Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
PHẦN I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH
VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
I. Khái niệm cạnh tranh và khả năng cạnh tranh
1. Cạnh tranh
1.1.Khái niệm
Cạnh tranh xuất hiện từ khi có trao đổi hàng hoá, nhưng trong
hình thức trao đổi hàng hoá trực tiếp sẽ không phát huy cạnh tranh
mà cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện trao đổi thông qua vật
ngang giá là tiền.
Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển của nền
sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Theo Mác, cạnh tranh tư bản
chủ nghĩa là sự ganh đua, sự phấn đấu gay gắt giữa các nhà tư bản
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu
thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch. Nghiên cứu sâu về nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mỏc đó
phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy
luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó đã hình
thành nên hệ thống giá cả thị trường. Qui luật này dựa trờn sự
chênh lệch giữa giá trị và chi phí sản xuất và khả năng có thể bán
hàng hoá dưới giỏ trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận. Ngày
nay, nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một điều kiện và yếu tố
kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển,
tăng năng suất lao động và sự phát triển của xã hội nói chung.
Trang 1
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
Nh vậy, cạnh tranh là một qui luật khách quan của nền sản xuất
hàng hoá, nội dung cơ chế vận động của thị trường. Còn thị trường
cách tự nhiên giữa các ngành với khác nhau, kết quả hình
thành là tỷ suất lợi nhuận bình quân.
1.2.3.Căn cứ vào tính chất và mức độ cạnh tranh
Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh mà
thị trường có nhiều người bán và không có người nào có
ưu thế để cung cấp một số lượng sản phẩm khả dĩ ảnh
hưởng đến giá cả. Các doanh nghiệp chủ yếu giảm chi
phí và sản xuất một lượng sản phẩm giới hạn và tại đó
chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên.
Cạnh tranh không hoàn hảo: là cuộc cạnh tranh
trên thị trường mà phần lớn các sản phẩm không đồng
nhất với nhau. Mỗi sản phẩm có hình ảnh uy tín, nhãn
hiệu riêng mặc dù sự khác biệt sản phẩm là không đáng
kể. Các doanh nghiệp lôi kéo các khách hàng bằng nhiều
cách: quảng cáo, tiếp thị. Loại cạnh tranh rất phổ biến
trong giai đoạn hiện nay.
Cạnh tranh độc quyền: là cạnh tranh trên thị trường
ở đó có một số người bán sản phẩm thuần nhất hoặc
nhiều người bán một loại sản phẩm không đồng nhất. Họ
kiểm soát gần như toàn bộ lượng sản phẩm hay hàng hoá
bán ra. Cạnh tranh giữa các nhà độc quyền xảy ra trên thị
trường độc quyền. Điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi thị
trường độc quyền có nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn
hoặc do bí quyết công nghệ. Giá cả sản phẩm do một số
người bán toàn quyền quyết định.
Trang 3
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
2.Khả năng cạnh tranh:
Hiện nay, mét doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị
hàng phải tự tìm đến doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp hoạt động có lãi
thỡ nộp vào ngõn sách Nhà nước, ngược lại nếu doanh nghiệp bị thua lỗ
thì Nhà nước sẽ bù lỗ. Đây là cơ chế bị động nên doanh nghiệp không thể
khai thác hết các tiềm năng sẵn có. Các khái niệm về cạnh tranh và khả
năng cạnh tranh cao hầu như hoàn toàn xa lạ với doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp không phải cạnh tranh với nhau mà chỉ có khách hàng cạnh
tranh để mua hàng hoá.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự bung ra của hàng loạt các
loại hình doanh nghiệp thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà đặc biệt
khả năng cạnh tranh cao đã bắt đầu xuất hiện. Khả năng cạnh tranh cao
có vai trò quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà cũn cú vai trò
đối với người tiêu dùng cũng như nền kinh tế xã hội.
1. Đối với nền kinh tế quốc dân
Cạnh tranh cao có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển
của lực lượng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá
nền sản xuất xã hội.
Khả năng cạnh tranh cao là môi trường, động lực thúc đẩy sự phát
triển bình đẳng, cùng có lợi của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế
thị trường. Bất kể doanh nghiệp Nhà nước hay tư nhân, nơi nào tổ chức
tốt hoạt động có hiệu quả có khả năng cạnh tranh cao thì doanh nghiệp đó
sẽ phát triển, ngược lại khả năng cạnh tranh thấp, kém hiệu quả thì
doanh nghiệp sẽ tự rời bỏ, rút lui khỏi nền kinh tế thị trường. Khả năng
Trang 5
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
cạnh tranh cao đánh giá chính xác, đúng đắn năng lực cũng như hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty, xoá bỏ những độc quyền bất hợp
lý, xoá bỏ những bất bình đẳng trong kinh doanh.
Cạnh tranh cao góp phần gợi mở nhu cầu thông qua việc tạo ra nhiều
sản phẩm mới, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã
gắng, nỗ lực cao độ trong một quỏ trỡnh liên tục nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh. Cạnh tranh cao góp phần tăng tài sản vô hình – uy tín của
doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đứng vững tạo điều kiện cho sự phát
triển doanh nghiệp trong tương lai.
Do khả năng cạnh tranh cao sẽ tạo ra một áp lực liên tục đối với
doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, các dịch vụ kèm theo nờn
đó buộc doanh nghiệp phải nhanh nhạy, ứng xử phù hợp với nhu cầu thị
trường, thoả mãn một tốt nhất yêu cầu của người tiêu dùng. Các doanh
nghiệp phải luôn luôn quan tâm đến việc áp dụng những thành tựu của
khoa học kỹ thuật, cải tiến phương pháp quản lý và phương pháp hoạt
động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, hoàn thiện kênh phân phối
sản phẩm làm không ngừng nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với
khách hàng, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững.
3. Đối với người tiêu dùng:
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng là người quyết định và có
quyền lực tối cao trong hành vi tiêu dùng. Người tiêu dùng có quyền tự
do lùa chọn sản phẩm tiêu dùng, mua ở đâu, số lượng bao nhiêu, khi
nào hoàn toàn theo ý muốn chủ quan. Họ không còn phụ thuộc vào
doanh nghiệp nh trước ki. Mà ngược lại, cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp ngày càng gay gắt, việc sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ
phong phú, đa dạng có chất lượng cao hơn với mức giá phù hợp luôn là
mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Cũng chính nhờ có khả năng cạnh
Trang 7
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
tranh cao mà người tiêu dùng thực sự được tôn trọng hơn, thúc đẩy và
nâng cao việc các doanh nghiệp đảm bảo, làm thoả mãn lợi Ých của
người mua hàng.
III. Các nhân tố ảnh hưởng khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp
xuất của doanh nghiệp tăng lên do phải trả tiền vay lớn,
do vậy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng bị
giảm đặc biệt đối với các đối thủ có tiềm lực mạnh về tài
chính.
Về tỷ giá hối đoái : khi tỷ giá hối đoái giảm, khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên cả trên thị
trường trong và ngoài nước vì giá bán của doanh nghiệp
thấp hơn các đối thủ cạnh tranh. Khi tỷ giá hối đoái tăng,
giá bán cao hơn đối thủ cạnh tranh và như vậy làm giảm
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.2. Các nhân tố chính trị, pháp luật:
Chính trị luật pháp là cơ sở nền tảng cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính trị ổn
định pháp luật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp khi tham gia có hiệu quả. Chẳng hạn, bất
kỳ sự ưu đãi về thuế suất xuất nhập khẩu cũng ảnh hưởng
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.3. Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ:
Trang 9
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
Nhóm nhân tố này tác động một cách quyết định
đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng cạnh tranh
của sản phẩm trên thị trường, đó là chất lượng và giá cả.
Khoa học công nghệ hiện đại sẽ làm cho chi phí cá biệt
của doanh nghiệp giảm, chất lượng sản phẩm chứa hàm
lượng khoa học công nghệ cao. Để sản xuất ra những sản
phẩm có chất lượng cao mà giá cả hợp lý, doanh nghiệp
chủ động trong việc ứng dụng các thành tựu khoa học
tiến tiến vào sản xuất: mua dây chuyền công nghệ mới,
phẩm cao hơn, hoặc dịch vụ nhiều hơn với giá giảm hơn.
Các nhà sản xuất đều mong muốn thoó món tốt nhất nhu
cầu của người tiêu dùng - điều đó gắn liền với tỷ lệ thị
phần mà doanh nghiệp dành và duy trì được. Vấn đề thị
hiếu và thu nhập của người tiêu dùng cũng tác động đáng
kể đến hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp: chủng
loại, kênh phân phối sản phẩm.
1.2.2. Các đối thủ cạnh tranh hiện tại và các đối thủ tiềm
Èn:
Đây là một trong những yếu tố tác động mạnh nhất
đến hoạt động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bởi vì, mỗi đối thủ đều mong muốn và tìm đủ mọi cách
để đáp ứng những đòi hỏi đa dạng của thị trường. Họ tận
dụng triệt để những lợi thế của doanh nghiệp mình, khai
thác những điểm yếu của đối thủ, tận dụng thời cơ chớp
nhoáng để giành thắng lợi trên thị trường. Điều đó đòi
hỏi một mặt doanh nghiệp phải ra sức củng cố và tạo
những thế mạnh mới của mình, mặt khác phải có kế
Trang 11
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
hoạch xây dựng các chiến lược phân tích thị trường, phân
tích về đối thủ cạnh tranh của mình, dự báo thị trường
một cách chuẩn xác. Bên cạnh đó phải xem xét khả năng
thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm Èn. Đó
là sự xuất hiện của các công ty mới tham gia vào thị
trường nhưng có khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh
thị trường (thị phần) của công ty khác. Để hạn chế mối
đe doạ này, các nhà quản lý thị trường dựng lên các hàng
rào như:
nhm ỏp ng s bin ng ca nhu cu th trng theo
xu hng ngy cng tng, a dng, phong phỳ v cao cp
hn v chớnh nú lm gim kh nng cnh tranh ca cỏc
sn phm thay th. Khi gi c ca sn phm, dch v hin
ti tng lờn thỡ khỏch hng cú xu hng s dng sn
phm dch v thay th. õy l nhõn t e do s mt mỏt
v th trng ca Cụng ty. Cỏc cụng ty cnh tranh a ra
th trng nhng sn phm thay th cú kh nng khỏc
bit ho cao so vi sn phm ca cụng ty hoc to ra
Trang 13
Các đối thủ tiềm
năng
Ngời mua
Các đối thủ hiện
có
Ngời bán
Sản phẩm thay
thế
Nguy cơ đe doạ từ
những ngời mới vào
cuộc
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
các điều kiện ưu đãi hơn về các dịch vụ hay các điều
khoản về tài chính.
2. Nhân tố chủ quan:
2.1. Nguồn nhân lực:
Đõy chính là những người tạo ra sản phẩm một cách trực tiếp
và gián tiếp. Đội ngò cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ là những
người quyết định các hoạt động sản xuất kinh doanh: Sản xuất cái
tăng.
IV. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh
Cỏc tiêu thức xác định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được
chia làm hai nhóm.
Nhóm về số lượng gồm có: giá thành, chi phớ,tỷ suất lợi nhuận, mức
sinh lời của vốn đầu tư.
Nhóm về chất lượng gồm có: nền văn hoá doanh nghiệp, chất lượng
phục vụ cho khách hàng, tính mềm dẻo và độ phản xạ thích nghi nhanh
nhạy của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh
Nền văn hoá doanh nghiệp là yếu tố cạnh tranh lâu dài cho sự sống
còn của doanh nghiệp. Cỏc tiờu thức về tài chính không phải là những
tiêu chuẩn duy nhất được nêu lên trước tiên mà các tiêu chuẩn khác như
vị trí doanh nghiệp trên thị trường, mức tăng trưởng của doanh nghiệp,
khả năng nghiên cứu và đổi mới còn quan trọng.Ngoài ra sự nắm bắt
được sự thay đổi của nhu cầu thị trường , chất lượng hàng hoá chất lượng
dịch vụ là những tiêu chuẩn hết sức cần thiết.
Kết quả tổng hợp đánh giá các tiêu chuẩn, đánh giá chất lượng cạnh
tranh của doanh nghiệp được phản ánh bằng qui mô tiêu thụ, vì vậy thị
phần mà doanh nghiệp có được coi là chỉ số tổng hợp đo lường cạnh
tranh của nó, để có sức cạnh tranh, mét doanh nghiệp phải giữ được bộ
Trang 15
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
phận có ý nghĩa kinh tế của thị trường, dự đú là thị trường địa phương,
quốc gia hay thế giới. Qua chỉ số đồng nhất này có thể đánh giá thành
tích của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh khác cũng như thắng lợi
giữa các đối thủ cạnh tranh của nhau.
Một số chỉ tiêu tổng hợp đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp
1. Thị phần của doanh nghiệp:
này đơn giản và dễ tính hơn, những thị phần mà doanh nghiệp mạnh
chiếm giữ thường là khu vực thị trường có lợi nhuận cao và rất có thể
doanh nghiệp cần chiếm lĩnh khu vực thị trường này. Đây cũng là cơ hội
để doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về những đối thủ cạnh tranh chủ yếu.
Chẳng hạn cỏc hóng sản xuất máy tính, phần mềm thường so sánh với
Công ty Microsoft gây áp lực cạnh tranh với công ty khổng lồ này.
Tuy nhiên chỉ tiêu này có hạn chế. Doanh thu của công ty là toàn bộ
kết quả hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của đơn vị chứ không phải
một lĩnh vực nào đó nên chỉ tiêu không phản ánh hết điểm mạnh, điểm
yếu của công ty. Vì vậy, để tìm hiểu chính xác đòi hỏi doanh nghiệp phải
đi sâu vào nhiều lĩnh vực khác nhau, mất nhiều công sức, chi phí và
không có tính thời điểm
3. Tỷ lệ lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận =
Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ kết
quả và hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ lúc bắt
Trang 17
Doanh thu cña doanh nghiÖp
Lîi nhuËn cña doanh nghiÖp
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn bị và quá trình sản xuất kinh
doanh cho đến tổ chức bán hàng và dịch vụ cho thị trường. Nó phản ánh
cả về chất và mặt lượng sự cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này
thấp thì mức độ cạnh tranh của thị trường rất gay gắt, có quá nhiều doanh
nghiệp trong thị trường này doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao
khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao tỷ suất lợi nhuận, ngược lại nếu chỉ
tiêu này cao thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mạnh. Doanh
nghiệp có thể phát huy lợi thế này và không ngừng đề phòng đối thủ cạnh
và mạng lưới giao thông đường thuỷ phát triển, nhu cầu về các sản phẩm
thuyền bơm hơi và áo phao rất lớn.
Hàng năm, đất nước ta phải chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai, lũ
lụt kéo dài, nhu cầu sử dụng các sản phẩm phục vụ công tác cứu hộ, cứu
nạn, an ninh quốc phòng là rất lớn và cấp thiết.
Thuyền bơm hơi được sử dụng rộng rãi nhờ những đặc tính ưu việt
sau:
- Dễ bảo quản – có thể bảo quản trong điều kiện môi trường bình
thường
- Dễ vận chuyển do hình dáng gọn nhẹ.
- Giá thành hạ - tính kinh tế cao
- Cơ động khi sử dụng ở nhiều vùng sông rạch, ven biển và giữa
các đảo.
- Tính ổn định và độ an toàn cao.
- Dễ điều khiển
- Lắp động cơ dễ dàng.
- Rada khó phát hiện.
Trang 19
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
- Dễ phát hiện và cũng dễ nguỵ trang nhờ sử dụng màu sắc thích
hợp ( tạo màu sắc)
- Dễ bảo hành – có thể bảo hành tại chỗ.
- Đầu tư sản xuất ban đầu nhỏ – do không cần nhiều thiết bị hiện
đại.
2. Thuyền bơm hơi và lĩnh vực sử dụng
Việt Nam cú trờn 3000 km đường bờ biển, mạng lưới giao thông
đường thuỷ phát triển. Trong sinh hoạt hàng ngày, nhu cầu sử dụng
thuyền đi lại của người dân cũng rất cao. Thuyền không chỉ là phương
tiện đi lại trên biển, sông hồ mà còn là phương tiện quan trọng trong
phục vụ du lịch như một phương tiện đa dạng, là sản phẩm trên nước tối
ưu cho khách du lịch.
2.2. Phục vụ giao thông
Các phương tiện thuỷ từ thời xa xưa vẫn coi trọng độ an toàn , nhất là
phương tiện đang hoạt động trong các vùng nước lạnh và mưa bão. Tất cả
các nước đều có qui định về an toàn giao thông đường thuỷ, không thể có
giấy phép hành nghề nếu trên tàu, thuyền không có phương tiện cứu sinh.
Trên thực tế đã có rất nhiều tai nạn thương tâm xảy ra do không có
thuyền cứu hộ hoặc do chất lượng thuyền không đáp ứng được trong các
hoàn cảnh khó khăn.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long với nhiều sông rạch, phương tiện chủ
yếu đi lại bằng thuyền, chủ yếu là thuyền gỗ trong khi thuyền gỗ có đặc
điểm là nhỏ, sức chở bé, việc điều khiển và bảo quản khó, độ cân bằng thấp,
độ ổn định nhỏ, nhất là khi đi lại trên sông lớn khi có sóng gió và khi thuyền
trang bị máy lớn, tốc độ cao.
Thuyền bơm hơi khắc phục được nhược điểm trên nhờ tính cơ động, bảo
quản dễ và độ ổn định cao.Thuyền bơm hơi có tỉ trọng nhỏ nhưng lại có tải
Trang 21
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
trọng lớn và đặc biệt cân bằng nên việc dùng để chở hàng là thuận tiện, nhất
là những nơi cú vựng kờnh rạch nhỏ, hồ suối.
2.3.Phương tiện chống bão lụt
Ngày nay với sự biến đổi khí hậu khôn lường, không nước nào nằm
ngoài ảnh hưởng của bão lụt. ở nước ta, mét trong các nước bị ảnh hưởng
của bão lụt nhiều nên Chính phủ đã thành lập một Uỷ ban riêng phụ trách
về chống bão lụt. Ngân sách hàng năm cho việc chống bão lụt cũng
không nhá. Ý tưởng của chính sách sống chung với lũ lụt của Chính phủ
mở ra nhu cầu sử dụng thuyền bơm hơi rộng lớn. Sản xuất thuyền bơm
hơi có thể trở thành một dự án quốc gia và là một sức mạnh ứng dụng, có
quân cơ động qua những nơi mà xe cơ giới không qua được
hoặc gặp gián đoạn về địa hình hay thác ghềnh.
- Các đội tuần tra ven biển của Hải quõn,cảnh sỏt biển, cảnh sát
thuỷ.
- Phục vụ hải đảo
- Thuyền đổ bộ
- Thuyền tập kích ( có những nước tập trận đổ bộ một lúc 300
thuyền loại 12 người mà vẫn đảm bảo bí mật)
- Thuyền cứu thương, bệnh viện nổi di động.
- Thuyền chở biệt kích hoặc thuyền chở thuốc nổ, tự động điều
khiển do rada khó phát hiện nên tiếp cận tàu địch dễ dàng
- Thuyền rà phá bom mỡn trờn sông, hồ và ven biển.
Với địa hình dài và nhỏ, với sông ngòi ngang dọc,địa hình hiểm trở,
thuyền bơm hơi là một phương tiện hành quân rất ưu việt cho bộ đội
trong mọi tình huống. Thuyền và sản phẩm bơm hơi còn phục vụ cho
Trang 23
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
quốc phòng trên rất nhiều lĩnh vực. Trước kia quân đội Việt Nam nhập
xuồng cao su từ Liờn Xụ. Loại thuyền này rất khó bảo quản, tuổi thọ lại
kém. Tuy nhiên nguồn hàng này hiện nay cũng không còn. Thuyền bơm
hơi do Công ty Cổ phần Thanh Quang đang sản xuất có nhiều ưu việt về
kỹ thuật và kiểu dáng, nhất là vật liệu. Việc sản xuất loại thuyền này tại
Việt Nam sẽ cung cấp cho Bộ Quốc Phòng các sản phẩm đạt tiêu chuẩn
quốc tế với chất lượng hàng xuất khẩu, góp phần vào công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước.
Trang 24
Trần Thị Quỳnh Hoa Luận văn tốt
nghiệp
PHẦN II