ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
LÊ THỊ BÍCH THẢO ĐÁNH GIÁ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA HÀM LƯỢNG KIM
LOẠI NẶNG (Cd, Pb) TÍCH LŨY TRONG ĐẤT VÀ MỘT SỐ
LOÀI GIUN ĐẤT TẠI BÃI RÁC KHÁNH SƠN, TP.ĐÀ NẴNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng – Năm 2015
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG LÊ THỊ BÍCH THẢO
ĐÁNH GIÁ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA HÀM LƯỢNG KIM
LOẠI NẶNG (Cd, Pb) TÍCH LŨY TRONG ĐẤT VÀ MỘT SỐ
LOÀI GIUN ĐẤT TẠI BÃI RÁC KHÁNH SƠN, TP.ĐÀ NẴNG
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành đến ThS. Đàm Minh Anh – người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời
gian thực hiện đề tài và TS. Phạm Thị Hồng Hà – người đã giúp đỡ, chỉ bảo em
trong quá trình nghiên cứu về giun đất. Đồng thời, em xin cảm ơn sự quan tâm, tạo
điều kiện và giúp đỡ của Ban chủ nhiệm Khoa Sinh – Môi trường, các thầy cô giáo
và bạn bè.
Đà Nẵng, ngày 4 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện Lê Thị Bích Thảo
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ 9
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ANOVA
Phân tích phương sai (Analysis of Variance)
BOD
Nhu cầu oxy sinh học (Biochemical oxygen Demand)
BTNMT
Bộ Tài nguyên Môi trường
COD
Nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand)
LSD
Kiểm định sự sai khác (Least Significant Difference)
pH
Hàm lượng Pb và Cd trong đất
25
3.3
Thành phần loài giun đất thu được qua 2 đợt thu mẫu
tại khu vực nghiên cứu
27
3.4
Hàm lượng Pb và Cd trong giun đất
30
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Số hiệu hình vẽ
Tên hình vẽ
Trang
2.1
Giun đất (giống Pheretima)
đất
34
3.7
Tương quan giữa hàm lượng Pb trong đất và trong giun
đất
34
1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bãi rác Khánh Sơn, TP. Đà Nẵng có tổng diện tích là 50 ha nằm phía Tây
phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, được xây dựng năm 1992 với mô hình
hố chôn lấp tự nhiên, rác thải được chất đống rồi chôn lấp để tự phân hủy, nước rỉ
rác không được xử lý mà ngấm thẳng vào môi trường đất. Năm 2007, bãi rác Khánh
Sơn mới được đưa vào hoạt động, thay thế bãi rác cũ, với mô hình thu và xử lý
nước rỉ rác tuy nhiên chưa đem lại hiệu quả cao, theo kết quả quan trắc định kì, chất
lượng nước thải ra môi trường vẫn vượt quá chỉ tiêu cho phép [8]. Điều này đã làm
cho môi trường đất xung quanh khu vực bãi rác có nguy cơ ô nhiễm cao trong đó có
các kim loại nặng [24]. Chính vì vậy, cần có các giải pháp kịp thời để đánh giá ô
nhiễm kim loại nặng tại khu vực này.
Hiện nay, quan trắc lý hóa đánh giá được mức độ ô nhiễm trong môi trường
đất nhưng chỉ phản ánh được hiện trạng môi trường đất tại thời điểm phân tích,
không đánh giá được sự ảnh hưởng của ô nhiễm đến hệ động thực vật, phát hiện
những biến đổi sinh thái và xác định mối tương quan giữa chất lượng đất với sinh
vật. Bên cạnh đó, quan trắc sinh học lại giải quyết được nhược điểm của phương
pháp quan trắc lý hóa, thu thập định lượng, bảo quản dễ dàng, rẻ tiền, đặc biệt thuận
một số loài giun đất thuộc giống Pheretima tại khu vực nghiên cứu.
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những thông tin về mối tưởng quan hàm
lượng KLN trong đất và một số loài giun đất thuộc giống Pheretima. Góp phần xây
dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng một số loài giun đất làm sinh vật chỉ thị ô
nhiễm KLN.
3 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TÌNH HÌNH Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG TRONG ĐẤT TRÊN THẾ
GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1. Kim loại nặng và các dạng tồn tại trong đất
Thuật ngữ KLN nhằm nói tới bất cứ một nguyên tố nào có khối lượng riêng
lớn (d > 5 g/cm
3
) và thể hiện độc tính ở nồng độ thấp. Tuy nhiên, độ độc của KLN
còn phụ thuộc vào các dạng tồn tại của chúng ở trong đất [12].
Dạng linh động: các kim loại nặng được hấp phụ trên bề mặt các hạt đất (hạt
sét, các oxit sắt và oxit mangan bị solvat hoá, các axit mùn). Đây là dạng mà cây
trồng dễ hấp thu trong quá trình hút dinh dưỡng và nước vào cơ thể.
Dạng liên kết cacbonat: các kim loại nặng tồn tại dưới dạng các muối
cacbonat (CO
3
2-
) trong đất. Sự tồn tại và liên kết của các dạng này phụ thuộc rất
nhiều vào pH của đất cũng như lượng cacbonat trong đất.
trạm xăng): As, Pb, Sb, Se, U, V, Zn và Cd. Kim loại từ rác thải như bùn cặn chứa
Cd, Cr, Cu, Hg, Mn, Mo, Ni, Pb, V, Zn; rửa trôi từ đất thải ra As, Cd, Fe, Pb; phế
thải chứa Cd, Cr, Cu, Pb, Zn và đốt rác, bụi than thải ra Cu và Pb.
Dựa vào nguồn gốc phát sinh kim loại trong môi trường đất ở trên, ta có thể
thấy rằng, lượng kim loại nặng trong môi trường đất không chỉ do hoạt động phong
hoá hoá học của quá trình hoạt động địa hoá của khoáng vật mẹ mà còn do hoạt
động sản xuất công nông nghiệp gây nên, chủ yếu là từ phế thải đổ ra môi trường.
Chính vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là phải tìm ra cách quản lý và xử lý lượng
phế một cách hợp lí.
1.1.2. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trên Thế giới
Viện nghiên cứu Blacksmith, New York đã bình chọn danh sách 10 thành
phố ô nhiễm nhất trên thế giới thì có tới 8 thành phố liên quan đến ô nhiễm KLN đó
là Lâm Phần, Thiên Anh (Trung Quốc); Sukindan, Vapi (Ấn Độ); La Oroya (Peru);
Dzerzhinsk, Norilsk (Nga); Chernobyl (Ukraine); Sumgayit (Azerbaijan); Kabwe
5 (Zambia). Điển hình như Lâm Phần, Tianying (Trung Quốc) là nơi bị ô nhiễm nặng
KLN [46]. Những kim loại độc đã ngấm vào máu nhiều thế hệ trẻ em ở Tianying và
làm giảm chỉ số thông minh. Ngay cả lúa mì ở Tianying cũng chứa chì với nồng độ
gấp 24 lần mức cho phép của Trung Quốc. Trung Quốc còn là nước đứng đầu về ô
nhiễm thủy ngân. Theo kết quả phân tích thủy sản ở 4 hồ nước ngọt và khu vực biển
phía đông tỉnh Giang Tô, có rất nhiều kim loại khác nhau trong đó thủy ngân,
cadimi, crôm, kẽm và chì tồn tại trong 41% thủy sản [42]. Tại Norils (Nga), theo kết
quả phân tích của văn phòng nghiên cứu rủi ro Hoa Kì cho thấy đây là khu vực tập
trung những lò nấu chảy kim loại nặng lớn nhất thế giới vì vậy có hơn 4 triệu tấn
cadimi, đồng, chì, niken, thạch tín, selen và kẽm phát thải ra không khí mỗi năm.
Các mẫu thử không khí khi nghiên cứu ở vùng này đều có mức nhiễm đồng, niken
vượt quá chuẩn tối đa cho phép, số người tử vong vì các bệnh hô hấp ở mức cao
[43]. Nguồn gây nhiễm KLN chủ yếu là từ nguồn thải của các hoạt động sản xuất
khoáng sản phong phú, đa dạng và là nguồn nguyên liệu, tiềm năng quí của quốc gia.
Ô nhiễm kim loại nặng trong đất hiện nay tại các mỏ đã và đang khai thác ở
Việt Nam là một thực tế đáng báo động. Hiện tượng suy giảm chất lượng nước mặt,
nước ngầm ở nhiều nơi do ô nhiễm các kim loại nặng có nguồn gốc công nghiệp
như niken, crôm, chì, asen, đồng, selen, thuỷ ngân, cadimi, là thực tế và cần sớm
có giải pháp xử lý. Nhiều kim loại nặng rất độc đối với người và môi trường cho dù
ở nồng độ rất thấp.
Năm 2000 theo kết quả phân tích của Nguyễn Văn Bình ở khu vực mỏ thiếc
Sơn Dương, Tuyên Quang cho thấy hàm lượng As là 642 mg/kg, Cu là 235 mg/kg,
trong khi tiêu chuẩn đặt ra tương ứng là 25 mg/kg và 50 mg/kg (TCVN 7209 -
2002), xác định sự có mặt của các kim loại này trong các mẫu đất, nước, bùn thải
ven suối cao hơn tiêu chuẩn cho phép và là một trong những nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường [19].
Trong đề án quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản tỉnh Thái Nguyên
năm 2005 – 2010 đã đánh giá các hoạt động khai thác thủ công tại huyện Đại Từ tạo
ra một lượng đáng kể các chất thải quặng đuôi và đá thải. Quặng thiếc (caxiterit)
7 trong các mạch trải rộng trong khu vực cũng chứa một lượng lớn sunfua, mà chủ
yếu là arsenopirrit - nguồn gây ô nhiễm asen vào hệ sinh thái địa phương. Đá thải
tạo axít đã được sử dụng để làm vật liệu đắp đường và nền nhà của người dân địa
phương. Các đá này hiện đang rò rỉ kim loại như asen lên trên bề mặt và vào các
nguồn nước ngầm và sẽ tiếp tục là vấn đề môi trường nan giải trừ khi có một biện
pháp khắc phục được tiến hành. Kết quả phân tích một số mẫu đá thải cho thấy hàm
lượng As trung bình đạt tới 5000 mg/kg, vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Hàm
lượng các KLN khác trong mẫu cũng rất cao (Cu - 1260 mg/kg; Pb - 105 mg/kg; Cd
- 0.5 mg/kg; Se - 17 mg/kg, ) . Hàm lượng trong nước ngầm tại khu vực này từ
0.068 – 0.109 mg/l vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1.7 – 8.2 lần. Nhiều khu vực nước
ngầm có nồng độ pH thấp dưới mức tiêu chuẩn cho phép và có biểu hiện ô nhiễm
Hà Nội. Kết quả phân tích mẫu nước ngầm, rỉ rác của bãi rác do phía Công ty cổ
phần Môi trường đô thị Hòa Bình cung cấp năm 2013 cho thấy hàm lượng Coliform
vượt 383 lần, BOD
5
vượt 43.9 lần, lượng COD vượt 41 lần tiêu chuẩn cho phép của
chất lượng nước xả thải.
Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Đức Toàn năm 2013 đánh giá ảnh hưởng
của bãi chôn lấp Xuân Sơn cho thấy nước đầu ra của hệ thống xử lý nước thải hiện
tại chưa đạt qui chuẩn cho phép. Hàm lượng các chất hữu cơ trong mẫu nước vượt
quá giá trị giới hạn quy định trong cột B - QCVN 40: 2011/BTNMT và cột B1 – QCVN
25: 2009/BTNMT. Các thông số COD, BOD
5
và tổng N đều có giá trị rất cao. Các
kim loại nặng và ion độc hại đều phát hiện thấy ở nồng độ đáng kể gồm asen,
cadimi, xianua, NO
2-
, NO
3-
. Riêng chỉ có các chỉ tiêu sắt, chì và tổng P có giá trị
thấp hơn giá trị giới hạn của cột B - QCVN 40: 2011/BTNMT. Chỉ số coliform của
mẫu nước vượt 3 lần so với giá trị giới hạn của cột B-QCVN 40: 2011/BTNMT.
Đây là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường xung quanh bãi chôn lấp [23].
Quyết định gần đây nhất của thủ thướng chính phủ về kế hoạch xử lý triệt để
các cơ sở ô nhiễm nghiêm trọng đến năm 2020 trong đó có 28 bãi rác gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng chưa hoàn thành xử lí triệt để theo Quyết định 1788/QĐ -
TTg. Như bãi rác thị xã Tân Châu, bãi xử lý và chôn lấp rác tập trung thành phố
Bắc Giang, bãi rác Bình Tú, thành phố Phan Thiết, bãi chôn lấp chất thải rắn thành
phố Buôn Ma Thuột…[9].
9
Giun đất có khả năng tích lũy Cd cao hơn so với các kim loại khác, sự tích lũy của
Pb và Ca là tỉ lệ thuận với nhau. Trong nghiên cứu này, giun đất có khả năng điều
chỉnh lượng Zn và Cu vì vậy hàm lượng của 2 kim loại này trong mô của giun đất
và đất không có sự tương quan với nhau, còn hàm lượng Cd và Pb có mối tương
quan cao.
Nghiên cứu của C. P. J. Ash & D. L. Lee năm 1980 [27] đã đánh giá hàm
lượng Pb, Cd, Cu và Fe trên đối tượng 3 loài giun đất Lumbricus terrestris
(Linnaeus), Lumbricus rubellus (Hoffmeister) và Allolobophora chlorotica
(Savigny) thu thập tại 5 khu vực: ven đường A660 ở Leeds (Tây Yorkshire), ven
đường A1 ở Tây Yorkshire, đường phục vụ nông nghiệp ở Leeds, vùng rừng thuộc
khu giải trí thành phố Leeds và đường giao thông chính tại Oban (Scotland). Kết
quả thu được cho thấy, Pb, Cd và Cu được tích lũy trong mô tăng theo khối lượng
nguyên tử Pb > Cd > Cu, riêng với Fe với mức ý nghĩa p < 0.05 có trong mô của
giun với một hàm lượng rất cao, không phải là kim loại được tích lũy từ đất, Fe và
Zn là kim loại thiết yếu có sẵn trong mô của giun do bài tiết. Các kim loại Pb, Cd,
Cu trong đất và giun có mối tương quan chặt.
Kết quả các nghiên cứu trên đã chứng minh loài Lumbricus rubellus có khả
năng tích lũy Cd và Pb cao, có mối tương quan thuận hàm lượng Cd và Pb có trong
đất còn đối với các kim loại Cu và Zn, Fe thì mối tương quan thấp hơn do đây là
những kim loại thiết yếu có sẵn trong mô giun. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chứng
minh các loài Eiseniella tetraedra (Savigny), Dendrobaena veneta (Rosa),
Lumbricus terrestris (Linnaeus) và Allolobophora chlorotica(Savigny) cũng có mối
tương quan tương tự đối với kim loại Cd và Pb.
Năm 1983, nghiên cứu của M.P. Ireland [31] về sự hấp thu kim loại trong mô
giun đất dựa trên sự tổng hợp của nhiều tài liệu nghiên cứu về sự tích lũy kim loại
nặng trong giun và đất đã đưa ra kết luận rằng giữa các loài có sinh lý khác nhau thì
khả năng tích lũy kim loại nặng cũng khác nhau. Trong đó, hàm lượng kim loại
nặng trong giun và đất có một sự tương quan cần được nghiên cứu thêm. Nghiên
11
12 ngoài. Đối với các kim loại nặng như Cd, Pb, sự bài tiết rất chậm hoặc không có nên
sẽ có khả năng tích lũy lớn trong giun. Đối với Zn, ngay cả khi các nồng độ ô nhiễm
cao, các hàm lượng tích lũy trong giun vẫn thấp hơn so với trong đất. Bài tiết một
phần của Zn có thể góp phần vào việc điều tiết nồng độ kim loại trong giun đất [37].
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự tích lũy kim loại nặng trong 2 loài giun
đất Aporrectodea caliginosa, Lumbricus rubellus và kim loại chiết trong đất của Jun
Dai và cộng sự, năm 2004 tại một đồng cỏ bị ô nhiễm bởi chất thải từ ngành công
nghiệp luyện kim hơn 70 năm trước. Nghiên cứu cho thấy, kết quả hàm lượng kim
loại Cu, Zn và Cd có hàm lượng tích lũy trong giun đất rất cao trong đó Zn tích lũy
với một hàm lượng rất lớn so với các nghiên cứu trước đó các điều kiện môi trường
đất bị ô nhiễm nặng kim loại Zn, tác giả biện luận có sự khác biệt này là do mẫu
được thu trong khoảng thời gian khi mà giun đang tích lũy Zn như trong nghiên cứu
của Spurgeon và Hopkin (1999), còn kim loại Pb thì tích lũy khá thấp, đồng thời có
sự tương quan giữa hàm lượng Cu, Pb tích lũy trong mô giun đất và đất . Ngoài ra
khả năng tích lũy của 2 loài là khác nhau do sinh thái của chúng khác nhau [28].
Năm 2006, nghiên cứu của P.H.F. Hobbelen, J.E. Koolhaas, C.A.M. van
Gestel về sự liên quan giữa nồng độ tích lũy KLN trong đất và 2 loại giun đất
Lumbricus rubellus và Aporrectodea caliginosa tại Vườn Quốc gia Brabantsche
Biesbosch (Hà Lan) đã chứng minh có sự tương quan thuận của hàm lượng các kim
loại Cd, Cu trong 2 loài giun L. rubellus, A. caliginosa và đất tại Biesbosch còn
nồng độ Zn thì không tương quan đáng kể vì Zn là kim loại thiết yếu có trong giun
đất [29].
Năm 2008, Surindra Suthar và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh
giá sự khác biệt giữa hàm lượng kim loại Zn, Fe, Mn, Cu, Pb, Cd trong đất và trong
mô của giun đất thuộc 2 loài Metaphire posthuma và Lampito mauritii thu thập từ
các môi trường sống khác nhau như bùn thải, đất vườn đô thị và đất nông nghiệp.
Lampito mauritii và M. mauritii posthuma thường phân bố ở khu vực này nên được
mùn bã trong đất, có khả năng tích lũy các KLN mà không bị ngộ độc, phân bố
rộng, có số lượng phong phú, dễ thu mẫu, có kích thước phù hợp cho việc phân tích,
14 các loài giun đất đã và đang được nghiên cứu sử dụng làm sinh vật quan trắc môi
trường đất bị ô nhiễm KLN có hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên khả
năng tích lũy kim loại nặng của giun còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố điều kiện môi
trường, chế độ dinh dưỡng, đối với những loài khác nhau, đặc tính kim loại nặng
khác nhau thì khả năng tích lũy cũng khác nhau. Vì vậy ta cần quan tâm đánh giá
khả năng sử dụng giun đất làm sinh vật chỉ thị ô nhiễm kim loại nặng đối với điều
kiện tại Việt Nam.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu kim loại nặng trong giun đất ở Việt Nam
Các nghiên cứu về khả năng tích lũy kim loại nặng trong giun đất ở Việt
Nam còn rất hạn chế, chủ yếu chỉ mới tập trung dẫn liệu về hình thái và sinh thái
của một số loài giun đất phổ biến để phục vụ cho công tác biên soạn giáo trình, tài
liệu…
Từ năm 1960 đến nay, các nghiên cứu chỉ mới tập trung vào những nghiên
cứu về độ đa dạng của giun đất. Các tác giả đã cung cấp nhiều dẫn liệu về thành
phần loài, đặc điểm phân bố và mô tả thêm nhiều loài giun đất mới trên các vùng
đất khác nhau, trải dài trên ba khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam của
Việt Nam.
Từ những cơ sở dẫn liệu đã có nhiều nghiên cứu bắt đầu sử dụng giun đất
như một sinh vật chỉ thị dựa vào thành phần, số lượng và sự đa dạng của các loài
giun đất để đánh giá chất lượng môi trường đất như nghiên cứu của Đặng Văn
Minh (2007) về mối quan hệ giữa giun đất và chất lượng đất trồng chè tại huyện
Đông Hỷ, Thái Nguyên đã cho thấy, sự thay đổi về số lượng giun đất tỷ lệ thuận với
sự thay đổi hàm lượng cacbon hữu cơ và tỷ lệ nghịch với dung trọng đất. Sự giảm đi
về số lượng giun đất trong quá trình canh tác chè lâu năm là do sự xấu đi của đất.
Mặt khác khi số lượng giun đất giảm gây tác động xấu tới đất. Vì vậy giun đất vừa
hưởng của Cu
2+
đối với giun đất khá rõ ràng. Hàm lượng Cu
2+
càng cao tỉ lệ tăng
trưởng của giun càng bị hạn chế, ở nồng độ 500 ppm giun chết gần hết, ở nồng độ
1000 ppm giun chết hoàn toàn. Hàm lượng của Pb
2+
ở nồng độ thí nghiệm với giun
16 đất không rõ ràng. Vì vậy đã tiến hành nâng nồng độ chì lên 1500; 2000; 3000 ppm
sau 7 ngày kiểm tra LC
50
ở nồng độ 2500 ppm. Sự tích lũy Cu và Pb sau 35 ngày ở
giun đất tăng theo sự tăng nồng độ chất ô nhiễm, ở cùng một nồng độ, hàm lượng
Cu tích lũy trong giun cao hơn nhiều so với Pb [16].
Năm 2010, Phạm Thị Hồng Hà đã bước đầu nghiên cứu về mối tương quan
giữa khả năng tích lũy Cd, Pb trong môi trường đất và trong các loài giun đất (giống
Pheretima ) ở khu công nghiệp Hòa Khánh, Đà Nẵng [22]. Kết quả nghiên cứu cho
thấy có sự tương quan giữa mức độ tích lũy Cd và Pb trong cơ thể giun đất và hàm
lượng Cd, Pb tổng số trong đất ở mức tương quan thuận với hệ số tương quan chặt.
Vì vậy, có thể sử dụng giun đất trong giống Pheretima làm sinh vật chỉ thị ô nhiễm
Cd và Pb trong đất.
Đến năm 2014, Nguyễn Văn Khánh và cộng sự đã đánh giá khả năng sử
dụng 2 loài giun đất Pheretima modigliani và Pontoscolex corethrurus như sinh vật
chỉ thị ô nhiễm kim loại nặng (Cd, Pb và Cu) trong đất tại Đà Nẵng. Trong đó, loài
Pontoscolex corethrurus tích lũy hàm lượng Cu cao và hàm lượng Cd thấp hơn so
với loài Pheretima modigliani, hàm lượng Pb không có sự sai khác đáng kể, sự sai