” [trong cùng
một đoạn văn]. Trong khi Liệt truyện chép rằng các vua của Văn Lang được gọi là các vua
“Hùng”, thì nó lại khẳng định rằng “các quan văn được gọi là Lạc hầu, và các vị tướng được gọi
là Lạc tướng””
(70)
. Nói khác đi, bất kì ai viết Hồng Bàng thị truyện cũng đã không chép bất kì
một văn bản sớm đơn nhất nào, mà thay vào đó, sáng tạo ra cái gì đó mới dựa trên các văn bản
phức tạp. Cũng có điều thú vị cần lưu ý là khi Liệt truyện giới thiệu khái niệm “Hùng”, nó thực
hiện điều đó bằng cách lưu ý rằng 50 người con trai theo Âu Cơ “tôn người có khả năng lên làm
thủ lĩnh, gọi ông là Vua Hùng”
(71)
. Điều có ý nghĩa ở đây là từ biểu thị ý “có khả năng” (“hùng
trưởng”) cũng chứa đựng chữ “hùng” vốn được dùng trong cái tên “Hùng vương”. Khi người ta
xem xét việc bất kì ai đã viết thông tin này có lẽ cũng là người chọn cái tên “Hùng vương” và

(74)
.
Trong khi đó, học giả Trung Hoa Nhiêu Tông Di đã chỉ ra từ nhiều thập kỉ trước rằng câu chuyện
này rõ ràng được gợi hứng bởi những nhân tố từ văn học và lịch sử Trung Hoa qua những điểm
đã nói ở trên. Ông cho rằng, câu chuyện về Lộc Tục, tức Kinh Dương Vương tương lai, cho phép
anh trai cùng cha khác mẹ của ông kế tục ngai vàng, vang vọng lại một câu chuyện nổi tiếng về
một người đàn ông có tên Ngô Thái Bá, người đã cho phép em trai mình leo lên ngai vàng. Cuộc
tuần du của Đế Minh xuống phương Nam, trong đó ông lấy được một người vợ, gợi nhớ đến
cuộc tuần du của Đế Thuấn thời cổ xuống phương Nam, nơi ông chết và được hai người vợ khóc
than. Thực tế rằng các vua Hùng đều được gọi là “Hùng” ở mỗi thế hệ gợi nhớ đến các vị vua
của nhà Chu, những người đều được gọi là “Mi” ở mỗi thế hệ. Con số 100 đứa con trai của Âu
Cơ dường như có liên hệ với Bách Việt, những người được cho là sống ở khu vực Nam Trung
Hoa thời cổ
(75)
. Do đó, khi người ta xem xét tổng thể tài liệu này, với tất cả những phương thức
mà nó dùng để phản chiếu thông tin từ các văn bản khác, việc nhìn ra sự truyền miệng ở giữa
những sự chịu ảnh hưởng và vay mượn về văn bản khá đậm nét như vậy trở nên cực kì khó khăn.
“Việt/Yue” như là một khái niệm tự xưng.
Sự ảnh hưởng của lịch sử và văn học Trung Hoa đối với Hồng Bàng thị truyện là cực kì có ý
nghĩa, ở chỗ nó hoàn toàn ủng hộ lập luận rằng câu chuyện này là một kiến tạo thời trung đại.
Với sự thật đó, chúng ta cần phải xét lại toàn bộ hiểu biết của chúng ta về lịch sử Việt Nam để
điều chỉnh cho đúng với thực tế này. Bằng những gì tiếp theo, tôi sẽ cố gắng phác thảo đại lược
một đề cương của một sự diễn giải thay thế về lịch sử Việt Nam thời trung đại và sớm hơn, cái có
thể giúp lí giải về người viết Hồng Bàng thị truyện và lí do viết. Vì giới hạn khuôn khổ bài viết,
sự thảo luận này sẽ rất ấn tượng chủ nghĩa và sẽ thuần tuý nhấn mạnh một cặp xu hướng mà tôi
cho là chúng ta nên xem xét khi khảo sát giai đoạn này. Thứ nhất, đối lập với niềm tin rằng
“nhân dân” của Đồng bằng sông Hồng ở thiên niên kỉ đầu trước CN đã sở hữu bản sắc nào đó mà
họ duy trì suốt cả nghìn năm Trung Hoa cai trị, tôi cho rằng chúng ta có thể nhận thấy xu hướng
từ từ trong một phần của giới tinh hoa Hán hoá, những người sống ở một khu vực trải dài từ
vùng Bắc Việt Nam ngày nay đến tận Quảng Đông là sử dụng khái niệm “Việt” (Yue) để tự

quốc ở thế kỉ III trước CN bao trùm một khu vực kéo dài từ tỉnh Quảng Đông đến Bắc Việt Nam
ngày nay, có lẽ là người sớm nhất dùng khái niệm “Việt/Yue” cho mục đích “tự xưng” này. Ông
gọi lãnh thổ của nước mình là Nam Việt
(78)
. Tuy nhiên, trong những thế kỉ tiếp theo, những người
khác cũng sẽ làm tương tự.
Chẳng hạn, có một nước Nam Việt được tuyên bố bởi một ông Lý Bí nào đó vào thế kỉ VI ở khu
vực mà ngày nay thuộc Việt Nam. Lý Bí được cho là hậu duệ đời thứ 7 của người Trung Hoa đã
chạy trốn xuống phía Nam cuối thời Hán đến khu vực thuộc Việt Nam ngày nay. Trong suốt cả
giai đoạn đó, dường như gia đình này có quan hệ hôn nhân qua lại với người dân địa phương và
thiết lập những mối ràng buộc mạnh mẽ với khu vực này. Năm 544, Lý Bí nắm lấy cơ hội có sự
rối loạn chính trị trong vùng để thiết lập một vương quốc của riêng mình và tự tuyên bố mình là
Hoàng đế của nước Nam Việt
(79)
.
Bởi Toàn thư đề cập đến cả Triệu Đà và Lý Bí, nên các học giả hiện đại cho rằng đây là một dấu
hiệu cho thấy một ý thức Việt Nam đã được khẳng định dưới sự ách cai trị của Trung Hoa. Người
Việt mong muốn độc lập và không bao giờ quên giai đoạn Triệu Đà thiết lập một vương quốc ở
khu vực này. Theo các học giả đó, những thông tin về vương quốc của Triệu Đà đã được truyền
miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác, và rồi ở thế kỉ VI, Lý Bí đã nhập vào kí ức bản địa này. Tuy
nhiên, xảy ra một vấn đề với ý tưởng này là có những người không thuộc khu vực Việt Nam
ngày nay cũng sử dụng khái niệm “Nam Việt/Yue” trong cùng giai đoạn, bằng cách đó nó chất
vấn ý tưởng rằng có những kí ức được chia sẻ chỉ hạn chế trong phạm vi “nhân dân” ở Đồng
bằng sông Hồng.
Chẳng hạn, ở thế kỉ VII, một người có tên là Lâm Sĩ Hồng nổi lên qua những vị trí của một
nhóm người nổi loạn ở khu vực ngày nay thuộc tỉnh Giang Tây ở Trung Hoa, và cuối cùng lãnh
đạo nhóm này đánh bại một đội quân được nhà Tuỳ gửi đến để dẹp loạn. Sau đó Lâm Sĩ Hồng đã
tự xưng là Vua của nước Nam Việt. Không lâu sau đó, ông tự xưng là Hoàng đế và đặt tên nước
là Chu (Sở)
(80)

trong các văn bản thành văn để chỉ người dân ở khu vực này. Kết quả là, ở một vài thời điểm khi
một số trong các nhân vật này cố gắng kiến tạo không gian chính trị của riêng mình, họ sử dụng
khái niệm này để chỉ rõ vị trí của họ trong một thế giới rộng lớn hơn. Tuy nhiên, không có chứng
cứ cho thấy những người dân bản địa phi-Hán hóa thực sự sử dụng khái niệm “Việt/Yue”, hay
cho thấy rằng việc sử dụng thuật ngữ này của giới tinh hoa Hán hóa có nghĩa là nó lôi cuốn
những người dân làm như vậy.
Từ những khởi đầu này ở thiên niên kỉ đầu sau CN, khái niệm “Việt/Yue” – với tư cách một khái
niệm được sử dụng trong các quốc hiệu được tạo ra bởi người Trung Hoa thời Hán hay những
người ít nhất có một phần dòng máu Hán Trung Hoa ở khu vực ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đông
và Bắc Việt – rồi sẽ được đẩy lên bởi giới tinh hoa Hán hóa ở Đồng bằng sông Hồng vào những
thế kỉ đầu của thiên niên kỉ thứ hai sau CN nhằm đặc chỉ khu vực dưới quyền kiểm soát của họ.
Ở đây một lần nữa, chứng cớ văn bản đã gợi ý rằng khái niệm này vẫn được sử dụng trong một
cảm quan chính trị chủ đạo để cho thấy sự nghiệp của [các] triều đại. Thực vậy, bài tựa Liệt
truyện cho chúng ta một cảm giác như vậy. Tôi đã trích dẫn một số trong những thông tin này ở
trên. Tiếp theo là toàn bộ đoạn văn mở đầu của bài tựa đó:
“Mặc dù Quế Hải nằm ở [khu vực] Lĩnh Nam, nhưng kì công của những núi non và sông suối, sự
linh thiêng của đất, sự anh hùng của con người nơi đây, và những việc kì lạ thiêng liêng đều có
thể tìm thấy ở đây
(82)
. Từ trước thời Xuân Thu và Chiến Quốc (722 – 221 trước CN), không xa
thời thái cổ, phong tục phương Nam vẫn còn giản phác. Chưa có sử sách gì của vương quốc để
ghi chép các sự kiện. Vì vậy, [nhiều thông tin về] hầu hết các sự kiện đã bị mất mát. Những điều
may mắn tiếp tục còn tồn tại và không bị huỷ hoại là do những sự lưu truyền bằng miệng của
nhân dân. Rồi trong thời Lưỡng Hán, thời Tam Quốc và vào thời Đông Tấn, Tây Tấn, Nam Bắc
Triều, rồi đến thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, rốt cuộc mới có các sách sử ghi chép các việc,
như sáchLĩnh Nam chí, Giao Quảng chí, An Nam chí lược, Giao Chỉ chí lược,… tất cả mới có thể
tham khảo được
(83)
. Tuy nhiên, đất Việt ta là vùng đất hoang dã từ xưa. Vì vậy, những ghi chép về
nó còn sơ lược. Tuy nhiên, vương quốc ở đây bắt đầu với các vua Hùng. Dòng suối văn minh dần

“Hán tâm”. Liệt truyện khẳng định nó đang cung cấp thông tin về vùng “Quế Hải”, một khái
niệm Trung Hoa để chỉ các vùng ven biển ở khu vực ngày nay thuộc miền Nam Trung Hoa và
Bắc Việt Nam, tức là vùng “Lĩnh Nam” men theo những đường biên phía Nam của khu vực ngày
nay thuộc các tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông. Nó là một khu vực vốn là một phần của “những
vùng hoang dại xa xôi” [yêu hoang], một khái niệm địa lí mang tính Hán-tâm có từ thiên niên kỉ
đầu trước CN và được dùng để chỉ những vùng đất rất xa xôi so với kinh đô của đế chế. Và rồi
khi khu vực này trải qua các triều đại Trung Hoa (từ Hán đến Minh), nó được hợp thức thông qua
sản phẩm của các văn bản viết về khu vực này được thực hiện bởi các tác giả Trung Hoa. Quá
trình này sau đó được làm sâu sắc thêm dưới triều Lý và Trần như là một sự truyền bá của “văn
minh” [văn minh], bằng điều được ngụ ý là toàn bộ danh mục các văn bản và những lời giáo
huấn được liên kết với truyền thống học thuật Trung Hoa, được duy trì một cách đầy đủ.
Do đó, từ đoạn văn này, chúng ta có thể có nhận thấy rằng người Việt Nam có học ở thời trung
đại hẳn phải kiểm tra những văn bản Trung Hoa hiện có [lúc bấy giờ] và nhận thấy rằng thông tin
về khu vực của họ trong tương quan với thế giới đã phát triển dần dần qua nhiều thời đại. Họ
dùng các thông tin này để cung cấp những chứng cớ trên văn bản về khu vực họ sống đặt trong
một thế giới rộng lớn hơn. Tự hào về triều đại hiện tồn của Ngã Việt, họ liền phóng chiếu sự tồn
tại của nó vào quá khứ bằng cách kiến tạo ra một “quốc thống” cho sự kế tục về chính trị từ các
vua Hùng qua Triệu Đà đến các triều đại ngắn ngủi khác nhau của thế kỉ thứ X, và cuối cùng là
đến triều Lý và Trần. Điều này rõ ràng là một hành động kiến tạo, vì sự phân tích văn bản đối
với Hồng Bàng thị truyện ở trên đã chỉ ra, không có các vua Hùng trong thực tế. Hơn nữa, có
những vương quốc Nam Việt khác trong khu vực bên cạnh [nước Nam Việt] của Triệu Đà. Việc
lựa chọn nước Nam Việt của Triệu Đà, thay vì Lý Bí hay Lâm Sĩ Hồng, là một quyết định tùy
tiện trong quá trình kiến tạo này.
“Bước ngoặt địa phương”
Khao khát muốn đồng nhất [mình] với các tập đoàn chính trị địa phương và dùng các văn bản để
kiến tạo một cảm quan về tầm quan trọng cho khu vực này ở một bộ phận của giới tinh hoa
người Việt thời trung đại cũng được phản chiếu trong nhiều khu vực của đế chế Trung Hoa ở hầu
như cùng thời điểm. Các học giả của thời nhà Tống đã cho rằng sự biến đổi chủ yếu xảy ra trong
giai đoạn này là giới tinh hoa chuyển sự tập trung từ địa hạt quốc gia sang phạm vi địa phương
riêng của họ. Đặc biệt hơn nữa, khi quyền kiểm soát chính trị của đế chế bắt đầu phân rã trong

Viêt [tức là 越]. Cũng giống như người Việt, có những học giả Quảng Đông đã trông vào các
nguồn tư liệu Trung Hoa sớm hơn để tìm kiếm thông tin lịch sử về tộc Việt/Yue, trong đó nó
được viết với chữ “粵” hoặc “越”.
Một ví dụ về hiện tượng này là cuốn Bách Việt tiên hiền chí của Âu Đại Nhâm. Một người bản
xứ tại Quảng Đông là Âu Đại Nhậm đã sưu tầm các thông tin lịch sử về nhiều thành viên khác
nhau của Bách Việt, những người mà ông cho là “đáng kính trọng” [hiền]. Phần lớn những người
có mặt trong cuốn sách này đều sống ở khu vực Quảng Đông ngày nay, nhưng cũng có những
người không sống ở đó. Trong số đó có Sĩ Nhiếp, một Thái thú người Trung Hoa đã cai trị Bắc
Việt Nam vào thế kỉ III sau CN và là người mà Ngô Sĩ Liên tôn xưng là “vương” trong Toàn
thư vì những đóng góp của ông cho khu vực này, đặc biệt là những nỗ lực được ghi nhận của ông
trong việc dạy chữ Hán cổ [cho người Việt]
(89)
.
Một ví dụ khác về một văn bản xuất xứ từ Quảng Đông có dùng một số chất liệu cùng nguồn như
người Việt từng dùng là cuốn Quảng Đông tân ngữ của Khuất Đại Quân (1630 – 1696). Công
trình này là một cuốn “loại thư” bao hàm nhiều chủ đề được viết từ lâu bởi hoặc người Trung
Hoa từ thiên niên kỉ đầu trước CN cho đến ít nhất là thời Tống, hoặc bởi một người Quảng Đông
sau đó. Một chủ đề có liên quan đến những phụ nữ Việt/Yue. Ở đây, Quảng Đông tân ngữ thừa
nhận rằng chị em bà Trưng là những người phụ nữ Việt đầu tiên nổi tiếng, nhưng cho rằng điều
đó phụ thuộc vào sự mới mẻ của việc họ đã “tiếm” vương hiệu cho riêng mình, một việc mà
những người phụ nữ khác chưa từng làm trước đó. Rồi nó tiếp tục đề cập đến Bà Triệu, một
chiến binh nữ của thế kỉ III, sống ở một nơi nào đó trong khu vực ngày nay thuộc miền Trung
Việt Nam và là người đã cưỡi voi ra trận với hai vú dài vắt qua vai. Tuy nhiên, Quảng Đông tân
ngữbàn luận sơ sài về bà khi đơn thuần [coi bà] chỉ như một “tên cướp dũng cảm”
(90)
.
Thừa nhận nhưng lại hạ thấp vai trò quan trọng của những người phụ nữ đó, những người là
trung tâm của lịch sử Việt Nam ngày nay, sau đó Quảng Đông tân ngữ tiếp tục cho rằng có
những người phụ nữ Việt/Yue ở khu vực này trong quá khứ còn nổi tiếng hơn họ, ví như hai
người con gái của tộc Tiễn ở Quảng Đông. Một trong hai người này xuất hiện trước hai bà Trưng

chứng cớ nào cho thấy rằng các học giả Việt Nam trung đại biết về trống đồng hay những nhóm
người khác đã sử dụng chúng [ở thời trung đại]. Đó là một truyền thống được kiến tạo ở thế kỉ
XX. Tuy nhiên, những gì mà giới tinh hoa Hán hoá thời trung đại thực sự biết là những văn bản
cổ, và họ dựa vào những văn bản xưa cũ ấy để lấy chất liệu và cảm hứng nhằm kiến tạo một lịch
sử cũng như một bản sắc bản địa cho bản thân mình.
Giới tinh hoa Hán hoá ở Đồng bằng sông Hồng không đơn độc khi làm như vậy. Các học giả ở
khu vực thuộc đế chế Trung Hoa, như Tứ Xuyên và Quảng Đông, cũng tham gia vào những việc
làm tương tự ở những thời điểm tương tự. Đều kinh qua khu vực này trong hầu như cùng một
giai đoạn, các học giả ngoảnh nhìn và hứng thú với những vùng đất địa phương của mình. Họ tạo
ra những trước tác về các địa phương của họ, như các truyện chí quái, bằng cách khảo xét những
gì đã từng được viết về khu vực của họ [trong quá khứ]. Trong quá trình này, họ đóng góp cho
việc sáng tạo ra một bản sắc địa phương. Cuối cùng, cái dự án vốn được bắt đầu bởi giới tinh hoa
Hán hoá thời trung đại được [người] Việt Nam ngày nay dựa vào để phát triển xa hơn cả. Trải
qua nhiều thế kỉ, những truyền thống họ kiến tạo ra trở thành tự nhiên thứ hai. Thực vậy, trải nửa
thế kỉ qua, dưới sự chi phối của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam, những truyền thống được kiến tạo
của giới tinh hoa Hán hoá thời trung đại này giờ đây đã trở thành những chân lí không thể thay
đổi. Trong khi đó, ẩn ý trong lời nhận xét của Lê Quý Đôn – rằng Liệt truyện, nguồn tư liệu
chính yếu của những truyền thống được kiến tạo ấy, đã vay mượn “nhiều không thể kể xiết”
những văn bản khác – đã bị cố tình bỏ qua.

LIAM C KELLEY là Phó Giáo sư về Lịch sử Đông Nam Á ở Đại học Hawai’I at Manoa. Tác giả
muốn tỏ lời cảm ơn đến những nhà phê bình ẩn danh, Tạ Chí Đại Trường [Source: Journal of
Vietnamese Studies, Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), pp. 139-162] và Keith Taylor vì những góp ý
và sự sáng suốt của họ.

Tóm tắt
Bài viết này khảo sát có phê phán tác phẩm có tên Hồng Bàng thị truyện (Truyện về họ Hồng
Bàng) trong một văn bản ở thế kỉ XV, cuốn Lĩnh Nam chích quái liệt truyện.Truyện này là nguồn
tư liệu cho thông tin lịch sử về các vua Hùng. Các học giả lâu nay đã cho rằng thông tin này
được truyền miệng từ thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên cho đến khi rốt cuộc nó được

10.
6. Về thông tin cơ bản về Liệt truyện, xem Trần Nghĩa, bs., Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt
Nam, tập 1 (Hà Nội: Thế Giới, 1997), 145 – 152; Taylor, The Birth of Vietnam, 344 – 357; and
Émile Gaspardone, “Bibliographie Annamite” [Thư mục Việt Nam], Bulletin de l’École
Française d’Extrême-Orient 34(1934): 128 – 130.
7. Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Chép tay: A.1200 (từ đây gọi tắt là LNCQLT). Chương
/trang: 1/8a.
8. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, (1977). Chương /trang: 4/3b.
9. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 2 (Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1992), 192.
10. LNCQLT, 1/9b.
10. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, 190
11. Chẳng hạn xem Hoàng Hưng, “Giá trị của tư liệu về Hùng vương trong ‘Việt điện u linh’ và
‘Lĩnh Nam chích quái’” trong Hùng vương dựng nước, tập 2, bs Song Mai (Hà Nội: Khoa Học
Xã Hội, 1972), 103 – 110.
12. LNCQLT, 1/7b.
13. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, 4/3b–4a. Trích dẫn là từ 4/3b
14. Quá trình kiến tạo một lịch sử cho đấy nước này của Việt Nam dân chủ cộng hoà được che
đậy cbởi Patricia Pelley trong cuốn sách của bà Postcolonial Vietnam: New Histories of the
National Past (Durham: Duke University Press, 2002).
15. Về ví dụ của quan điểm này, xem Trần Quốc Vượng, “Từ tư duy thần thoại đến tư duy lịch
sử” trong Hùng vương dựng nước, tập 3, bs Song Mai (Hà Nội: Khoa Học Xã Hội, 1973), 402 –
405.
18. Chẳng hạn, xem Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, Vănhọc dân gian. Tập 1 (Hà Nội: Đại
Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1972). Keith Taylor cũng lưu ý rằng “những truyền thống
huyền thoại [của người Việt]ư được chuyển thì mối tiếp xúc gần gũi với Trung Hoa”, nhưng ông
không kiểm tra những chi tiết về sự lưu truyền này. Xem See Tay lor, The Birth of Vietnam, xvii.
18. Về Trung Hoa, xem Chang-tai Hung, Going to the People: Chinese Intellectuals and Folk
Literature, 1918 – 1937 (Đến với nhân dân: Trí thức Trung Hoa và văn học dân gian, 1918 –
1937) (Cambridge: Council on East Asian Studies, Harvard University, 1985).
19. Đinh Gia Khánh and Chu Xuân Diên, Vănhọc dân gian, 9 – 10.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status