Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ SANG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
ẠI HỮU LŨNG,
LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Thái Nguyên - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa từng được công bố.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Sang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan
tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
phòng quản lý đào tạo sau đại học, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp,
cơ quan và gia đình.
Trước tiên tôi xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Văn Vượng và
PGS.TS. Đào Thanh Vân – người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong
quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo phòng Quản lý
đào tạo sau đại học, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy ngành Khoa học cây trồng,
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ hoàn thành luận văn này.
1.2.2. Một số nghiên cứu về kỹ thuật đốn tỉa 6
1.2.3. Chăm sóc vườn, trồng cây phủ đất và cây trồng xen 8
1.2.4. Nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân 8
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.3.1. Nghiên cứu về nguồn gốc và phân bố của cây na 10
1.3.2. Phân loại và các giống na hiện nay đang trồng 12
1.3.3. Những nghiên cứu nhằm thúc đẩy sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và tăng năng suất na
14
1.3.4. Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh 16
1.3.5. Nghiên cứu na ở Lạng Sơn 18
1.4. Điều tra đánh giá thực trạng sản xuất na ở Hữu Lũng 19
1.5. Đánh giá chung 20
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
2.1.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 21
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 21
2.2. Thời gian nghiên cứu 21
2.3. Nội dung nghiên cứu 21
2.4. Vật liệu nghiên cứu 21
2.5. Phương pháp nghiên cứu 22
2.5.1. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng na. 22
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1. Kết quả điều tra đánh giá các biện pháp kỹ thuật sản xuất na ở Hữu Lũng -
Lạng Sơn. 26
3.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội có ảnh hưởng đến sản xuất nông –
lâm nghiệp ở Hữu Lũng, Lạng Sơn 26
Bảo vệ thực vật
TGST
:
Thời gian sinh trưởng
NSLT
:
Năng suất lý thuyết
NSTT
:
Năng suất thực thu
FAO
:
Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Thế giới
IRRI
:
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế
PTNT
:
Phát triển nông thôn
GA
3
:
Gibberalinaxit
PRA
:
Phỏng vấn trực tiếp
RCBD
:
bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên
Bảng 3.4: Các biện pháp kỹ thuật chủ yếu và tỷ lệ hộ dân áp dụng 33
Bảng 3.5: Giá bán quả na qua các năm tại huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn 36
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK Đầu trâu đến các giai đoạn sinh
trưởng, phát triển của cây na 37
Bả ủa lượng phân bón NPK Đầ ỷ lệ đậu quả 39
Bả ủa lượng phân bón NPK Đầ ăng suất và các
yếu tố cấu thành năng suất na 39
Bả ủa lượng phân bón NPK Đầ ột số
củ . 40
Bả ủa lượng phân bón NPK Đầ ột số
sinh hóa quả 41
Bả ởng của kỹ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng và phát triển lộc
Xuân 43
Bả ởng và phát triển của lộc Hè 44
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa đến tình hình ra hoa và đậu quả 45
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa đến năng suất và các yếu tố cấu
thành năng suất na quả 46
Bả và một số chỉ tiêu cơ
giới của quả 47
Bả ột số chỉ tiêu chất lượng
của na quả 47
Bả ồng độ GA
3
, quả rụng và tỷ lệ đậu quả 49
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii
Bả
3
hóa, quả nhỏ, nhiều hạt, chất lượng quả kém, giá bán thấp, hiệu quả kinh tế kém,
- Na ở Hữu Lũng trồng bằng cây gieo hạt nên dễ bị phân ly, độ lớn và chất
lượng quả không đồng đều, phần lớn là cây trồng từ gieo hạt nên cây vươn cao, ít
phân cành, cộng với trồng dày, không được cắt tỉa nên quả thưa và rất khó chăm
sóc, thu hái ở địa hình núi đá dốc
- Do na trồng ở trên núi đá dốc, hiểm trở nên việc vận chuyển một lượng lớn
phân hữu cơ hoặc các phân bón vô cơ riêng rẽ để bón cho cây theo quy trình gặp
nhiều khó khăn.
- Sâu, bệnh hại cũng là một yếu tố cản trở lớn đến sản xuất na ở Hữu Lũng,
Những sâu, bệnh thường gặp ở vùng na Hữu Lũng là các loài rệp sáp, nhện, bọ
phấn, ruồi đục quả, bệnh muội đen, bệnh thán thư Những loại sâu, bệnh này
không chỉ làm cho cây bị chết, mà thường xuyên làm hạn chế tới sức sinh trưởng
của cây, làm cho cây ra hoa đậu quả kém, năng suất thấp, đặc biệt là làm cho mã
quả xấu, hoặc bị thối và khô héo không thể sử dụng được,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
- Phát triển trồng na ở Hữu Lũng chủ yếu là tự phát, người dân tự lựa chọn
giống và tự sản xuất giống để trồng, cho đến nay chưa có cơ sở nào ở địa phương
làm công tác tuyển chọn, nhân giống cung cấp cho người dân.
Từ những khó khăn nêu trên, để phát triển vùng na Hữu Lũng thành vùng
, cần thiết
phải áp dụng đồng bộ các biệ
thuật chăm sóc, bón phân và sử dụng phân bón; tưới nước và quản lý độ ẩm đất;
đốn tỉa; quản lý và phòng trừ sâu bệnh và sử dụng các chế phẩm điều tiết sinh
trưởng để tăng năng suất chất lượng quả. Đây cũng là những đòi hỏi của thực tiễn
sản xuất và những nội dung của đề tài:
cây na tại Hữu Lũng, Lạng Sơn” đặt ra.
2. Mục đích yêu cầu của đề tài
canh tăng năng suất na tại Hữu Lũng, Lạng Sơn và cũng là tài liệu khuyến cáo cho
người trồng na ở Hữu Lũng và các vùng trồng na có điều kiện sinh thái tương tự,
góp phần xóa đói giảm nghèo cho người nông dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Phân bón là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên năng suất, chất
luợng của quả na. Kích thước quả, màu sắc, hình dạng và vị quả là những đặc điểm
chất lượng đều bị ảnh hưởng do thiếu dinh dưỡng. Quả na chứa hàm lượng kali rất
cao nên để tránh tình trạng thiếu kali ảnh hưởng đến chất lượng quả.
Đốn tỉa ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây thông qua việc điều chỉnh giữa sinh
trưởng sinh dưỡng và ra quả. Có một vài kiểu đốn tỉa như đốn cành cấp 2, đốn bảo
vệ, đốn trẻ lại. Đốn tỉa làm cho cây có một khung tán cho ra năng suất cao nhất, tiếp
California (Mỹ) các giống thương mại chủ yếu thuộc loài Cherimoya,(A.C.de Q.
Pinto, 2005) [36]
Tây Ban Nha được coi là nơi sản xuất Cherimoya quan trọng nhất trên thế
giới, với diện tích khoảng 3,266 ha năm 1999 (Guirado và cs 2001, dẫn bởi
Scheldeman, 2002)[30]. Tỉnh Granda là nơi sản xuất chính, chiếm 90% diện tích
của Tây Ban Nha, khoảng 3.090 ha, trong đó 99% diện tích được tưới với sản lượng
29.000 tấn (Gomez, 2000- thông tin cá nhân; dẫn theo A.C.de Q. Pinto, 2005)[35].
Pê Ru năm 1998 có khoảng 1975 ha với sản lượng 14.606 tấn. Vùng Đông Bắc
Mararion là vùng sản xuất chính, khoảng 665 ha (Vargas, A.L, 2000- thông tin cá
nhân; dẫn theo A.C.de Q. Pinto, 2005)[35]. Carlos Furche (2000) ghi nhận rằng
Chi Lê có khoảng 1.152 ha, Bolovia:1.000 ha, Ecuador: 700 ha. Crane & Campbell
(1990) & Grossberger (1999) cũng cho biết ở California có khoảng 100-120 ha
Cherimoya với sản lượng 453 tấn và Thái lan, Dominica & Costa Rica là nước xuất
khẩu na quan trọng cho Mỹ, (dẫn theo A.C.de Q. Pinto, 2005)[35].
Soursop (Mãng cầu Xiêm) được trồng ở nhiều ở vùng nhiệt đới như Angola,
Braxin, Colombia, Costa Rica, Cuba, Jamaica, Ấn Độ Mexico, Panama, Pê Ru,
USA (Porto Rico), Venezuela và Đông Nam châu Á (Pinto & Silva, 1996)[36].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
Mexico là nước sản xuất mãng cầu Xiêm quan trọng của các nước châu Mỹ.
Theo Hernandez & Angel, 1997[31], Mexico có khoảng 5.915 ha với sản lượng
34.900 tấn, lớn nhất thế giới nhưng năng suất lại giảm dần, năm 1990 đạt 6,8 tấn/ha,
năm 1996 còn 5,9 tấn/ha. Tỉnh Nayarit là tỉnh trồng nhiều nhất ở Mexico với 380 ha
Venezuela có khoảng 3.496 ha với sản lượng 10.096 tấn (Diego, 1989)[28];
Braxin: 2000 ha, sản lượng 8.000 tấn, năng suất 4 tấn/ha; Pê Ru: 443 ha, sản lượng
3.262 tấn (Antonio Isaias Vargas, 2000; dẫn theo A.C.de Q. Pinto, 2005 )[24].
Đối với Mãng cầu ta (sugar apple) vẫn đang được coi là cây trồng vườn và chủ
yếu sử dụng nội tiêu. Số liệu về sản xuất sugar apple (Mãng cầu ta) trên thế giới rất ít,
thu hoạch;
d) Loại bỏ những cành quá thấp, đặc biệt là những cành chạm đất và
những cành chen lấn cọ xát với các cành khác (Torres & Sanchez, 1992[39];
Nakasone & Paull, 1998[35]; Bonaventure, 1999)[25].
Anderson & Richardson (1992)[23] mô tả ật đốn tỉa trong 4 năm đầu
bao gồm: Cắt ngọn chỉ để thân chính cao 80 cm để kích thích các cành cấp 1 phát
triển. Đến mùa Xuân năm thứ 2, cắt những cành cấp 1 chỉ để lại độ dài 40 cm để
kích thích cành cấp 2 phát triển. Tương tự năm thứ 3 và thứ 4 cũng cắt tỉa như vậy,
nhưng cành cấp 2 để lại 30 cm, cành cấp 3 để lại 20cm.
Agustin & Alviter (1996)[23] mô tả phương pháp cắt tỉa đối với
cherimoya có khác một chút là giữ lại 2 hoặc 3 cành chính ngay từ tháng thứ 4
hoặc thứ 5 sau trồng. Hai cành chính được chọn để lại phải là 2 cành khỏe, các
cành khác đều phải loại bỏ để 2 cành phát triển theo hình chữ V. Nếu tạo bộ
khung 3 cành như phương pháp của Nakasone & Paull (1998)[35] thì thân
chính cao 90 cm cắt bỏ ngọn để kích thích cành bên mọc tạo thành tam giác
giữa các cành với nhau một góc bằng 1200, cành nọ cách cành kia 15 - 25 cm ở
phía trên để tạo bộ khung chắc sau 5 năm trồng.
Đốn tỉa giai đoạn cây đã cho quả là việc làm bình thường đối với cherimoya
và sugar apple (Agustin & Alviter, 1996[23]; Bonaventure, 1999)[25], song đối với
soursop lại không được đề cập (Torres & Sanchez, 1992; Pinto &Ramos, 1997)[35].
Lý do giải thích là do vị trí của mầm sinh trưởng của soursop là ở nách lá còn của
cherimoya và sugar apple lặn ở chân cuống lá (Nakasone & Paull, 1998)[35].
Đốn tỉa giai đoạn cây cho quả đối với sugar apple là cắt tất cả các cành 1 năm
tuổi, mỗi cây chỉ để lại 120 -150 cành với chiều dài 10 cm (Nakasone & Paull,
1998)[35]. Hoa sẽ ra ngay ở cuối cành mới bật. Ở Trung Quốc, Đài Loan tỉa quả
thông thường vào tháng 1 hoặc tháng 2, thu hoạch từ 9. Tuy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
9
Cần điều chỉ ới 6,0 bằng bón đô-lô- mit hoặc vôi bột. (dẫn theo
A.C.de Q. Pinto, 2005)[36]
Ở Ấn Độ phân bón cho cây vào đầu mùa mưa với tỷ lệ 250g N + 125 g P +
125g K cho 1 cây (Anon, 1981). Việc bón phân cho na căn cứ vào tuổi cây và tùy
từng loài. Ibar (1979)[32] khuyến cáo bón phân cho cherimoya trong giai đoạn chưa
cho quả (1-3 năm tuổi) như sau: cây 1 năm tuổi: 240g N + 120g P + 120 g K; cây 2
năm tuổi: 360 g N + 180g P + 180g K; cây 3 năm tuổi: 480g N + 240g P + 240g K
(cho 1 cây/năm).
Ngoài phân tích đất, phân tích lá để bón phân cho na cũng đã được áp dụng ở
nhiều nước (Lapros, 1991)[33]. Hàm lượng các nguyên tố đa lượng và vi lượng biểu
hiện trong lá khi đủ dinh dưỡng hoặc thiếu phụ thuộc vào từng loài, ví dụ: Loài
cherimoya, hàm lượng các nguyên tố N,P,K trong lá cây bình thường đủ dinh dưỡng
là: 1,9 - 0,17 - 2,0%; ở cây thiếu dinh dưỡng là 0,72 - 0,09 - 1,00%; Loài soursop:
cây đủ dinh dưỡng là 1,76 - 0,29 - 2,6% và cây thiếu dinh dưỡng là 1,10 - 1,11 -
1,26%. Loài sugar apple cây đủ dinh dưỡng N là 2,8 -3,4; P: 0,34 ; K: 0,87 -
2,47%; cây thiếu dinh dưỡng N là 1,9 - 2,8; P: 0,17 - 0,19 và K là 0,75 - 1,66.
Kích thước quả, màu sắc, hình dạng và vị quả là những đặc điểm chất lượng
đều bị ảnh hưởng do thiếu dinh dưỡng (Mengel & Kirkby, 1987)[34]. Undurraga et
al (1995)[40] báo cáo rằng nếu bón 4,14 - 6,72 kg N (dạng urea)/cây cherimya
giống “Concha Lias” ở Colombia thì TSS là thấp nhất, thịt quả cứng và nhiều a xít.
Ông khuyến cáo nếu bón 4,14 kg N /cây sẽ làm giảm chất lượng quả khi bảo quản.
Quả na chứa hàm lượng kali rất cao nên để tránh tình trạng thiếu kali ảnh
hưởng đến chất lượng quả, thì hàm lượng kali trong lá nên duy trì ở mức 1,0%
(Torres & Sanchez, 1992; Silva & Silva, 1997)[39].
Đối với cây trong giai đoạn đã cho quả, người ta đã tính được rằng lượng dinh
dưỡng trong đất bị lấy đi từ quả phụ thuộc vào loài, giống và nâng suất (Mengel &
Kirkby, 1987)[34]. Guirado (1999) nghiên cứu vườn cherimoya với mật độ 156
cây/ha và năng suất 89,7 kg/cây, khi phân tích 1kg quả thấy tổng số lượng dinh
cây trong vườn, ăn quả không phải là mục đích chính; còn Bình bát là cây mọc
bán hoang dại, Trần Thế Tục, 2008 [19].
Na có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nên thích hợp với khí hậu ấm áp và khô.
Tuy vậy cây vẫn sinh trưởng được trong điều kiện nóng ẩm. Nhiệt độ thích hợp cho
na sinh trưởng phát triển là 17 – 25
o
C. Na rất sợ rét, chịu rét kém hơn vải, nhãn và
chanh. Cây trưởng thành có thể chịu được nhiệt độ 0
o
C trong thời gian ngắn, xong
rụng hết lá. Ở 40
o
C cây đã bị thiệt hại do nhiệt độ thấp, vì vậy thấy na ít mọc ở các
điểm vùng cao các tỉnh phía Bắc, nơi hàng năm có sương muối. Nhưng nếu ở các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
vùng có nhiệt độ mùa Hè quá cao >40
o
C, lại bị hạn hoặc khô nóng cũng không
thích hợp cho việc thụ phấn, thụ tinh của na và sự phát triển của quả, dễ gây nên
hiện tượng rụng quả sau khi thụ tinh xong hoặc nếu quả phát triển được cũng rất
kém về năng suất và phẩm chất, Trần Thế Tục, 1998 [16].
Na không kén đất, chịu hạn tốt, không thích đất úng. Đất cát sỏi, đất thịt nặng,
đất có vỏ xò, hến, đất đá vôi đều trồng được na. Nhưng tốt nhất là đất có tầng canh
tác dầy, đất rừng mới khai phá, đất đồi ven sông suối, đất chân núi đá vôi thoát
nước nhiều mùn giàu dinh dưỡng là thích hợp hơn cả, độ PH: 5,5 - 7,4. Na ưa khô
để rụng lá và sẽ mọc chồi hoa. Ở Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận vào mùa khô sau
khi thu hoạch quả xong cây na rụng lá một phần, Trần Thế Tục, 1998 [16]
Cây na thuộc chi na (Annona), họ na (Annonaceae). Chi na có nhiều loài, ở Việt
Nam có bốn loài là na dai (Annona Squamosa), na xiêm (Annona Muricata), Nê
(Annona reticulata), Bình bát (Annona glabra). Trong đó chỉ có na dai, na xiêm được
trồng tập trung với mục đích kinh doanh, còn nê thì trồng lẻ tẻ vài cây trong vườn, vì
quả ăn được nhưng chất lượng kém, quả bình bát cũng ăn được nhưng chất lượng còn
kém hơn nữa, chủ yếu là cây mọc dại, Trần Thế Tục 1998 [16]
Phân loại theo yêu cầu sinh thái:
- A. squamosa (na, mãng cầu ta): khá chịu lạnh, cần khô và được trồng khá
phổ biến ở các nước nhiệt đới ở độ cao 300 – 500m so với mặt nước biển.
- A. muricata (mãng cầu Xiêm): ưa nhiệt, ẩm nên chỉ trồng được ở các vùng
nhiệt đới có nhiệt độ, độ ẩm cao.
- A. glabra (bình bát): chịu mặn, ánh sáng nên được trồng ở vùng duyên hải
nhiệt đới để làm cây chắn sóng, giữ đất hoặc làm gốc ghép, chọn tạo giống.
- A. reticulata (nê): được trồng ở vùng nhiệt đới có nhiệt độ không cao nhưng
ẩm; được trồng để làm vật liệu tạo giống. Nhiều vùng còn gọi nê là na núi vì nó
trồng ở vùng nhiệt đới cao, Dẫn theo, Trần Thế Tục 1998 [16]
Tên gọi Mãng cầu hay Annona ở nước ta có sự khác nhau. Ở miền Bắc gọi
Annona squamosa là na, gồm 2 loại là na dai và na bở, gọi Annona muricata là mãng
cầu, Annona glabra là bình bát, Annona reticulata là nê. Ở miền Nam chỉ khác là gọi
Annona squamosa là mãng cầu dai và gọi Annona muricata là mãng cầu xiêm.
Vị trí của cây na trong hệ thống phân loại thực vật:
Giới: Plantae
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
Ngành: Magnoliophyta
Lớp: Magnoliopsida
Bộ: Magnoliales
Họ: Anonaceae
+ Na bở: vỏ màu xanh, thịt bở, khó bóc vỏ hơn so với na dai, quả thường
hay nứt, hạt khó tách khỏi thịt quả hơn, ăn ngọt, song thịt quả không chắc, Trần
Thế Tục 1998 [16]
Hiện nay, ở một số nước châu Á (Đài Loan, Thái Lan, Philippin…) đã và đang
phổ biến trồng giống lai giữa A. squamosa với A. muricata với tên gọi là Cherimosa
có quả to, chất lượng quả tốt, ít hạt. Việt Nam đã du nhập và đang trong quá trình
khảo nghiệm để đưa ra sản xuất, Trần Thế Tục et al., 1998 [17]
1.3.3. Những nghiên cứu nhằm thúc đẩy sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và tăng năng suất na
1.3.3.1. Nghiên cứu về phân bón
Để cây na sớm cho quả và năng suất cao cần bón kết hợp giữa phân hữu cơ và
vô cơ đủ số lượng và đáp ứng nhu cầu của cây ở các thời kỳ sinh trưởng, ra hoa kết
quả trong năm. Có thể bón cho na theo liều lượng sau:
Bảng 1.1. Lƣợng phân bón cho na theo tuổi cây
Tuổi cây
Loại phân
Lƣợng bón (kg/cây)
1 - 4 năm
5 - 8 năm
Trên 8 năm
Hữu cơ
15 – 20
2 – 25
30 – 40
Đạm Ure
0,6 – 0,8
1,0 - 1,5
1,5 - 2,0
Supe lân
0,3 – 0,4
0,5 - 0,8
Nuôi quả, cành
-
-
50
40
3
10-11
Bón lót kết hợp
đổ đất quanh gốc
100
100
-
30
[Nguồn: Bộ Nông nghiệp &PTNT, 2004 - Sổ tay trồng và chăm sóc một loại cây ăn quả [1]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
Cách bón: cuốc rãnh hoặc hố quanh tán. Nếu bón thúc thì cuốc nông 10cm, bón
lót cuối năm cuốc rộng 20cm, sâu 30cm, bón xong lấp đất.
1.3.3.2. Nghiên cứu về các biện pháp điều khiển sinh trưởng phát triển, ra hoa, đậu
quả và tăng năng suất na.
a. Điều khiển ra hoa trái vụ cho na
Điều khiển ra hoa trái vụ cũng là một khâu trong quy trình kỹ thuật thâm canh
na. Đặc điểm của na là sau khi rụng lá, cành sẽ nảy chồi lá mới, trên đó có mang
theo hoa. Tùy từng vùng mà có cách xử lý ra hoa rải vụ như sau:
Ở những vùng khô hạn cục bộ trong năm có thể thông qua việc điều tiết nước
kết hợp với việc bón phân như kiểu "xiết nước" với vườn quýt ở đồng bằng sông
Cửu Long, làm cho cây ra hoa chậm lại.
Để tự nhiên na rụng lá vào tháng 12 - 1, ra hoa, quả vào tháng 5 - 6, chín vào
kém bóng đi một chút, rõ hơn nữa là các gai trên lưng mỗi múi tách nhau ra và trương
nước. Khác na dai, na xiêm hầu như chín quanh năm, Trần Thế Tục, 2008 [19].
Thường dùng nhiệt độ thấp để bảo quản. Theo Prasanna, K.N.V (2000) để
đảm bảo được cảm quan và chất lượng quả tốt nhất là bảo quản trong nhiệt độ 15 –
20
o
C, độ ẩm không khí 85 - 90%. Trước khi bảo quản cần dùng 0,5 - 1,0 g/lít
Benlate xử lí quả trong 5 giây hay 500 mg/lít Carbendazin ngâm trong 1 phút để
chống nấm bệnh làm thối quả; Dẫn theo, Trần Thế Tục, 2008 [19].
1.3.4. Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh
Na được coi là một loại cây ít sâu bệnh nguy hiểm, xong nếu trồng tập trung
thì vườn cây thường có rất nhiều sâu bệnh hại, ảnh hưởng đáng kể tới năng suất,
phẩm chất quả. Vì vậy cần thường xuyên theo dõi để kịp thời phát hiện sâu bệnh hại
và có biện pháp phòng trừ kịp thời.
1.3.4.1. Các loại sâu hại
a. Sâu hại hoa còn gọi là bọ đục bông, sâu vòi voi
Thuộc bộ cánh cứng. Sâu trưởng thành hình bầu dục màu nâu xám. Sâu non có
màu trắng sữa, đầu màu nâu. Sâu trưởng thành hoạt động chủ yếu vào ban ngày,
thường tập trung phía trong cánh hoa và đẻ trứng luôn trong đó. Sâu non, sâu trưởng
thành đều cắn phá cánh hoa.
Cách phòng trừ: dùng Sago – Super 20EC, thuốc có tính xông hơi mạnh nhưng
lại dễ phân huỷ trong thời gian ngắn để phun cho cây. Liều lượng sử dụng là 20 – 25
ml pha trong một bình 8 ít nước phun đều trên tán cây vào lúc sáng sớm hay chiều mát.
Phun 2 lần, lần thứ 2 cách lần thứ nhất 15 ngày, Nguyễn Danh Vàn 2002 [21]