tóm tắt luận án tiến sĩ: nghiên cứu địa danh tỉnh quảng bình - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN ĐÌNH HÙNG N
N
G
G
H
H
I
I
Ê
Ê
N
NC

N
H
HQ
Q
U
U


N
N
G
GB
B
Ì
Ì
N
N
H
H

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Phản biện 1: ……………………………………….
Phản biện 2: ……………………………………….
Phản biện 3: ………………………………………. Luận án sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo
họp tại Trƣờng Đại học KHXH&NV Thành phố Hồ Chí Minh
vào hồi….giờ….tháng….năm…

Có thể tìm luận án tại:
Thư viện Trường Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh

1 MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Địa danh học là một bộ phận đặc biệt của từ vựng học, chuyên nghiên cứu
nguồn gốc, ý nghĩa và đặc điểm cấu tạo các tên gọi chỉ các đối tƣợng địa lý tự nhiên
và nhân văn. Nghiên cứu địa danh có thể chỉ ra các phƣơng thức, nguyên tắc tạo địa
danh đặc thù gắn với mỗi vùng phƣơng ngữ và các khu vực địa - văn hóa khác nhau.
1.2. Quảng Bình là nơi ghi nhận nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng của đất nƣớc,
nơi giao thoa tiếp biến của nhiều nền văn hóa. Từ thế kỷ thứ 10, vùng đất này từng

ngữ đặt tên cho các đối tƣợng địa lý, có giá trị về mặt phƣơng pháp luận đối với
nghiên cứu địa danh hiện nay.
Ở nước ta, địa danh cũng đã đƣợc đề cập nhiều trong các công trình về lịch sử,
địa lý, địa chí nhƣ Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại chí của
Phan Huy Chú (1821), Việt sử thông giám cương mục (1878), Đại Nam nhất thống
2

chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang, Đại
Việt địa dư toàn biên của Phƣơng Đình Nguyễn Văn Siêu v.v.
- Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam đƣợc đặt ra từ thế kỷ trƣớc. Những
công trình tiêu biểu gần đây là: Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh (1991) và Địa
danh học Việt Nam (2006) của Lê Trung Hoa, Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh
Xuân Vịnh, Việt Nam - những thay đổi địa danh và địa giới hành chính 1945 - 1997
của Nguyễn Quang Ân, Một số vấn đề địa danh học Việt Nam của Nguyễn Văn Âu,
Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra của Dƣơng
Thị The và Phạm Thị Thoa. Tiếp sau đó là các luận án khảo sát địa danh của Nguyễn
Kiên Trƣờng, Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm
- Gần đây, tác giả Hoàng Thị Châu, Trần Trí Dõi, Lê Trung Hoa với những
công trình về địa danh theo hƣớng nghiên cứu so sánh lịch sử, ngôn ngữ-văn hóa, đã
có những đóng góp sâu sắc khi tiếp cận vấn đề địa danh dƣới góc nhìn ngôn ngữ học,
cung cấp một cách khá toàn diện về phƣơng pháp nghiên cứu địa danh theo hƣớng
khoa học liên ngành.
Liên quan đến địa danh ở Quảng Bình có Ô Châu cận lục của Dƣơng Văn An,
Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang
Định (1806), Đồng Khánh dư địa chí (1885) của Quốc sử quán triều Nguyễn, Quảng
Bình thắng-tích-lục của Trần Kinh và Nguyễn Kinh Chi (1998) Những tác phẩm đó
đã giới thiệu về địa danh làng xã, mô tả cảnh quan vùng đất, đề cập đến địa danh ở
Quảng Bình dƣới góc độ văn hóa, địa lý, lịch sử và du lịch.
- Tuy nhiên, vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách qui mô, toàn
diện về địa danh tỉnh Quảng Bình dƣới góc độ ngôn ngữ học. Chính vì thế, luận án

- Tƣ liệu điều tra điền dã trực tiếp ở các địa phƣơng Quảng Bình.
Các phương pháp nghiên cứu:
- Phƣơng pháp nghiên cứu điền dã của ngôn ngữ học; phƣơng pháp miêu tả
phân tích.
-Thủ pháp thống kê, so sánh; trong đó có so sánh lịch đại để nghiên cứu nguồn
gốc và nhận diện giá trị văn hóa địa danh tỉnh Quảng Bình.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận án có cấu trúc 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về địa danh và những vấn đề hữu quan về địa danh tỉnh
Quảng Bình.
Chương 2: Những đặc điểm về cấu tạo và ý nghĩa của địa danh tỉnh Quảng Bình.
Chương 3: Một vài đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh tỉnh Quảng Bình. Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN
VỀ ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH

1.1. Cơ sở lý thuyết về địa danh
Những nội dung của luận án đƣợc giải quyết trên cơ sở kế thừa, vận dụng một
cách hợp lý lý thuyết về địa danh, địa danh học của các tác giả trong và ngoài nƣớc.
1.1.1. Về khái niệm địa danh
Hiện vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về địa danh. Do đó, khái niệm
đƣợc chúng tôi sử dụng: Địa danh là những từ, cụm từ dùng làm tên riêng cho các
đối tượng địa lý khác nhau, có vị trí xác định thiên về không gian hai chiều trên bề
mặt trái đất.
1.1.2. Vấn đề phân loại địa danh
Luận án đã giới thiệu cách phân loại địa danh của các tác giả trong và ngoài
nƣớc: G.P.Xmolixkaja, A.V.Superanskaja, A.Dauzat, Ch.Rostaing, Nguyễn Văn Âu,
Trần Thanh Tâm, Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trƣờng, Từ Thu Mai, Phan Xuân

- Lịch sử Quảng Bình là lịch sử đầy biến động vì sự nghiệp mở mang bờ cõi
của dân tộc.
- Văn hóa Quảng Bình là kết quả của sự giao thoa tiếp biến, phân chia và hội tụ
của nhiều luồng văn hóa, là ga trung chuyển các giá trị văn hóa truyền thống từ Bắc
vào Nam và ngƣợc lại. Cùng với tầng văn hóa vỏ ốc, văn hóa Bàu tró, văn hóa Chăm
v.v. nơi đây là một tiểu vùng văn hóa riêng, và tất yếu còn lƣu lại trong địa danh.
- Tiếng địa phƣơng Quảng Bình còn lƣu giữ những đảo thổ ngữ, thể hiện một
quá trình tiếp xúc ngôn ngữ riêng ở địa bàn.
1.3. Kết quả thu thập và phân loại địa danh tỉnh Quảng Bình
Luận án đã thu thập đƣợc 7009 địa danh, các địa danh này đƣợc xác định trên
sự phân bố theo không gian trên địa bàn toàn tỉnh.
TT
Loại hình địa danh
Số lượng
Tỷ lệ %
1
Các đối tƣợng địa lý tự nhiên
2742
39,12
2
Các đối tƣợng địa lý cƣ trú-hành chính
2985
42,59
3
Các công trình xây dựng
1282
18,29
Cộng
7009
100

1362
19,43

Công trình
xây dựng
Liên quan đến đời sống
vật chất
1145

1282
16,34

18,29
Liên quan đến đời sống
tinh thần
137
1,66
Cộng
7009
7009
100
100
5

1.3.2. Địa danh tỉnh Quảng Bình theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ
Địa danh có nguồn gốc thuần Việt xuất hiện ở 2804 trƣờng hợp, chiếm 40%.
Trong đó các địa danh tự nhiên là 1437 trƣờng hợp (20,50%); địa danh cƣ trú hành
chính có 895 trƣờng hợp (12,77%); địa danh công trình xây dựng là 472 trƣờng hợp
(6,73%). Ví dụ: đồng Bàu, đồng Côi…
Địa danh có nguồn gốc Hán Việt là 3612 trƣờng hợp, chiếm 51,53%. Trong

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO VÀ Ý NGHĨA
CỦA ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1. Giới thuyết chung về cấu tạo địa danh và phương thức định danh
- Về bản chất, phƣơng thức định danh là nhằm trả lời câu hỏi dựa vào đâu và bằng
cách nào để định danh (đặt tên cho đối tƣợng).
- Thao tác định danh gồm: xác định những đặc tính chung để phân nhóm, tức là
lựa chọn thành tố chung (danh từ chung) và những đặc tính riêng (nét riêng) để xác lập
tên riêng (địa danh) cho đối tƣợng.
6

- Phƣơng thức định danh, cấu tạo và ý nghĩa của địa danh luôn có mối quan hệ
chặt chẽ, gắn bó. Cấu tạo của một địa danh liên quan đến hai yếu tố: cấu trúc nội bộ và
nguyên tắc đặt tên. Cấu trúc nội bộ là đặc điểm về cấu tạo (hình thức), nguyên tắc đặt
tên là đặc điểm về ý nghĩa (nội dung).
2.2. Cấu tạo địa danh tỉnh Quảng Bình
2.2.1. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh
Khi xem xét mô hình cấu trúc của một phức thể địa danh, quan điểm của luận án
là một địa danh, hay một phức thể địa danh luôn gồm 2 thành tố: thành tố chung chỉ loại
và tên riêng cụ thể hóa loại hình địa danh. Cả hai thành tố đều có vai trò và chức năng
khác nhau trong việc tạo lập một phức thể địa danh. Mô hình cấu trúc phức thể địa
danh ở Quảng Bình nhƣ sau:
Thành tố chung (A)
(loại hình địa danh)
Tên riêng (B)
(địa danh - đối tƣợng khu biệt)
Số lƣợng âm tiết tối đa
Số lƣợng âm tiết tối đa
1
2

Thủy

2.2.2. Thành tố chung
2.2.2.1. Khái niệm thành tố chung
Theo chúng tôi: thành tố chung trong phức thể địa danh là những danh từ (hay
danh ngữ) dùng để chỉ một lớp sự vật, đối tượng cùng loại hình và cùng thuộc tính bản
chất. Ví dụ: làng (trong làng Thổ Ngọa)
2.2.2.2. Cấu tạo của thành tố chung trong địa danh tỉnh Quảng Bình
Dựa vào các nguồn tƣ liệu, luận án đã thu thập 7009 địa danh ghi bằng tiếng
Việt với 149 thành tố chung. Kết quả thống kê cấu tạo:

TT
Số lượng âm tiết
Số lượng thành tố chung
Tỷ lệ%
1
Một âm tiết
113
75,8
2
Hai âm tiết
28
18,8
3
Ba âm tiết
7
4,7
4
Bốn âm tiết
1

87
1.24
Nghĩa trang liệt sỹ Ba Dốc
Cộng
7009
100

7 2.2.2.3. Chức năng của thành tố chung
- Chức năng phân biệt các loại hình đối tƣợng địa lí
- Chức năng hạn định cho tên riêng
- Chức năng chuyển hoá
Kết quả về sự chuyển hóa của thành tố chung vào tên riêng địa danh:
Loại địa danh chia theo
thành tố chung
Tổng hợp sự chuyển hoá
Thành
tên riêng
Vào một vị trí (VT) của B
Cộng
VT1
VT 2 trở đi
Địa danh địa hình thiên nhiên
68
237
51
356
Địa danh cƣ trú hành chính


TT
Số lượng
âm tiết
Loại hình địa danh
Tổng
cộng
Tỷ lệ
%
Địa danh
địa hình
Địa danh cư trú
hành chính
Địa danh
công trình
1
Một âm tiết
1143
584
278
2005
28,60
2
Hai âm tiết
1506
2087
764
4357
62,08
3

0
1
1
0,02
Cộng
2742
2985
1282
7009
100
8 2.2.3.2. Các kiểu cấu tạo tên riêng
Tên riêng trong địa danh Quảng Bình có hai kiểu cấu tạo: cấu tạo đơn và cấu tạo
phức. Căn cứ vào số lƣợng các loại hình địa danh thu thập đƣợc, có thể lập bảng thông
kê địa danh theo kiểu cấu tạo nhƣ sau:

Loại hình địa danh
Số lượng địa danh theo kiểu cấu tạo
Cộng
Cấu tạo
đơn
Cấu tạo phức
SL
TL %
CP
ĐL
C - V
Địa danh tự nhiên

7009
100%
TL %
28,60
52,80
17,54
1,06

2.3. Phương thức định danh
Địa danh ở Quảng Bình đƣợc luận án miêu tả theo hai phƣơng thức: tự tạo và
chuyển hóa. Kết quả khảo sát tƣ liệu địa danh cho thấy phần lớn địa danh tỉnh Quảng
Bình đƣợc hình thành theo phƣơng thức tự tạo (hơn 70% trong tổng số hơn 7000 địa
danh), số còn lại đƣợc tạo ra theo phƣơng thức chuyển hóa. Chỉ có một vài địa danh
đƣợc đặt theo tiếng nƣớc ngoài do các khám phá khoa học đối với các đối tƣợng địa
lý mới nhƣ: hang Over, hang Pygmy (tiếng Anh) ở vƣờn Quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng.
2.3.1. Phương thức tự tạo
Là phƣơng thức mà ngƣời định danh sử dụng các yếu tố ngôn ngữ có sẵn để
tạo ra một tên gọi địa danh theo cách của mình. Sau đây là một số cách thức cụ thể:
- Đặt tên dựa vào hình dáng của đối tƣợng: núi Răng Lược, rú Mồng Gà, vực
Tròn, cầu Bánh Tét, cầu Bôộng, chợ Ống
- Dựa vào tính chất, đặc điểm chính của đối tƣợng: vụng Lành, khe Gát, rào
Đá, suối Nước Mọoc, xóm Mới, cống Phóng Thủy
- Dựa vào thời gian hoạt động của đối tƣợng nhƣ: chợ Hôm, chợ Mai, chợ Rằm
Tháng Ba
- Gọi tên theo tính chất hoạt động của đối tƣợng nhƣ: chợ Đón, chợ Chạy, chợ
Nấp, chợ Bến
- Dựa vào sản vật đặc trƣng mua bán tại địa phƣơng: chợ Tru (Trâu), chợ Chè,
chợ Cá, chợ Củi (chất đốt), chợ Gộ (gỗ)
- Dựa vào hoạt động đặc thù của đối tƣợng trong một hoàn cảnh và giai đoạn

danh khác. Sau khi chuyển hóa, địa danh cũ có thể mất đi hoặc cùng tồn tại với địa
danh mới. Có những hình thức chuyển hóa nhƣ sau:
- Chuyển hóa từ địa danh chỉ địa hình tự nhiên sang địa danh cƣ trú hành
chính: bản Khe Giữa, bản Rào Con, thôn Cồn Năn, thôn Cồn Sẻ
- Chuyển hóa từ địa danh lịch sử văn hóa sang địa danh cƣ trú hành chính hoặc
ngƣợc lại: chiến khu Trung Thuần – làng Trung Thuần, làng Văn La - địa đạo Văn
La.
- Chuyển hóa từ nhân danh thành địa danh: thôn Hoàng Trung Lộc, thôn
Hoàng Đàm, thôn Ông Chinh, lũy Thầy, đường Mẹ Suốt
- Chuyển hóa từ tên các nhân vật trong truyền thuyết thần thoại, tín ngƣỡng
dân gian: núi Cu Lôông (tên thần núi), eo Ôông Đùng (truyền thuyết ngƣời Nguồn),
thác Pụt (tín ngƣỡng thờ Pụt của ngƣời Nguồn)
- Chuyển hóa trong nội bộ địa danh, lấy tên làng gốc đặt tên làng thành lập sau:
xã Cự Nẫm có tên gốc là làng Cự Nẫm, sau đó tách chia thành các thôn Sen Nẫm,
Trung Nẫm, Tân Nẫm.
- Chuyển hóa thành tố chung thành một yếu tố cấu tạo tên riêng địa danh: thôn
Bàu, xóm Bến, xóm Cồn, xóm Cầu, thôn Làng, xóm Thôn
- Chuyển hóa từ địa danh ở địa phƣơng khác: làng Bắc Sơn, Bắc Giang, Hòa
Bình, Phú Xuân, Thuận hóa, Cảnh Dương
2.4. Đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh tỉnh Quảng Bình
2.4.1. Vấn đề ý nghĩa của địa danh
10

Vấn đề “ý nghĩa” của địa danh chỉ mang tính tƣơng đối. Trong cách nhìn
chung nhất, mỗi địa danh ra đời đều gắn với một lí do nhất định. Hay nói cách khác,
mỗi địa danh đều mang một ý nghĩa khác nhau trong việc phản ánh hiện thực.
2.4.2. Cách thức xác định nghĩa của địa danh
- Căn cứ vào ngữ nghĩa của từ, có chú ý đến sự biến đổi.
- Dùng phƣơng pháp so sánh lịch sử để xác lập mối quan hệ ngữ âm của các
đơn vị có liên quan.

phát từ tình cảm, mong muốn của chủ thể định danh. Ví dụ: thôn Hòa Bình, thôn
Hưng Lộc (ƣớc vọng sự bình yên, giàu có, phát triển).
b) Các nhóm ý nghĩa trong địa danh tỉnh Quảng Bình
Căn cứ vào tƣ liệu thu thập, luận án phân chia địa danh ở Quảng Bình thành:
b.1. Nhóm địa danh không có nghĩa từ vựng
Các địa danh bằng số, chữ cái (địa danh kí hiệu) gọi tên một số địa điểm, công
trình (đèo 1001, đường 12A, đường 10, kênh 186, bến phà 1, 2,…), tên hành chính
các tổ, xóm, tiểu khu (bằng số 1, 2, 3,…), đều không có nghĩa mô tả (ý nghĩa từ
vựng). Chúng chỉ có chức năng đánh dấu, cá thể hóa đối tƣợng, không nói lên đƣợc
11

những dấu ấn về lịch sử, văn hóa liên quan, không thể hiện thông tin gì thêm về đối
tƣợng đƣợc định danh.
b.2. Nhóm các địa danh mang ý nghĩa miêu tả (ý nghĩa từ vựng)
Là lớp địa danh có tính rõ lí do cao nhất, liên quan chặt chẽ với các đặc điểm
địa hình, các đặc trƣng không gian, hay bắt nguồn từ chính những đặc điểm có liên
quan đến đối tƣợng, thƣờng rơi vào 3 tiểu nhóm:
- Nhóm địa danh có ý nghĩa rõ ràng (a transparent name): làng Sạt, khe Cơn
Trường, cầu Dài, lèn Trúc
- Nhóm địa danh có ý nghĩa không rõ ràng (non-transparent): chợ Thón, lùm
Toán, bản Lòm, xóm Dum…
- Địa danh có thành tố chung (generic element) rõ ràng về ý nghĩa từ vựng
(lexical-transparent), còn tên riêng (specific element) mờ nghĩa: thành phố Đồng Hới,
chợ Tréo, Bàu Tró.
Địa danh dù có ý nghĩa rõ ràng hay chƣa rõ ràng thì chúng cũng luôn mang ý
nghĩa từ vựng - miêu tả, phần lớn đƣợc tạo nên bằng phương thức định danh tự tạo.
b.3. Nhóm các địa danh mang ý nghĩa liên tưởng (ngữ dụng)
Một địa danh mang ý nghĩa liên tƣởng, chúng sẽ mất đi chức năng nổi bật nhất
(the most salient function) của nó là ý nghĩa định vị, xác định vị trí (locational value).
Loại ý nghĩa này, do vậy, đƣợc hình thành dựa trên điều kiện hiện thực cuộc sống đặc

nghĩa: ý nghĩa từ vựng - mô tả, ý nghĩa ngữ pháp và ý nghĩa liên tƣởng (ý nghĩa ngữ
dụng). Bất cứ địa danh có nghĩa nào cũng có ý nghĩa mô tả (ý nghĩa từ vựng) và
nghĩa ngữ pháp (từ loại), nhƣng không phải địa danh nào cũng có ý nghĩa liên tƣởng.
Một số địa danh kí hiệu ở Quảng Bình có ý nghĩa liên tƣởng, có tính lí do (đặc
điểm riêng trong cách định danh ở địa danh tỉnh Quảng Bình). Địa danh có nguồn
gốc tiếng dân tộc thiểu số thƣờng rõ ràng về nghĩa đối với ngƣời bản địa, nhƣng lại
không rõ ràng về nghĩa với đa số những ngƣời khác. Một số địa danh mờ nghĩa, hoặc
không xác định đƣợc nghĩa vì quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, bị biến âm, sai lệch âm
gốc, không còn cứ liệu, cần có những nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn để nhận diện
nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực của chúng.

Chương 3
MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA
CỦA ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH

3.1. Dẫn nhập
Địa danh tuy là một hiện tƣợng của ngôn ngữ học, nhƣng nó chính lại là hình
thức thể hiện văn hóa của một cộng đồng cƣ dân đã từng hiện diện trong vùng lãnh
thổ có các địa danh. Địa danh đƣợc sinh ra, phát triển cùng văn hoá, và cũng là một
hiện tƣợng văn hóa bởi vì ngôn ngữ là sản phẩm/thành phần của văn hóa: "chính trị
qua đi, văn hóa ở lại" (Les poliques passent, les cultures restent)".
Đặc trƣng văn hóa của địa danh tỉnh Quảng Bình trong chƣơng này đƣợc luận
án trình bày từ cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ - văn hoá về một vùng địa lý có sự
giao thoa, tiếp biến, phân chia, hội tụ từ nhiều nền văn hóa của các lớp cƣ dân sinh
sống trên địa bàn. Đây là những vấn đề có nội dung liên quan mật thiết với đặc điểm
ý nghĩa của các thành tố cấu tạo nên địa danh.
3.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ trong nghiên cứu địa danh
3.2.1. Về khái niệm văn hóa
Để có một khái niệm công cụ nghiên cứu địa danh, luận án lựa chọn cách định
nghĩa về văn hoá của Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị

trú, tâm lý ứng xử cũng nhƣ sinh hoạt cộng đồng ở Quảng Bình.
3.3.1.2. Đặc trƣng địa - văn hóa qua các thành tố chung về đồi núi
Quảng Bình có hệ thống núi, đồi trải khắp địa bàn, địa hình đa dạng, bốn bề
hiểm trở, giao thông khó khăn, làm cho phía tây Quảng Bình biệt lập với bên ngoài
trong một thời gian dài. Về văn hóa, Quảng Bình trở thành địa bàn bảo lƣu rất tốt nét
văn hóa “gốc”, văn hóa bản địa. Trên bình diện ngôn ngữ, Quảng Bình là khu vực
còn lƣu lại nhiều yếu tố tiếng Việt cổ, quá trình Hán hóa ngôn ngữ ở đây không sâu
sắc nhƣ một số địa phƣơng khác.
Tính chất địa hình đặc biệt làm cho Quảng Bình trở thành khu vực có cảnh
quan tự nhiên “thi vị”, “sơn thủy hữu tình”. Động Phong Nha, đèo Ngang, sông Loan
núi Phượng, non Mâu bể Hạc…là nguồn cảm hứng cho tao nhân mặc khách tạo nên
“nếp đất văn chƣơng”, khí thiêng “địa linh nhân kiệt”.
3.3.2. Đặc trưng văn hóa thể hiện qua ý nghĩa và sự phản ánh hiện thực của
tên riêng địa danh
3.3.2.1. Sự phản ánh phƣơng diện không gian văn hoá
a. Phản ánh đặc điểm địa hình tự nhiên
Về địa thế: núi Đầu Voi, eo Trâu Chẹt, đồông Kiêu, dốc Ba Dốc, dãy Hoành
Sơn, dăng Đá Chát, Lệ Thủy, Phong Giang, Hà Dương, Hải Đông…; về vị trí và
phƣơng hƣớng: núi Đèo Ngoài, núi Đèo Trong, khe Giữa, thôn Ngọn Rào, Minh Cầm
Nội, Sen Đông…; về màu sắc của môi trƣờng tự nhiên: núi Lèn Bạc, khe Ry, Thanh
Hà, Bạch Thạch, Hoàng Sa…
b. Phản ánh tên các loài thực vật có trên địa bàn cư trú
Thế giới thực vật đƣợc phản ánh một cách phong phú: núi Thù Lù, Trầm Kỳ,
Trâm Bầu, Mù U, vụng Nổ, xóm Sạt, cồn Vang…
c. Phản ánh tên các loài động vật có trên địa bàn cư trú
Các địa danh tên các loài động vật cũng trở nên quen thuộc, gần gũi và phổ
biến: đồi Ông Khái, lòi Hổ, bàu Rồng, cồn Kéc, cồn Trai, dốc Con Cầy, đảo Yến,
đồông Chó Câu, hang Dơi, khe Bò Niệng, eo Trâu Chẹt…
Môi trƣờng tự nhiên hội đủ các đặc điểm về tính chất và địa hình vùng đất -
một thế giới động thực vật phong phú gắn với đặc trƣng vùng miền. Tất cả đều đƣợc

- Thời cận đại, hàng loạt các địa danh: cửa sông Nhật Lệ, hệ thống lũy Thầy,
đầm Võ Xá….là chứng tích của một thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Ngày nay, vùng
chiến địa Trịnh-Nguyễn vẫn còn đầy ắp những địa danh liên quan đến cuộc chiến:
đồông Mồ Ma, đồông Mộc Sắt, độông Chòi, độông Cháy, cồn Hội, lòi Voi v.v.
- Nhiều địa danh phía tây Quảng Bình còn ghi dấu triều đình Hàm Nghi
kháng chiến chống Pháp: tôộng Pua Ngự, hang Quan Tán, Pạn Chuối, tộông Ải , eo
Lập Cập, rục Mòn, thác Dài, hón Róoc…
- Quảng Bình có hàng trăm địa danh phản ánh hai cuộc kháng chiến thần
thánh của dân tộc chống Pháp và Mỹ: Cha Lo, Cổng Trời, đèo Mụ Dạ, ngầm Rinh,
sân bay Khe Gát, sân bay Đồng Hới (Bờ Hơ), hang Tám Cô, đường Gùi, đường Cơ
Giới, đường Kín, đường Hở…
c. Phản ánh những thay đổi về địa giới hành chính trên địa bàn
Quảng Bình, một trong những tỉnh có địa giới hành chính thay đổi nhiều nhất
trong suốt chiều dài lịch sử. Thời Nhà Mạc năm 1553, Quảng Bình có 236 xã, 7 sách,
2 nguồn, 4 trang; năm 1776 thống kê đƣợc 18 tổng, 200 xã, 28 thôn, 80 phƣờng, 11
trang; thời Đồng Khánh có 2 phủ, gồm 7 huyện, 24 tổng 324 xã, thôn, phƣờng, ấp,
giáp, trang; ở vùng đầu nguồn có 2 nguyên (nguồn), 7 sách.
Hiện ở Quảng Bình có 275 địa danh làng xã vẫn giữ nguyên tên gọi cũ nhƣ:
làng Xuân Hồi, Cỗ Liễu, Qui Hậu, Uẩn Áo, có 154 địa danh đặt mới hoàn toàn, có
395 tiểu khu, thôn, tổ, đội, chòm, xóm, khu phố, đường đƣợc đặt tên theo kiểu số hóa.
15

3.3.2.3. Sự phản ánh đặc điểm chủ thể văn hóa của địa danh ở Quảng Bình
a. Địa danh phản ánh tên người
Từ xa xƣa, con ngƣời đã muốn lấy tên ngƣời, tên dòng họ đặt tên cho các đối
tƣợng địa lý nơi cƣ trú thể hiện sự tri ân.
- Có 15 làng mang tên dòng họ khai khẩn: Trần Xá, Lê Xá, Đặng Xá, Mai Xá,
Võ Xá, Hoàng Xá…
- Có những địa danh, công trình đƣợc đặt tên của ngƣời kiến tạo: lũy Thầy, lũy
Ông Ninh, điền trang Hoàng Hối Khanh, đường Ông Trụ, đồng Quan Hoàng, giếng

Phản ánh nghề trồng lúa: có 360 địa danh đồông, 83 địa danh rọong, 286 địa
danh xứ. Nhiều địa danh liên quan đến tƣới tiêu ruộng đồng: 72 hồ, 90 bàu, 76 hói, và
hơn 300 khe, mƣơng, kênh. Địa danh còn lƣu lại dấu hiệu các loại cây trồng trong sản
xuất nông nghiệp nhƣ: cồn Dưa, cồn Dâu, hung Mít, bản Cây Cà, bản Chuối, hồ
Muống, bàu Sen, nương Cau…
Yếu tố văn hóa sản xuất còn thể hiện qua các địa danh có liên quan đến làng
nghề. Các nghề thủ công đó đã tạo nên các địa danh nổi tiếng nhƣ các làng mộc Trúc
ly, Quảng Cư, Hòa Ninh, Mai Xá; các làng rèn Hoàng Giang, Phan Xá; làng đan Thọ
16

Đơn; làng giấy Tuy Mộc, Đại Phong, làng dệt Lũ Phong, Võ Xá, Khương Hà, làng đồ
gốm Mỹ Cương, làng muối Diêm Điền, Phú Lộc, làng làm nƣớc mắm Cảnh Dương,
Bảo Ninh…
Làng ở Quảng Bình đã vƣợt ra khỏi mô hình làng truyền thống của vùng Bắc
Bộ do tính chất, đặc điểm địa văn hóa của vùng đất, mang đặc trƣng văn hóa sản xuất
mở, không hoàn toàn dựa vào sản xuất nông nghiệp.
3.3.2.4. Đặc trƣng văn hóa thể hiện qua các yếu tố ngôn ngữ của địa danh ở
Quảng Bình
a. Địa danh phản ánh sự biến âm của tiếng địa phương Quảng Bình so với
tiếng Việt phổ thông (TPT)
(1). Trong địa danh tỉnh Quảng Bình, hiện tƣợng biến âm các phụ âm đầu của
âm tiết là rất phổ biến, có tính hệ thống theo sự tƣơng ứng đƣợc phân bố với sự xuất
hiện của các âm. Điển hình nhƣ:
- Âm /b-/ trong TPT tƣơng ứng /m-/: cồn Mùa Cua - Bồ Quân
- Âm /ş-/ trong TPT tƣơng ứng / t’/ hoặc /ʈ/: rọong Đất Théc - Đất Sét, cồn
Trèng - Sành .
- Âm /t-/ tƣơng ứng /ʈ-/: đầm Trít - Tịt
- Âm /t’/ tƣơng ứng /l-/: bàu Lủng - Thủng
- Âm /z-/ tƣơng ứng /d-/: rú Dẻ - Đẻ, đồng Dưới - Đưới…
(2). Hiện tƣợng biến âm ở phụ âm cuối:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status