ĐẶT VẤN ĐỀ
Với sự phát triển của Y học hiện đại, nhiều trang thiết bị, máy móc tân
tiến được áp dụng trong khám, chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh tật đã
mang lại cuộc sống, nâng cao sức khỏe và chất lượng sống cho con người.
Tuy nhiên, trong quá trình chăm sóc, điều trị người bệnh, nhiều thầy thuốc và
NVYT thường xuyên làm việc trong môi trường độc hại ảnh hưởng đến sức
khoẻ, trong đó ngoài việc thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại
họ còn phải đương đầu với một số bệnh có khả năng lây truyền do tiếp xúc
trực tiếp với chất thải của người bệnh, rác thải y tế hoặc những tai nạn trong
quá trình tiến hành các thủ thuật, phẫu thuật…đó chính là những nguồn lây
bệnh, mối nguy cơ phơi nhiễm hoặc bị bệnh lây truyền trong nghề nghiệp như
nhiễm lao, nhiễm HIV, nhiễm HBV hoặc HCV [30],[31],[32].
Trong những năm gần đây, NVYT ngày càng có nguy cơ cao phơi nhiễm
nghề nghiệp HIV trong khi tiến hành các hoạt động xét nghiệm, điều trị và
chăm sóc bệnh nhân [trích 2], [8]. Báo cáo của Cục phòng chống AIDS Việt
Nam, tính đến tháng 6 năm 2005, trên toàn quốc đã có 975 trường hợp NVYT
được báo cáo bị phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV. Tại Bệnh viện Bạch Mai
(Hà Nội) trong năm 2001 có tới 67,1% NVYT báo cáo ít nhất có 1 lần phơi
nhiễm với HIV trong thời gian làm việc tại bệnh viện [trích 2].
Các tình huống dẫn đến hành vi gây phơi nhiễm HIV trong ngành y tế
thường là do sơ ý trong tiêm truyền, trong lấy máu làm xét nghiệm, làm các
thủ thuật, phẫu thuật vì vậy, đối tượng dễ bị phơi nhiễm HIV trong ngành y
tế thường là điều dưỡng trực tiếp chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân
HIV/AIDS, nhân viên trong kíp mổ, nhân viên y tế làm việc tại các khoa cấp
cứu và điều trị tích cực, nhân viên khoa xét nghiệm, khoa giải phẫu bệnh hoặc
bác sĩ nội khoa khi làm thủ thuật cho bệnh nhân HIV/AIDS.
1
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là một trong những cơ sở Y
tế hiện đại, nơi tiếp nhận, khám và điều trị bệnh cho nhân dân địa phương và
đồng bào các dân tộc thuộc miền núi phía Bắc. Là Bệnh viện hạng I, gồm
nhiều chuyên khoa với quy mô khoảng 800 giường bệnh và gần 900 cán bộ,
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình đại dịch HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới: Đại dịch HIV/AIDS xuất hiện từ đầu thập kỷ 80 và đã
nhanh chóng lan rộng khắp thế giới. Theo tổ chức Y tế thế giới ước tính mỗi
ngày có thêm 14.000 người nhiễm HIV và hiện nay trên thế giới có trên 42
triệu người nhiễm HIV đó người lớn là 38,6 triệu người (phụ nữ 19,2 triệu, trẻ
em dưới 15 tuổi là 3,2 triệu người).Tính đến cuối năm 2008, số người nhiễm
HIV/AIDS đang sống trên thế giới tiếp tục gia tăng và đạt con số 33,4 triệu
người (dao động trong khoảng từ 31,1 triệu đến 35,8 triệu), tăng 20,00% so
với năm 2000 và hiện tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ước tính cao gấp 3 lần năm
1990. Tính từ đầu vụ dịch (từ năm 1981) đến nay đã có khoảng 60 triệu người
trên hành tinh nhiễm HIV, trong đó có khoảng 25 triệu người đã chết do các
bệnh có liên quan đến AIDS [2], [21].
HIV/AIDS đã bắt đầu chuyển trọng điểm từ Châu Phi sang Nam
Á và Đông Nam Á. Đông Nam Á là khu vực mà hiện nay và trong những
thập kỷ tiếp theo có tốc độ phát triển kinh tế, thương mại, du lịch nhanh.
Đồng thời quá trình đô thị hoá, phân hoá giàu nghèo, sự gia tăng tệ nạn
xã hội, nhất là tệ nạn mại dâm mà phụ nữ và trẻ em là hai đối tượng ít có
khả năng tự bảo vệ thì HIV sẽ còn gia tăng. Đặc biệt nghiêm trọng hơn, vùng
Đông Nam Á chịu ảnh hưởng nhiều của vị trí địa lý bởi có nhiều nước nằm
gần “Tam giác vàng” nơi sản xuất ra Heroin. Trong những năm đầu của thế
kỷ 21 khu vực này sẽ phải đương đầu khốc liệt với nạn buôn bán, vận chuyển
và sử dụng ma tuý, một nguyên nhân quan trọng góp phần làm lây truyền
HIV/AIDS. Tuy nhiên, ở các châu lục, dịch HIV/AIDS đang diễn biến phức
tạp với hậu quả khó lường hết được [3]
4
1.1.2. Tại Việt nam: Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện
vào năm 1990, đến nay số người nhiễm HIV ở nước ta tăng lên nhanh chóng.
HIV, sự lây truyền xảy ra qua giao hợp dương vật - âm đạo từ nam sang nữ và
từ nữ sang nam, HIV lây truyền qua đường hậu môn - dương vật ở những
người đồng tính luyến ái. Qua những vết sước nhỏ, mắt thường không thể
nhìn thấy được, trên bề mặt của lớp niêm mạc âm đạo, dương vật hay hậu
môn, xảy ra trong lúc giao hợp, đó là đường vào của virus HIV rồi từ đó vào
máu [8], [14], [22].
- Qua đường máu: HIV lây truyền qua đường máu hay các sản phẩm của
máu chiếm tỷ lệ cao nhất trong các yếu tố nguy cơ (90.00%). Sử dụng chung
bơm kim tiêm bị nhiễm HIV, hay gặp ở những người tiêm chích ma tuý. Các
dụng cụ y tế không tiệt trùng cẩn thận khi tiêm, truyền cũng góp phần lây
truyền HIV qua đường máu, cách lây truyền này cũng giống như lây truyền
viêm gan B [14], [17], [23].
- Lây truyền HIV từ mẹ sang con: Các nghiên cứu cho thấy sự lây truyền
HIV từ mẹ sang con có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai, trong cuộc đẻ và
ngay cả trong thời kỳ khi bú sữa mẹ. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
lây từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai: 5.00%, trong cuộc đẻ: 15.00%,và
trong thời kỳ bú sữa mẹ: 20.00 - 30.00% [1], [5].
1.2.2. Phơi nhiễm nghề nghiệp HIV/AIDS đối với NVYT.
Phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV là các tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch
cơ thể có thể có chứa HIV trong quá trình chăm sóc, chẩn đoán, điều trị bệnh
nhân (qua da bị tổn thương do kim tiêm hoặc vật sắc nhọn, qua da, niêm mạc
bị trầy xước, loét, nhiễm trùng hoặc với da lành trên diện rộng hoặc trong
thời gian dài) [9], [11].
6
Hình thức phơi nhiễm: Hình thức phơi nhiễm được phân thành 2 nhóm
chính như sau:
- Nhóm da bị tổn thương do kim đâm hoặc do vật sắc nhọn:
Theo ước tính của trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (năm 2000)
trong các tổn thương da xảy ra trong các NVYT mỗi năm thì 61,00% là tổn
thương có liên quan đến kim tiêm (là loại tổn thương thường gặp nhất). Trong
Nhiễm HIV cũng như một số tác nhân gây bệnh đường máu khác như
virus viêm gan B, viêm gan C bệnh có thể lây truyền tại cơ sở y tế từ bệnh
nhân sang NVYT, từ bệnh nhân sang bệnh nhân, hoặc từ NVYT sang bệnh
nhân. Nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ngày càng gia tăng và trở thành gánh
nặng cho ngành y tế, phơi nhiễm HIV là một trong 3 phơi nhiễm thường xảy
ra nhất (HIV, HBV, HCV) cho NVYT trong quá trình chăm sóc bệnh nhân.
Nhiều NVYT lo sợ bị lây nhiễm HIV khi chăm sóc cho bệnh nhân, tuy nhiên
trên thực tế, nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B và virus viêm gan C cao hơn
nhiều. Nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B sau một lần bị kim tiêm đâm là
30,00%, đối với virus viêm gan C là 1,80 - 10,00% , trong khi đó đối với HIV
là 0,30% và tỷ lệ nguy cơ lây nhiễm HIV qua màng nhầy chỉ khoảng 0,09%
[26], [28], [42]. Năm 1996, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Bệnh
của Hoa Kỳ (CDC) cho biết: trong 51 báo cáo và 108 trường hợp NVYT tiếp
xúc với HIV thì nguy cơ nhiễm HIV sau khi tiếp xúc qua da với máu từ bệnh
nhân nhiễm HIV thì ước tính nguy cơ phơi nhiễm cũng khoảng 0,30% [39].
Nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ngày càng gia tăng và trở thành gánh nặng
cho nghành y tế. Phơi nhiễm HIV là một trong 3 phơi nhiễm thường xảy ra
nhất (HIV, HBV, HCV) cho NVYT trong quá trình chăm sóc bệnh nhân.
8
Tại Hoa Kỳ, ước tính mỗi năm có khoảng 385.000 thương tích do kim
tiêm hoặc vật sắc nhọn xảy ra với NVYT làm việc trong bệnh viện và các cơ
sở y tế, tương đương với 1.000 thương tích xảy ra mỗi ngày. Tuy nhiên, số
thương tích xảy ra cho các NVYT trên thực tế còn cao hơn rất nhiều, một số
nghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 40,00 - 70,00% các thương tích xảy ra
đối với NVYT trong quá trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân mà không được
báo cáo [34], [47], [48]. Trường hợp NVYT đầu tiên nhiễm HIV nghề nghiệp
do bị kim tiêm đâm được phát hiện vào năm 1986, đến tháng 6 năm 1995
trong tổng số 143 trường hợp nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV được
báo cáo thì có tới 46 NVYT có huyết thanh dương tính với HIV sau phơi
nhiễm. Theo báo cáo của CDC, đến tháng 12 năm 2001 có 57 trường hợp
Kỹ thuật viên, trợ lý cấp cứu 12 0
Kỹ thuật viên chạy thận nhân tạo 3 1
Kỹ thuật viên trợ lý phòng cấp cứu 12 0
Tổng 112 55
Trong số 55 trường hợp lây nhiễm HIV nghề nghiệp được báo cáo, có tới
50 trường hợp phơi nhiễm qua da (90,90%), 03 trường hợp phơi nhiễm qua
niêm mạc (5,46%) và 02 trường hợp không rõ đường phơi nhiễm (3,64%).
Tại Ấn Độ, theo nghiên cứu hồi cứu của Aggarwal. V, Seth.A tại một
Bệnh viện thực hành về thực trạng việc tiếp xúc với máu và chất dịch cơ thể
của NVYT. Kết quả cho thấy có 103 NVYT có nguy cơ phơi nhiễm HIV do
tiếp xúc nghề nghiệp với máu và dịch thể của bệnh nhân, trong đó bác sỹ
chiếm 69,90%, điều dưỡng viên chiếm 19,40% và hộ lý 10,60% là . Các tình
huống tiếp xúc với dịch thể của bệnh nhân 48,00% , thu hồi vật sắc nhọn
16,00%, xử lý dụng cụ sắc nhọn 29,01% và những tai biễn trong phẫu thuật
6,90%. Nguyên nhân phơi nhiễm: do không tuân thủ các biện pháp phòng
ngừa phổ quát 74,30% là. Tác giả đã kết luận việc không tuân thủ các biện
10
pháp phòng ngừa phổ quát bao gồm cả sử lý chất thải không đúng cách là
nguyên nhân cho phần lớn các tiếp xúc nghề nghiệp. NVYT cần phải có kiến
thức liên quan đến quản lý chất thải bệnh viện, quản lý tiếp xúc nghề nghiệp,
cần thiết điều trị dự phòng và tiếp tục theo dõi sau phơi nhiễm [18].
Năm 2007, Samir A Singru đã nghiên cứu tai nạn phơi nhiễm nghề
nghiệp trên nhân viên chăm sóc sức khỏe, kết quả cho thấy cơ tới 92,21%
trường hợp phơi nhiễm là do chấn thương với kim và vật sắc nhọn và chỉ có
7,79% do tiếp xúc với mấu/dịch thể của bệnh nhân. Vị trí tiếp xúc của nhân
viên y tế phổ biến là ở tay: 61,06%, trong đó tiếp xúc ở ngón tay cái chiếm
31,15%, cánh tay là 5,75%, niêm mạc miệng và kết mạc mắt 1,23%, ở chân
chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp là 0,82% [46].
Nghiên cứu của Carol M (1988-1989) nhằm đánh giá tình huống phơi
nhiễm y tế với HIV. Kết quả cho thấy phơi nhiễm do tình cờ tiếp xúc với
Những con số này cho thấy: Nhiễm HIV mới hàng năm có xu hướng gia tăng,
những năm gần đây công tác phòng chống HIV/AIDS đã có tác động tích cực,
bằng các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông về sự nguy hiểm của căn
bệnh và cách phòng tránh cho cộng đồng, tăng cường các biện pháp can thiệp
nhằm giảm thiểu sự gia tăng nhiễm HIV, thực hiện các giải pháp chuyên môn
kỹ thuật, tăng cường sự tiếp cận của người nhiễm HIV với các dịch vụ chăm
sóc số nhiễm mới đã giảm dần từng năm. Tính riêng 9 tháng đầu năm 2010
số nhiễm mới là 9.128 người, số AIDS là 1.498 người, số tử vong là 1.498
người. (Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương có số nhiễm cao nhất).
Phân tích hình thái lây nhiễm cho thấy, trong số người phát hiện nhiễm mới:
49% nhiễm qua đường máu, 38% nhiễm qua đường tình dục, 3% qua đường
mẹ con, 10% không rõ đường lây. Tỷ lệ người nhiễm ở nam là 70,8% và nữ
12
chiếm 29,2%. Phần lớn là ở nhóm tuổi 20 – 39 (80%), trẻ em dưới 15 tuổi
chiếm gần 3% [3].
Tình hình dịch HIV tại Việt Nam cho thấy NVYT là đối tượng có nguy
cơ cao lây nhiễm HIV do nghề nghiệp ngày càng được quan tâm. Tính đến
tháng 6 năm 2005, trên toàn quốc có 975 trường hợp phơi nhiễm HIV/AIDS
nghề nghiệp, trong đó 764 trường hợp là NVYT. Riêng 6 tháng đầu năm
2005, trên toàn quốc có 7 trường hợp được báo cáo phơi nhiễm với HIV, đến
cuối năm 2005 số NVYT phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV/AIDS đã lên tới
938 người. Tuy nhiên số NVYT nguy cơ phơi nhiễm với HIV khá cao ở một
số cơ sở y tế như: 63 trường hợp trong năm 2003 tại bệnh viện Bạch Mai, 27
trường hợp trong giai đoạn 2000-2002 tại bệnh viện Chợ Rẫy, 14 trường hợp
trong năm 2004 tại bệnh viên đa khoa Cần Thơ [trích 2].
Hầu hết các trường hợp NVYT nguy cơ phơi nhiễm với HIV trong khi
chăm sóc bệnh nhân như bị kim tiêm kim khâu đâm vào tay, bị dao mổ làm
rách da, bị máu bắn vào niêm mạc mắt Các điều tra về đối tượng NVYT bị
phơi nhiễm nghề nghiệp tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2000 cho thấy: điều
dưỡng viên là 34,00% , Bác sỹ nội khoa 32,00%, phẫu thuật viên 53,00%,
Da liễu, khoa Huyết học Tuy nhiên số cán bộ giảng dạy và sinh viên báo
cáo trực tiếp hoặc gián tiếp với lãnh đạo hoặc những người có trách nhiệm về
tai nạn nghề nghiệp này lại chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 18,00%) nên con số báo
cáo về các trường hợp tai nạn nghề nghiệp với HIV chắc chắn thấp hơn con số
thực tế nhiều lần [ trích 2].
14
1.2.3. Hiểu biết và thực hành dự phòng phơi nhiễm HIV/AIDS nghề
nghiệp của sinh viên y và NVYT.
Theo kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo tại 8 trường Đại học Y trên toàn
quốc do trường Đại học Y Hà Nội tiến hành năm 2005, số cán bộ giảng dạy
và sinh viênY đã từng tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch tiết mà lo lắng có
nguy cơ phơi nhiễm HIV chiếm tỷ lệ kkhá cao (37,00% - 59,50%). Hầu hết
các NVYT được điều tra đều chưa có hiểu biết một cách đầy đủ đối với các
kiến thức cơ bản về HIV/AIDS, chỉ có chưa tới 1/3 số cán bộ giảng dạy và
sinh viên Y nêu đúng các phương cách xét nghiệm HIV/AIDS. Có tới 3,80%-
16,80% cán bộ giảng dạy cho rằng nước bọt, nước tiểu, mồ hôi có nguy cơ
cao lây nhiễm HIV. Đặc biệt số người nêu đúng và đủ các giai đoạn lâm sàng
nhiễm HIV/AIDS cũng như kiến thức về nhóm thuốc kháng virus chiếm tỷ lệ
thấp. Bên cạnh đó NVYT cũng chưa hiểu rõ các quy định chuyên môn về
quản lý người nhiễm HIV, dự phòng phổ cập, hạn chế trong thực hiện các
thao tác an toàn tránh tai nạn nghề nghiệp và sử dụng trang bị bảo hộ lao
động, né tránh bệnh nhân HIV/AIDS nhưng chủ quan khi chăm sóc điều trị
cho bệnh nhân không rõ tình trạng nhiễm. Các cán bộ và sinh viên chưa nắm
rõ biện pháp khử trùng và tiệt trùng, cách sử trí các bơm kim tiêm và dụng cụ
phòng thí nghiệm cần sử dụng lại. Chỉ có khoảng 2/3 NVYT và sinh viên y
cho rằng không nên dùng tay đậy nắp kim tiêm. Số cán bộ và sinh viên y thực
hiện các quy định về an toàn trong chm sóc y tế chiếm tỷ lệ nhỏ. Chỉ có
51,00% cán bộ giảng dạy và 30,00% sinh viên y chưa bao giờ dung tay đậy
nắp kim tiêm và khoảng 2/3 luôn sát trùng tay sau những thủ thuật tiếp xúc
với máu [ trích 2].
sở Y tế, về nguyên tắc bất kỳ dịch cơ thể nào chứa máu có thể nhìn thấy bằng
16
mắt thường đều có khả năng lây nhiễm. Một số chất dịch cơ thể không chứa
máu cũng có thể là nguồn lây nhiễm Những dịch này bao gồm: dịch tiết âm
đạo, tinh dịch, dịch màng bụng, dịch não tủy, nước ối, hoạt dịch và dịch màng
tim. Chất dịch cơ thể được coi là có nguy cơ lây nhiễm rất thấp, và trên thực
tế chưa có trường hợp nào báo cáo bị lây nhiễm qua nguồn này là: nước tiểu
và phân, nước bọt, nước mắt, dịch mũi, chất nôn và mồ hôi [ trích 2], [18].
Bảng dịch cơ thể và nguy cơ lây nhiễm HIV
Dịch được coi là có
nguy cơ cao
Dịch được coi là có
nguy cơ thấp
Dịch được coi là có
nguy cơ rất thấp*
Máu, huyết thanh Dịch màng ối Chất nhầy cổ tử cung
Tinh dịch Dịch não tủy Dịch nôn
Dịch âm đạo Dịch màng phổi Phân
Dịch màng bụng Nước bọt
Dịch màng tim Mồ hôi
Hoạt dịch Nước mắt
Sữa mẹ Nước tiểu
(*) Nếu những dịch này chứa máu nhìn thấy được bằng mắt thường thì
không được coi là nguy cơ rất thấp
Nguy cơ phơi nhiễm với HIV có thể xảy ra với tất cả các NVYT trực
tiếp điều trị phục vụ và chăm sóc bệnh nhân như: bác sỹ, y tá, điều dưỡng
viên, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên, hộ lý…Nguy cơ lây nhiễm HIV cũng như các
bệnh lây truyền qua đường máu khác phụ thuộc vào mức độ an toàn của các
thao tác trong quá trình làm việc của các NVYT, vào tỷ lệ nhiễm HIV trong
quần thể và tần xuất cũng như số lần phơi nhiễm. Các dạng phơi nhiễm
máu và dịch thể của
người bệnh xuyên qua
da.
Máu, dịch thể của người
bệnh bắn vào vùng da bị
Máu, dịch thể của
người bệnh bắn vào
18
Mức độ nguy cơ
Điều kiện
Nguy cơ cao Nguy cơ thấp
tổn thương vùng da bị lành
Máu, dịch thể của người
bệnh bắn vào niêm mạc
2. Số lượng máu/dịch thể
và thời gian tiếp xúc
Máu/dịch thể nhiều Máu/dịch thể ít
Thời gian tiếp xúc lâu Thời gian tiếp xúc
nhanh
3. Loại dụng cụ có máu
và dịch thể người bệnh
gây tổn thương
Kim to nòng Kim nhỏ nòng
4. Mức độ tổn thương Sâu Nông
5. Giai đoạn lâm sàng
của nguồn nhiễm
Giai đoạn sơ nhiễm và
giai đoạn AIDS
Giai đoạn tiến triển
Một số y tố ảnh hường đến nguy cơ phơi nhiễm
nhiễm cao hơn do số lượng virus trong cơ thể những bệnh nhân này rất cao.
- Phơi nhiễm với máu hoặc dịch chứa máu của người nhiễm HIV có số
lượng tế bào lympho TCD
4
thấp có nguy cơ lây nhiễm cao do nồng độ virus ở
những bệnh nhân này cao.
- Nồng độ virus bao gồm cả virus nằm trong và ngoài tế bào.
- Nguy cơ lây nhiễm HIV còn phụ thuộc vào chủng virus của bệnh nhân
là nguồn phơi nhiễm, đặc biệt chủng virus tạo hợp bào.
- Tình trạng nhiễm HIV chưa rõ, nguy cơ nhiễm thường được cân nhắc
nếu bệnh nhân này thuộc nhóm nguy cơ cao (tiêm chích ma túy, gái mại dâm,
tình dục đồng giới nam).
- Thuốc kháng virus đã sử dụng cho bệnh nhân, nếu phơi nhiễm từ
nguồn này thì nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn mặc dù có được điều trị dự
phòng sau phơi nhiễm.
Thứ ba là: Tình trạng hệ miễn dịch của người nguy cơ phơi nhiễm, đáp ứng
miễn dịch của người nguy cơ phơi nhiễm có thể giúp ngăn ngừa nhiễm HIV
sau khi nguy cơ phơi nhiễm.
Thứ tư là: Sử trí sau phơi nhiễm
20
- Nguy cơ lây nhiễm phụ thuộc việc sử trí ngay sau phơi nhiễm. Vết
thương càng được sử trí sớm theo đúng quy trình thì nguy cơ lây nhiễm
càng thấp.
- Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm bằng thuốc kháng virus và khả năng
đáp ứng với điều trị.
Thứ năm là: Các yế tố khác
- Địa dư: NVYT làm việc tại khu vực có tỷ lệ nhiễm HIV cao, khu vực
điểm nóng của các tệ nạn hoặc các bệnh viện tuyến trên sẽ có tần xuất tiếp
xúc với người nhiễm HIV cao hơn và do đó có nguy cơ phơi nhiễm với HIV
cao hơn.
Đối với người bị phơi nhiễm với HIV: “Được xét nghiệm chẩn đoán
nhiễm HIV và được điều trị miễn phí các thuốc dự phòng chống lây nhiễm
HIV do bác sỹ chỉ định theo quy định của Bộ Y tế; Được nghỉ việc để điều trị
dự phòng trong 20 ngày làm việc. Trong thời gian nghỉ việc được hưởng
nguyên lương và phụ cấp khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.
Đối với người bị nhiễm HIV: “Chế độ trợ cấp một lần ít nhất bằng 30
tháng lương và phụ cấp hiện hưởng (nếu có) ngay sau khi người lao động đã
được xác định bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp; Được hưởng chế
độ hưu trí nếu đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên (không phụ thuộc
vào tuổi đời); không phải giám định khả năng lao động và không phải giảm tỷ
lệ hưởng lương hưu do nghỉ việc trước tuổi hoặc được hưởng chế độ trợ cấp
bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của Điều lệ Bảo hiểm xã hội nếu chưa
đủ điều kiện nghỉ hưu; Nếu người nhiễm HIV bị chết thì gia đình hoặc người
đại diện hợp pháp của họ được hưởng chế độ tử tuất và các chế độ khác theo
quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội”.
22
Đối với học sinh thực tập tại các cơ sở y tế bị nhiễm HIV: “Được điều trị
miễn phí các bệnh nhiễm trùng cơ hội do HIV gây nên, thuốc đặc hiệu, thuốc
nâng cao thể trạng do bác sỹ chỉ định theo quy định của Bộ Y tế; chế độ trợ
cấp một lần ít nhất bằng 30 tháng lương khởi điểm của chuyên ngành được
đào tạo ngay sau khi được xác định bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề
nghiệp”.
1.4.1. Xây dựng môi trường làm việc an toàn.
Môi trường làm việc an toàn không chỉ quyết định chất lượng dịch vụ
chăm sóc sức khỏe mà còn hạn chế tai nạn nghề nghiệp xảy ra đối với NVYT.
Các biện pháp nhằm xây dựng môi trường làm việc an toàn gồm: Tổ chức tập
huấn, tuyên truyền, giáo dục sức khỏe hàng năm cho NVYT để mọi người
hiểu rõ và thực hiện các biện pháp dự phòng. Các nghiên cứu cũng chỉ ra ở
những người được trang bị đầy đủ kiến thức về an toàn lao động thì thực hành
tốt hơn [16]. Xây dựng ý thức chấp hành tự nguyện những quy định về vệ
- Nêu rõ ngày giờ, hoàn cảnh xảy ra, đánh giá vết thương, mức độ nguy
cơ của phơi nhiễm.
- Lấy chữ ký của những người chứng kiến và chữ ký của người phụ trách
khoa phòng.
Bước 3. Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm.
- Có nguy cơ:
+ Tổn thương do kim có chứa máu đâm xuyên qua da gây chảy máu:
kim nòng rỗng cỡ to, chứa nhiều máu, đâm sâu nguy cơ cao hơn kim nòng
nhỏ, chứa ít máu và đâm xuyên nông.
+ Tổn thương da sâu do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất
dịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải.
24
+ Máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da, niêm
mạc bị tổn thương viêm loét hoặc xây sát từ trước (thậm chí ngay cả khi
không biết có bị viêm loét hay không): nếu viêm loét hoặc xây sát rộng thì
nguy cơ cao hơn.
- Không nguy cơ: nếu máu hoặc dịch cơ thể của người bệnh bắn vào
vùng da lành.
Bước 4. Xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm.
- Nếu người bệnh đã được xác định HIV (+): Tìm hiểu các thông tin về
tiền sử và đáp ứng đối với thuốc ARV
- Nếu chưa biết về tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm: Tư vấn và
lấy máu bệnh nhân xét nghiệm HIV.
Bước 5. Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm.
- Tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV theo quy định:
+ Nếu ngay sau khi bị phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm có HIV(+): đã
bị nhiễm HIV từ trước, không phải do phơi nhiễm.
+ Nếu HIV (-): kiểm tra lại sau 3 và 6 tháng.
Bước 6. Tư vấn cho người bị phơi nhiễm.
- Người bị phơi nhiễm cần được cung cấp các thông tin và được tư vấn