A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I- LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách
nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý (CBQL)
giáo dục là lực lượng nòng cốt có vai trò quan trọng.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên là lực lượng cơ bản tham gia xây
dựng và phát triển nhà trường, trong đó đội ngũ giáo viên có vai trò quyết
định chất lượng giáo dục, là lực lượng cơ bản tham gia hoạch định chiến
lược và xây dựng các kế hoạch phát triển nhà trường. Cùng với hiệu trưởng,
họ tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, huy động và sử dụng các
nguồn lực để phát triển nhà trường. Đội ngũ giáo viên có vai trò rất quan
trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục. Hoạt động trung tâm của nhà
trường là dạy học và giáo dục. Để phát triển toàn diện học sinh, thầy giáo, cô
giáo sẽ là lực lượng trực tiếp thực hiện chương trình giáo dục của cấp học.
Chất lượng giáo dục của nhà trường phần lớn là do đội ngũ giáo viên quyết
định. Do đó phát triển đội ngũ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển
nhà trường.
Sản phẩm của họ khác với sản phẩm của các loại hình lao động khác ở
chỗ: sản phẩm này tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật chất, đó là “Nhân cách
- Sức lao động”. Lao động của nhà giáo trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát
triển đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững. Một ngày
thiếu giáo dục đất nước không thể tồn tại được và giáo dục không có người
thầy không thể vận động được.
Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác giáo
dục. Người coi giáo viên (GV) trong chế độ mới hoàn thành được nhiệm vụ
của Đảng, nhân dân giao cho là những người “Anh hùng vô danh". Người
cũng rất quan tâm tới công tác đào tạo con người thông qua hoạt động giáo
Trang
1
định về số lượng, đồng bộ về chất lượng, có tỷ lệ trình độ đào tạo trên chuẩn
ngày càng cao. Đội ngũ cán bộ giáo viên có ý thức trách nhiệm, nhiệt tình,
tâm huyết với công việc, nhận thức chính trị vững vàng và luôn giữ được
đoàng kết nội bộ. Năng lực sự phạm ngày càng được củng cố và nâng cao,
đáp ứng được yêu cầu của giáo dục phổ thông.
Thực trạng đội ngũ cán bộ giáo viên ở Thị xã Bỉm Sơn trong năm học
2009-2010 được thống kê với số liệu như sau:
Toàn ngành có 529 giáo viên (trong đó Tiểu học: 261 người; THCS:
268 người;)
- Số giáo viên thừa: TH 15 người; THCS: 54 người.
- Số giáo viên thiếu: 0
- Số giáo viên nữ toàn ngành: 429 (trong đó TH: 203; THCS: 226)
chiếm tỷ lệ: 81%.
- Trình độ đào tạo:
+ Đạt chuẩn: TH: 100%; THCS: 98,7%
+ Trên chuẩn: TH: 28,7%; THCS 31%
Nhìn chung giáo viên trên địa bàn Thị xã đủ về số lượng, có trình độ
chuẩn theo quy định, đảm bảo về chất lượng, có khả năng đảm nhận công
tác giảng dạy theo yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay. Sự phân cấp quản
lý GD đặc biệt là lĩnh vực nhân sự và tài chính đã có bước tiến bộ; công tác
bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ đã được tổ chức thực hiện chặt chẽ, đảm bảo
đúng quy trình, tạo nên động lực phấn đấu trong đội ngũ, tạo nên sự phát triển
các trường học nói riêng, ngành GD&ĐT nói chung.
2. Thực trạng đội ngũ giáo viên trường THCS Xi Măng.
Danh mục
Tổng số
Ghi chú
1. TS cán bộ GV,NV 35
- Nam 6
- GV giỏi tỉnh 1
- GV giỏi huyện 4
- GV giỏi trường 22
5. Độ tuổi
- Từ 20 - 30 tuổi 2
- Từ 31 - 40 tuổi 11
- Từ 41 - 50 tuổi 15
- Từ 51 < 60 tuổi 7
- Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đội ngũ CBGV, nhân viên có trình độ
chuyên môn được đào tạo theo đúng trình độ chuẩn của giáo viên giảng dạy
ở cấp học: 100% đạt chuẩn; 30% giáo viên đạt trên chuẩn; 20% giáo viên
Trang
4
đang học trên chuẩn. 80% có chứng chỉ tin học, ngoài những giáo viên ngoại
ngữ, không có giáo viên có chứng chỉ bằng A tiếng Anh và đây là một hạn
chế cho đổi mới phương pháp dạy học, việc tiếp cận với tri thức công nghệ
thông tin thời hội nhập vào dạy học,.
Nhìn chung đội ngũ giáo viên phân rõ thành 2 thế hệ. Giáo viên tuổi
đời, tuổi nghề cao, thuộc thế hệ lớp trước, có kinh nghiệm, nhiệt tình giảng
dạy, tâm huyết với nghề song việc tiếp cận kiến thức mới và đổi mới phương
pháp dạy học còn nhiều hạn chế. Giáo viên thiên về thuyết trình giảng giải,
học sinh thụ động ghi chép, học thuộc một cách máy móc
Thế hệ trẻ đào tạo chính quy có kiến thức mới, phong phú, chắc chắn
ở nhiều lĩnh vực. Họ có ý thức và mạnh dạn trong việc đổi mới có ý thức đổi
mới phương pháp dạy và học. Tham gia các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể
dục thể thao, hoạt động tập thể khá sôi nổi. Tuy nhiên đội ngũ này còn hạn
chế về phương pháp dạy học. thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy, lòng nhiệt
tình chưa cao.
Đội ngũ này cơ bản thực hiện nghiêm túc các quy định về chuyên
môn, như soạn bài, giảng dạy, chấm bài, chữa bài đúng quy chế; phần lớn có
trường hàng năm được bổ sung, từng bước chuẩn hoá về trình độ và cân đối
về cơ cấu. Hiện nay, đội ngũ giáo viên khá đủ về số lượng; đảm bảo về chất
lượng. Về cơ bản đội ngũ CBGV đã đáp ứng được yêu cầu, trình độ chuyên
môn, đa số giáo viên nhiệt tình, say mê tâm huyết với nghề, hàng năm nhà
trường luôn chú trọng đến nâng cao từng bước chất lượng đội ngũ. Song do
yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, thay sách giáo khoa
(SGK) nên đội ngũ giáo viên hạn chế nhiều mặt, nhất là việc đổi mới
phương pháp dạy học để đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Mặt khác nguồn nhân lực đội ngũ của trường là phụ thuộc vào sự điều
động của cấp trên,. Vì vậy việc xây dựng phát triển đội ngũ là việc làm khó
khăn, việc lập kế hoạch chỉ mang tính lý thuyết. Các chế tài của nhà nước
chưa cho phép các hiệu trưởng chủ động muốn xây dựng một cơ chế tài
Trang
6
chính, nhằm thu hút giáo viên hoặc cân đối đội ngũ cho hợp lý thì các việc
này đều vượt khỏi tầm tay.
III, KẾT QUẢ THỰC TRẠNG
Với những khó khăn có tính đặc thù của địa phương, của nhà trường
hiện nay, công tác phát triển đội ngũ đang đứng trước những thách thức:
giữa yêu cầu phát triển nhanh về quy mô và yêu cầu nâng cao chất lượng
giáo dục. Số lượng giáo viên vẫn còn môn thừa môn thiếu, cơ cấu đội ngũ
chưa đồng bộ, tỷ lệ giáo viên trên chuẩn còn thấp, các kiến thức bổ trợ như:
ngoại ngữ, tin học của giáo viên còn yếu, một bộ phận đội ngũ chưa đáp ứng
đầy đủ yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD trong
giai đoạn hiện nay việc quy hoạch, kế hoạch chỉ mới dừng lại ở phát triển về
số lượng, chuẩn về chất lượng đội ngũ còn chung bậc giáo dục phổ thông.
Công tác phát triển đội ngũ của nhà trường mà chủ yếu tập trung vào
công tác: Bồi dưỡng đội ngũ chuyên môn nghiệp vụ, tăng cường các hoạt
động chuyên môn; đánh giá giáo viên; thi đua khen thưởng; xây dựng đạo
đức nhà giáo; hỗ trợ giáo viên
tích cực và hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Trong qúa trình thực hiện còn một số bất cập, hạn chế như sau:
- Hiệu trưởng chưa tạo được môi trường học tập thường xuyên, chưa
định hướng rõ cho CBGV phải học những nội dung gì, ở tầm nhìn xa, mà chỉ
chú trọng việc thực hiện chuyên môn ở các tiết dạy hàng ngày.
- Việc chỉ đạo đánh giá đội ngũ chưa chính xác. Đánh giá còn chung
chung, còn cả nể, tỷ lệ giáo viên đạt giỏi quá nhiều mà thực tế lại ko đạt
được như vậy.
- Việc xây dựng đạo đức nhà giáo hiệu quả còn chưa cao, một số giáo
viên chưa thực sự chuyên tâm với nghề, giảng dạy thiếu nhiệt tình, thiếu
trách nhiệm
Từ kết quả trên, tôi thấy được việc phát triển đội ngũ là một vấn đề
hết sức quan trọng và cần thiết đối với các nhà quản lý giáo dục. Người hiệu
Trang
8
trưởng nhà trường phải xem kế hoạch phát triển đội ngũ là một trong những
yếu tố quan trọng, đảm bảo sự thực hiện thành công tầm nhìn, sứ mệnh của
nhà trường. Phát triển đội ngũ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển
nhà trường. Vì vậy tôi mạnh dạn nghiên cứu về vấn đề này để tìm những giải
pháp nâng cao hiệu quả phát triển đội ngũ trong nhà trường THCS.
B- CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
I- MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1. Vai trò của Đội ngũ - Đội ngũ giáo viên đối với sự phát triển nhà
trường.
Như đã nói ở trên, Đội ngũ - Đội ngũ giáo viên có vai trò rất quan trọng
cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục. Thời đại ngày nay với những đặc
trưng: nền kinh tế tri thức, khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão và
toàn cầu hoá, vai trò chức năng của nhà trường nói chung và đội ngũ giáo
viên nói riêng đã có những thay đổi đáng kể: Nhà trường từ chỗ khép kín,
chuyển sang mở cửa rộng rãi và gắn kết với cộng đồng, gắn bó với sự phát
công vào vị trí thích hợp để phát huy tối đa năng lực và sự sáng tạo của mỗi
cá nhân; biết khéo trong đối xử, biết quản lý những xung đột trong tập thể
biến thành những xung đột có ích; biết quản lý sự biến đổi trong nhà trường;
có khả năng cảm hoá mọi người bằng vốn hiểu biết, sự nêu gương, bằng tình
cảm chân thành cũng như ý chí nghị lực của mình.
- Với vai trò là tác nhân thúc đẩy phát triển đơn vị: Hiệu trưởng phải là nhà
sư phạm mẫu mực, là nhà giáo có chuyên môn giỏi, là nhà giáo dục có tâm
hồn, có tấm lòng bao dung rộng mở, là nhà nghiên cứu khoa học giáo dục;
nêu gương về tinh thần “tự học và sáng tạo”; biết nghiên cứu, truyền đạt và
Trang
10
áp dụng những kinh nghiệm chuyên môn, những thành tựu mới về khoa học
giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường.
II- CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Phát triển đội ngũ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của nhà
trường, người hiệu trưởng có vai trò quan trọng trong việc phát triển đội
ngũ. Tuy nhiên đây là nhiệm vụ chung của mọi cán bộ quản lý, giáo viên,
nhân viên nhà trường; chứ không chỉ là của hiệu trưởng. Để đạt hiệu quả
cao, hiệu trưởng phải tập trung lãnh đạo phát triển đội ngũ. Công tác lãnh
đạo phát triển đội ngũ được thực hiện bằng các giải pháp sau:
1- Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ.
Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ phải dựa trên tầm nhìn sứ
mạng; mục tiêu và thực trạng của nhà trường, người hiệu trưởng phải xác
định rõ định hướng chiến lược phát triển đội ngũ nhà trường; thu hút và tập
hợp được các lực lượng tham gia quá trình xây dựng kế hoạch phát triển đội
ngũ của nhà trường theo định hướng đã xác định và tuân thủ quy trình lập kế
hoạch cụ thể và thiết thực. Để có kế hoạch phát triển đội ngũ mang tính khả
thi, người hiệu trưởng phải phân tích bối cảnh, đánh giá được thực trạng đội
ngũ và dự báo nhu cầu phát triển đội ngũ nhà trường.
Sau khi xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ, hiệu trưởng tổ chức
đầu.Tạo ra môi trường học tập để mọi người cùng nhau học tập một cách
chủ động và sáng tạo ( Hiệu trưởng học, giáo viên học, học sinh
học ) Lãnh đạo thực hiện các hoạt động bồi dưỡng định kì: Bồi dường
thường xuyên trong hè. Bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng thực hiện chương
trình, sách giáo khoa tự học, tự bồi dưỡng
Để hỗ trợ giáo viên hiệu trưởng những công việc cơ bản sau:
- Tiến hành phân loại giáo viên để hỗ trợ.
- Chọn lựa đội ngũ giáo viên hướng dẫn (kèm cặp), dựa trên một số tiêu chí
cơ bản như: Phải có định hướng rõ ràng: hỗ trợ giáo viên đến đâu? Đạt được
gì ? tinh thần hỗ trợ; hiểu rõ ràng mục tiêu cụ thể của việc hỗ trợ và biết cách
làm thế nào để đạt mục tiêu; tôn trọng những đặc điểm riêng của đối tượng
được hướng dẫn.
- Xác định quy tắc, nội dung và phương pháp hỗ trợ
1.1.1. Nội dung hỗ trợ chuyên môn giáo viên
- Hỗ trợ giáo viên đổi mới họat động dạy học
Trang
12
- Lãnh đạo việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
hóa hoạt động học tập của người học. Dạy để làm thay đổi người học, do đó
phải thay đổi cách dạy, chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang tổ chức
hoạt động học tập cho học sinh. Thực hiện phương châm:“Dạy ít, học
nhiều”, tạo cơ hội cho học sinh “được suy nghĩ nhiều hơn, hành động nhiều
hơn, hợp tác học tập với nhau nhiều hơn, bày tỏ ý kiến của mình nhiều hơn”,
tăng cường hoạt động của học sinh trong giờ lên lớp.
Để thực sự đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) trong nhà trường,
người hiệu trưởng phải hiểu rõ về các PPDH tích cực, có khả năng thực hiện
dạy học theo tinh thần đổi mới PPDH. Người hiệu trưởng phải chú trọng
phát triển năng lực sư phạm cho giáo viên, tạo cơ hội cho giáo viên thể hiện,
tin tưởng ở họ. Tạo ra nhu cầu cho giáo viên muốn thay đổi cách dạy. Huy
động nguồn lực để hỗ trợ giáo viên đổi mới PPDH. Xây dựng văn hóa hợp
của mình. Muốn vậy, hiệu trưởng phải có kiến thức, kĩ năng nhất định để sử
dụng công nghệ thông tin trong quản lí và bồi dưỡng giáo viên.
Thực hiện bồi dưỡng và tự bồi dưỡng với sự hỗ trợ của Công nghệ
thông tin (Hiệu trưởng cùng với giáo viên tham gia các chương trình đào tạo
từ xa để học tập, khai thác các nguồn học liệu mở để tự học tự bồi dưỡng,
tham gia các diễn đàn trao đổi trên mạng để học hỏi lẫn nhau nhằm phát
triển chuyên môn). Hướng dẫn giáo viên thực hiện các bài giảng điện tử
- Đổi mới họat động dự giờ để hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên
Dự giờ không chỉ để đánh giá giáo viên mà còn là một hoạt động để
hỗ trợ giáo viên về chuyên môn rất hiệu quả. Hiệu trưởng cần chỉ đạo đổi
mới hoạt động dự giờ của giáo viên. Mục tiêu của dự giờ không chỉ dừng lại
ở việc kiểm tra, đánh giá giờ giảng của giáo viên mà phải chú trọng đến việc
tư vấn và thúc đẩy việc phát triển chuyên môn.
1.1.2.Theo dõi đánh giá quá trình hỗ trợ giáo viên:
Cũng như các hoạt động khác trong nhà trường, khi đã triển khai thực
hiện đều cần thiết có một sự đánh giá nghiêm túc để khẳng định kết quả đạt
được, rút ra các bài học kinh nghiệm và xác định những nội dung điều chỉnh
Trang
14
cần thiết để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hỗ trợ
giáo viên. Hiệu trưởng có kế hoạch theo dõi đánh giá quá trình hỗ trợ giáo
viên thông qua các hoạt động dạy học, theo dõi những giáo viên được kèm
cặp hỗ trợ, đã đạt được những gì, sự tiến bộ của giáo viên đó như thế nào?Từ
đó để có biện pháp khắc phục,
1.2. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của nhà trường và là trách nhiệm của hiệu trưởng. Ngày 16/4/2008, Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành qui định về đạo đức nhà giáo
(kèm theo quyết định số 16/2008/QĐ-BGD-ĐT). Qui định đề cập:
- Chuẩn về tư tưởng, chính trị.
trưởng phải tổ chức được lực lượng kiểm tra đánh giá, xây dựng kế hoạch
kiểm tra đánh giá hợp lí và tổ chức kiểm tra đánh giá khách quan công bằng
dựa vào các tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của từng đối tượng để đưa
ra kết luận đánh giá. Các kết luận đánh giá cần hướng đến sự phân loại đội
ngũ để làm căn cứ cho việc sử dụng, bồi dưỡng đội ngũ của nhà trường.
Đánh giá hoạt động chuyên môn trong nhà trường có thể thông qua các hoạt
động như: Dự giờ (đối với giáo viên); kiểm tra hồ sơ chuyên môn; thu thập
thông tin phản hồi từ các đối tượng có liên quan…
- Đánh giá sự cống hiến xây dựng nhà trường và thực hiện đổi mới
hoạt động chuyên môn: Đôi khi hiệu trưởng chú trọng đến đánh giá thành
tích mà chưa xem xét thỏa đáng đến sự cống hiến xây dựng nhà trường của
mỗi cá nhân. Việc đánh giá đúng sự cống hiến là một trong những yếu tố
tạo nên động lực làm việc trong tổ chức. Sự sáng tạo và mạnh dạn đổi mới
của mỗi cá nhân và nhóm trong nhà trường cũng cần được đánh giá một
cách công bằng. Hoạt động này thường được thực hiện thông qua báo cáo
các sáng kiến kinh nghiệm.
- Đánh giá tiềm năng của đội ngũ và khả năng thích ứng với sự phát
triển của nhà trường: Đây là một hoạt động đánh giá đòi hỏi sự tham gia
của nhiều lực lượng. Mỗi cá nhân phải tự đánh giá kết hợp với đánh giá của
tập thể. Hoạt động đánh giá tiềm năng của đội ngũ là một phần không thể
thiếu trong việc hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch hành động
phát triển nhà trường.
III-CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của đội ngũ trong nhà trường
Nhận thức là tiền đề của hoạt động, có nhận thức đúng mới có hành động
đúng là cơ sở để hướng tới kết quả hoàn thiện. Do vậy, cần thiết phải nâng
Trang
16
cao nhận thức về vai trò, vị trí, sứ mệnh của đội ngũ mà trước hết là đội ngũ
cán bộ quản lý (CBQL) trường học (Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, các tổ
HĐH và xây dựng tiêu chí để tự đánh giá, học tập rèn luyện của CBQL đáp
ứng các yêu cầu; tuyển chọn và sử dụng CBQL một cách hợp lý, tạo điều
kiện để CBQL tham gia học tập các lớp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ quản
lý nhằm thực hiện đạt chuẩn CBQL và GV trong mỗi nhà trường; tăng
cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế cận để trẻ hoá đội ngũ CBQL;
đào tạo trình độ trên chuẩn cho đội ngũ CBQL.
4. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá khen thưởng đội ngũ
Hiệu trưởng trường phổ thông cần tổ chức quán triệt các văn bản của
ngành liên quan đến tổ chức hoạt động kiểm tra- thanh tra GD, đánh giá và
xếp loại cho đội ngũ; thực hiện tốt kế hoạch thanh tra, kiểm tra nội bộ trường
học; đánh giá, xếp loại đội ngũ theo Quyết định số 06-2006 của Bộ Nội vụ
và Hướng dẫn số 5875/BGDĐT-TCCB của Bộ GD&ĐT; đổi mới hoạt động
thông tin, coi trọng chế độ thông tin hai chiều, chính xác, kịp thời. Tăng
cường sự lãnh đạo của tổ chức Đảng đối với công tác quản lý đội ngũ. Trong
đánh giá thi đua phải đảm bảo: khách quan, dân chủ và công khai; tuyên
dương khen thưởng kịp thời, phê bình kiểm điểm đúng lúc, đúng cách.
5. Đa dạng hóa nội dung, hình thức bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ
Cần quán triệt về mục đích, ý nghĩa của hoạt động bồi dưỡng và tự bồi
dưỡng để CBQL và GV xem là nhiệm vụ và quyền lợi của mình. Tạo điều
kiện tốt nhất để họ tự học, tự bồi dưỡng, biến quá trình bồi dưỡng thành quá
trình tự bồi dưỡng. Đa dạng hoá nội dung và hình thức bồi dưỡng đội ngũ;
kiểm tra, đánh giá công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ. Xây dựng nhân
tố điển hình về tinh thần tự học, tự bồi dưỡng. Trong đó, hiệu trưởng phải là
tấm gương về tinh thần tự học, tự bồi dưỡng.
6. Tăng cường hiện đại hoá cơ sở vật chất, phương tiện hỗ trợ dạy học
Hiệu trưởng trường phổ thông cần tổ chức tuyên truyền, phổ biến kịp
thời các văn bản liên quan đến công tác quản lý tài chính và tài sản, cơ sở
Trang
18
vật chất đến cán bộ, giáo viên, nhân viên. Hằng năm cần đánh giá hiện trạng
Người hiệu trưởng trường phổ thông phải xuất phát từ đánh giá thực trạng
điều kiện thuận lợi và khó khăn, thách thức và thời cơ của nhà trường, trên cơ
sở lý luận khoa học quản lý giáo dục và các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà
nước để lựa chọn những biện pháp thích hợp, hiệu quả nhất đối với đơn vị
mình, tạo nên sự phát triển bền vững trong mỗi nhà trường, đáp ứng yêu cầu
đổi mới phát triển sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Năm học GV có chứng
chỉ NN, Tin
học
GV biết
sử dụng
CNTT
vào dạy
học
Trình độ dào tạo Số GV đạt danh hiệu TT, GVG,
CSTĐ hàng năm
Cấp trường
Tiến
g
Anh
Tin
học
Chuẩn Trên
chuẩn
LĐTT GVG
cấp
trường
GVG,
CSTĐ cơ