A. GIỚI THIỆU
I. GIỚI THIỆU VỀ RỪNG TRÀM TRÀ SƯ.
Rừng Tràm Trà Sư nằm trên địa bàn xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên,
tỉnh An Giang. Đây là khu rừng ngập nước tiêu biểu cho vùng Tây sông
Hậu.Khu du lịch này khiến du khách đi khám phá thích phú bởi nét đặc trưng
của khu rừng ngập mặn cho vùng Tây sông Hậu.
Với thiên nhiên ưu đãi, rừng Tràm Trà Sư là nơi cư ngụ của nhiều loài
động thực vật tiêu biểu của Việt Nam như giang sen và điêng điểng nổi tiếng –
thuộc hàng sách đỏ Việt Nam. Mùa nước nổi là quãng thời gian thích hợp nhất
để đến với rừng tràm, khoảng từ tháng 7 đến hết tháng 11.
Những cánh rừng biếc xanh bạt ngàn được điểm xuyết bởi những đóa
hoa điên điển, những cây thủy liễu uốn mình mềm mại trong làn nước trong,
vài ba chú cá bơi lội tung tăng và ánh mặt trời không ngừng nhảy múa trên
mặt nước. Có 2 cách để khám phá Tràm Sư là chạy dọc quanh rừng tràm bằng
xe máy hoặc xe đạp và đi thuyền.
1. Vị trí địa lý
- Rừng Trà Sư nằm ở tọa độ 10
o
033’ đến 10
o
036’ Bắc và 105
o
002’ đến 105
o
004’ đông. Cách biên giới Việt Nam - Campuchia 10km, nằm trên tuyến du
lịch liên hoàn với các khu du lịch núi Cấm, núi Sam và đồi Tức Dụp.
- Nó là một vùng nhỏ (khoảng 860 ha), vuông vắn, tổng diện tích tự nhiên
của rừng Trà Sư là 874,16ha, gồm hai tiểu khu: Tiểu khu 6 (447,78ha) và
Tiểu khu 7a (426,38ha).
- Rừng Trà Sư gồm có rừng tràm, trảng cỏ ngập nước theo mùa và đầm lầy ở
tỉnh An Giang, trong đó, diện tích có rừng là 712,94 ha và diện tích có giá
- www.wikipedia.com
- www.news.zing.vn
- www.mekongdeltaexplorer.com
- www.dulichvietnam.com.vn
- www.dulich.vnexpress.net
- Một số trang khác.
Đồng thời tác giả còn tham khảo những kết quả của các nghiên cứu
trước (có liên quan), nhằm hỗ trợ cho việc phân tích đề tài này. Việc
thu thập một loại thông tin ở nhiều nguồn khác nhau sẽ góp phần
đầy đủ hóa thông tin, giúp sàn lọc và có những thông tin chinh xác.
C. KẾT QUẢ.
I. THÀNH PHẦN CHÍNH VÀ SỰ ĐA DẠNG CỦA RỪNG TRÀM TRÀ
SƯ.
Với diện tích gần 850 ha, phần lớn loài cây ở rừng tràm Trà Sư
là tràm (trên 10 tuổi, cao 5 - 8 m). Ngoài ra, đây còn là nơi sinh sống nhiều
loài động vật và thực vật. Theo thông tin trên website Du lịch Việt Nam, thì ở
đây hiện có:
- 70 loài chim thuộc 13 bộ và 3 họ, trong đó có 2 loài chim quý hiếm đã được
ghi trong sách Đỏ Việt Nam là Giang Sen (Mycteria leucocephala) và Điêng
Điểng (Anhinga melanogaster).
- 11 loài thú thuộc 4 bộ và 6 họ. Các bộ có số loài nhiều nhất là gặm nhấm (4
loài) và dơi (15 loài), trong đó có loài Dơi Chó Tai Ngắn quý hiếm cũng đã
được ghi vào sách Đỏ Việt Nam.
- 25 loài bò sát và ếch nhái, gồm 2 bộ, 10 họ, trong đó có cả Rắn Hổ Mang,
Rắn Cạp Nong.
- 10 loài cá xuất hiện quanh năm và 13 loài chỉ xuất hiện vào mùa lũ .
Không chỉ phong phú về động vật, Trà Sư còn là nơi tụ họp của 140 loài
thực vật thuộc 52 họ và 102 chi, trong đó có 22 loài cây gỗ, 25 loài cây bụi, 10
loài dây leo, 70 loài cỏ, 13 loài thủy sinh, 11 loài sinh cảnh, 78 loài thuốc và
22 loài cây cảnh, v.v….
định một điều: Đối với con người và động vật thì cây rừng giữ vai trò quan
trọng tất yếu.
Đặc biệt hơn nữa, cây rừng tràm rất quan trọng đối với sự sống của
nhân loại. Cây rừng ngăn lũ lụt, thiên tai thất thường. Khi nước lũ dâng cao,
cây rừng cản sức nước và rễ cây sẽ hút phần nào nước lũ. Có cây rừng, sức
nước đỡ mạnh hơn và nước cũng chẳng còn nhiều.Cây rừng còn chắn gió,
từng tán lá , cành cây sum xuê mở rộng chắn từng làn gió lớn của bão giúp
hạn chế và làm suy yếu sức mạnh tại những vùng bão đi qua.
4. Chức năng
- Ngăn lũ.
- Chống sạt lở đất.
- Cân bằng sinh thái.
- Cung cấp nguồn gỗ, củi.
- Điều hoà khí hậu, tạo ra oxy.
- Điều hoà nước.
- Nơi cư trú động của động, thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm.
5. Giá trị của hệ sinh thái đối với đời sống của người dân địa phương.
a. Giá trị kinh tế - xã hội.
Rừng tràm ở đây với nét đặc sắc riêng là nơi trú ngụ của nhiều động,
thực vật quý hiếm; nơi cung cấp lâm sản, gieo trồng lúa, trồng các loại cây ăn
quả, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản; là nơi sinh sống của các cộng đồng dân cư
địa phương.
Với ý nghĩa và nét đặc thù này, thời gian gần đây, đã dồn sức đầu tư
nhiều tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng, trước hết là xây dựng trên 100 km
đường láng nhựa, rải đá… đi sâu và chạy vòng vèo dưới tán các cánh rừng
vừa phục vụ phòng, chống cháy rừng vừa tạo thuận lợi cho cư dân vùng rừng
sinh hoạt, đi lại thông thoáng cho khách tham quan du lịch.
c. Tạo sinh kế cho người dân.
Trong chiến lược phát triển kinh tế hướng đến phát triển bền vững, rừng
tràm đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế cho địa phương. Rừng
cách xa những thành phố ồn ào sôi động mà vẫn đầy đủ những dịch vụ.
Các loại hình du lịch được ưa chuộng nhất ở đây chính là câu các loài
cá nước ngọt tại vùng ngập nước, đi thuyền nhỏ vào sâu trong rừng thám hiểm
tham quan hệ sinh thái rừng ngập mặn cùng nhiều tiện ích giải trí khác.
Các dự án công trình vui chơi, giải trí, khu văn hóa truyền thống, tái tạo
làng rừng, khu ẩm thực dân gian, nhà nghỉ truyền thống, khu nuôi thú và bến
bãi câu cá.
e. Giá trị sinh thái.
Theo tài liệu khoa học, rừng tràm điển hình cho việc bảo vệ, ổn định
môi trường sinh thái cho vùng, người ta còn ví nó là “lá phổi xanh” cho cả
Nam Bộ. Giá trị và tầm quan trọng của nó đã được ghi nhận trong thư mục
rừng ở các nước vùng châu Á.
Không chỉ thế còn được xem là “máy lọc sinh học khổng lồ” với một
lượng khí O-xy rất lớn được sinh ra, tạo bầu không khí trong lành. Ngoài ra
rừng còn cung cấp các nguồn gen vô cùng quý giá nhằm duy trì tính đa dạng
sinh học của hệ động thực vật.
Bảo vệ sự đa dạng sinh học không chỉ đem lại những giá trị về mặt sinh
thái mà còn có giá trị rất lớn đối với kinh tế của địa phương trong việc phát
triển các dịch vụ du lịch sinh thái, giải trí, nghiên cứu và giáo dục. đây mới
chính là những vai trò quan trọng có giá trị mang tính xã hội của hệ sinh thái.
6. Hiện trạng của hệ sinh thái rừng tràm Trà Sư.
a. Hệ thực vật
Thực vật chủ yếu là các loại tràm, bao gồm các loài tràm nội, loại tràm
tái sinh và trồng lại. Rừng tràm trồng trưởng thành có mật độ trung bình 2
cây/m
2
, độ cao trung bình 8m và DBH trung bình (đường kính tính tại điểm có
chiều cao ngang ngực trung bình) là 1cm với độ tàn che xấp xỉ 67%.
Rừng tràm non có mật độ dày đặc, khoảng 8 cây/m
2
Hình 3. Bèo tấm Hình 4. Bèo tai
chuột nhỏ
+ Rau muống (Ipomaea aquatica) mọc nhiều chiếm diện tích mặt nước
nhiều, đặc biệt ở vị trí có các trạm dừng chân, hàng quán.
+ Bèo tai chuột nhỏ (Salvinia cucullata) một loại dương xỉ thủy sinh
(hình 4).
Hình 5. Lục bình Hình 6. Bèo cái
+ Lục bình (Eichornia crassipes) phát triển xen với bèo cái, sen, sung
(hình 5).
+ Bèo cái (Pistia stratiotes) phát triển xen với các loại thủy sinh khác như
súng, sen. Sự phối hợp các loài thủy sinh thực vật này dày đặc tạo thành
một lớp nỗi trên mặt nước, làm nơi để các loài chim đi lại, kiếm ăn dưới
nước như gà nước, trích sinh sống (hình 6).
+ Kim ngư hay rong đuôi chồn (Ceratophyllum demersum) (hình 7).
Hình 7. Rong đuôi
chồn
Hình 8. Nhỉ cán
vàn
+ Nhỉ cán vàng (Utricularia aurea) thủy sinh chìm, sinh khối tương đối
lớn. Các loài này kết hợp với sen, súng, rễ lục bình làm thành nơi trú ẩn
cho cá, tôm tép, côn trùng nhỏ (hình 8).
+ Lúa ma hay lúa nước (Oryza rufipogon) đặc sắc, chiếm vị trí các chỗ
trảng, sinh khối khá lớn, chưa biết rõ vai trò của lúa nước trong chuỗi
thức ăn tại đây, nhưng cảnh quan có sự hiện diện của lúa nước thật sự
quý giá vì mang tính chất hoang sơ, nguyên sinh, có giá trị bảo tồn gen
(hình 9).
+
+ Hình 9. Lúa ma + Hình 10. Cỏ năng
trắng, cư trú tại đây với số lượng lớn (quan sát được vào buổi chiều chim
đi ăn về).
+
+ Hình 13. Cò trắng mỏ chân
đen nhỏ
+ Hình 14. Cò
- Cò (Ciconia ciconia) to, đặc trưng phần đuôi và chót cánh màu đen (Hình
5).
- Vạc lông đen đốm (Nycticorax nycticorax); Vạc lưng xanh (Nycticorax
sp.): quan sát nhiều ở khu vực chim làm tổ ở khu 5a (Hình 6).
+
+ Hình 15. Vạc lông đen đốm + Hình 16. Vạc lưng xanh
- 2 loài chim hiếm trong sách đỏ (website vietbao đề cập): cò Ấn Độ hay
nhang sen (Mycteria) và điêng điểng hay cò cổ rắn (Anhinga) có lẽ sống
chung với cò lớn.
+
+ Hình 17. cò Ấn Độ + Hình 18. Điêng điểng
- Các loại chim khác quan sát được:
+ Gà gô (Rallus), gà nước (Tringa, Charadrius): các loài gà này chạy và
lũi rất nhah trên thảm sen, bèo cái để kiếm côn trùng, ếch, nhái.
+
+ Hình 19. Gà gô + Hình 20. Gà nước
+ Thằng chài (Alcedo): có màu lông rất đẹp, lượn rất nhanh để bắt cá.
+ Bìm bịp.
+
+ Hình 21. Thằng chài
+
+ Hình 22. Bìm bịp
+
7. Khi thay đổi hệ sinh thái rừng tràm trà sư thành hệ sinh thái khu
giúp làm giảm độc hại cho nguồn nước thải từ các khu nông nghiệp lân cận
dồn về, tạo ra nguồn nước sạch cho vùng hạ nguồn, trước khi đổ ra biển
rừng tràm còn có vai trò trong giảm lũ thông qua khả năng làm giảm mực
nước lũ.
Làm ảnh hưởng đến công tác nghiên cứu bảo tồn môi trường.
b. Cái được
Phát triển ngành công nghiệp và tạo ra nhiều sản phẩm làm phát triển kinh
tế của đất nước.
Giải quyết công ăn việc làm cho người dân làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo
ra nguồn thu nhập cho người dân.
8. Kiến nghị.
- Cần có những nghiên cứu về những giá trị tiềm năng của hệ sinh thái
ở khu vực này.
- Mở rộng diện tích khu vực rừng.
- Nghiên cứu điều tiết nước cho vùng.
- Hạn chế việc đào xẻ kênh mương có thể gây ra hiện tượng xì phèn và
làm phân mảnh hệ sinh thái.
- Tăng cường hỗ trợ phát triển kinh tế cho các hộ dân quanh khu vực để
giảm tác động của các hộ dân này đến rừng.
- Nên phát triển khu vực này thành địa điểm vừa bảo tồn đa dạng sinh
học của vùng, vừa phát triển thành địa điểm du lịch sinh thái:
- Nghiên cứu thiết lập đề án phát triển khu bảo tồn trên cơ sở những
nghiên cứu chi tiết về khu vực.
- Mở rộng diện tích của vùng đệm
9. Tài liệu tham khảo.
- Nguyễn Trần Nhẫn Tánh,2004, “Quản lý hệ sinh thái rừng tràm Trà Sư, An
Giang”.
-
xanh-mua-nuoc-noi-2913413.html
-