1 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1. Nguyễn Đình Mão, Nguyễn Địch Thanh (2008), “Nghiên
cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản cá hồng bạc Lutjanus
argentimaculatus (Forsskal, 1775) ở vùng biển Nha Trang,
Khánh Hòa”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số (3), tháng 8 (2008).
Trang: 57 – 71.
2. Nguyễn Địch Thanh (2009), “Nghiên cứu nuôi vỗ thành
thục cá bố mẹ và cho đẻ cá hồng bạc Lutjanus
argentimaculatus (Forsskal, 1775) tại Nha Trang, Khánh
Hòa”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Trường Đại
học Nha Trang, số đặc biệt (2009). Trang: 25 – 34.
3. Nguyễn Địch Thanh (2010), “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất
giống nhân tạo cá hồng bạc Lutjanus argentimaculatus
(Forsskal, 1775) tại Nha Trang, Khánh Hòa”, Tạp chí Khoa
học Công nghệ và Môi trường Khánh Hòa, số (3), 2010.
Trang: 3 – 6.
4. Nguyễn Địch Thanh (2011), “Nghiên cứu ảnh hưởng của
thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng bạc
Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775) giai đoạn mới nở
đến 30 ngày tuổi”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản,
Trường Đại học Nha Trang, số (4), 2011. Trang: 21 – 26.
những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, nhằm đáp ứng nhu cầu con giống
cho nuôi thương phẩm, góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá biển ở Việt
Nam phát triển trong những năm tới, thực hiện theo quyết định: "Quy
hoạch phát triển nuôi cá biển đến năm 2015 và định hướng đến năm
2020" phê duyệt ngày 08 tháng 07 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn. 2Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, tôi được Bộ Giáo dục và
Đào tạo đồng ý cho thực hiện đề tài luận án:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá hồng
bạc Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775) và ảnh hưởng của
thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống ở giai đoạn cá bột, tại Nha
Trang, Khánh Hòa”
MỤC TIÊU CỦA LUẬN ÁN
Luận án nghiên cứu xác định, bổ sung các dẫn liệu khoa học về
đặc điểm sinh học sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá
hồng bạc Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775).
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN
ÁN
• Ý nghĩa khoa học
Luận án đã thu được các dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh
học sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá hồng bạc
Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775) tại Khánh Hòa, phục vụ
công tác nghiên cứu và đào tạo kỹ thuật sản xuất giống cá biển.
• Ý nghĩa thực tiễn
+ Luận án nghiên cứu thành công kỹ thuật sản xuất giống nhân
75mm, trung bình 61,80 ± 8,68mm, tỷ lệ sống 55,78 -
58,58%. So với ương trong bể, ương bằng giai cá tăng trưởng
nhanh hơn và tỷ lệ sống cao hơn.
ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
• Cần nghiên cứu cho ăn các loại thức ăn khác nhau trong quá
trình nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ, phân tích thành phần sinh
hóa của thức ăn và của trứng để xác định loại thức ăn tốt nhất
đảm bảo nâng cao hệ số thành thục, khả năng tái phát dục,
chất lượng trứng và chất lượng cá bột.
• Lưu giữ giống và nuôi luân trùng (Brachionus rotundiformis)
siêu nhỏ dòng (ss), thử nghiệm cho cá bột cá hồng bạc ăn khi
hết noãn hoàng, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ương
và nâng cao tỷ lệ sống của giai đoạn cá bột.
3 CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA LUẬN
ÁN:
1. Một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá hồng bạc
2. Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá hồng bạc
3. Kỹ thuật ương nuôi cá bột mới nở đến cá giống cỡ 3-5cm
ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN:
1. Nghiên cứu bổ sung các dẫn liệu về một số đặc điểm sinh
2.5. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.6. NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
2.6.1. Đặc điểm hình thái và các chỉ số đo, đếm
2.6.2. Đặc điểm sinh trưởng
Xác
định
mùa
vụ
sinh
sản
Xác
Chọn
cá
thành
thục
và
kích
thích
cho đẻ
Thử
nghi
ệm
ương
nuôi cá
b
ột mới
n
ở đến
30
ngày
tuổi
Nghiên
cứu ảnh
hưởng
c
ủa thức
ăn, độ
m
ặn, mật
độ đến
ệm
ương
giống
bằng
giai trên
biển
Thử
nghi
ệm
ương
giống
trong
bể xi
măng
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Kết luận và đề xuất ý kiến 25tăng trưởng nhanh nhất và tỷ lệ sống cao nhất, lần lượt là
15,03 ± 0,414
b
mm và 13,05 ± 1,64%.
• Ương trong điều kiện độ mặn 25ppt cá tăng trưởng nhanh
nhất, chiều dài trung bình 16,50 ± 0,38
b
mm, tiếp đến là 30ppt
cá đạt chiều dài 16,28 ± 0,50
3
,
cho ăn Artemia, thức ăn tổng hợp NRD-INVE 4/6, 5/8, G8. 24• Cá hồng bạc bố mẹ được tuyển chọn và nuôi thuần dưỡng
bằng lồng, đạt tỷ lệ sống 76,36%. Cá đực có chiều dài trung
bình 57,81 ± 7,22cm, khối lượng 3,80 ± 1,39 kg/con. Cá cái
chiều dài trung bình 61,75 ± 6,77cm, khối lượng 4,45 ± 1,76
kg/con. Cá bố mẹ được nuôi vỗ thành thục với mật độ 3,08
kg/m
3
lồng. Tỷ lệ sống 90,48 – 100%. Tỷ lệ thành thục 26,19
– 100%. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong quá trình nuôi do
cá cắn nhau, nhưng kết quả đạt được về nuôi vỗ thành thục
cá hồng bạc là khá cao.
• Cá hồng bạc bố mẹ được kích thích cho đẻ trứng bằng cách
tiêm hormone HCG và LHRHa. Liều lượng tiêm cho đẻ lần
đầu là 1.500UI HCG cộng với 20 µg LHRHa/kg cá, cho đẻ
lần sau tiêm 1.200UI HCG với 20 µg LHRHa/kg. Những lần
cho đẻ tiếp theo chỉ tiêm một loại hormone HCG liều lượng
thấp: 1.200, 1.000, 800 UI/kg, kết quả cá vẫn đẻ tốt. Tỷ lệ cá
đẻ 37,50 - 83,33%, tỷ lệ thụ tinh 70,15 - 78,62% và tỷ lệ nở
79,86 - 97,68%. Trứng cá được ấp với mật độ 2.000 trứng/lít,
sau 16 – 17 giờ trứng nở. Cá bột mới nở có chiều dài trung
bình 2,01 ± 0,02mm, khối noãn hoàng có đường kính 0,99 ±
0,02mm.
Trong đó: K: hệ số thành thục
W
tsd
: khối lượng tuyến sinh dục (g)
W
0
: khối lượng thân cá bỏ nội quan (g)
2.6.3.4. Xác định sức sinh sản
- Sức sinh sản tuyệt đối (S): Là tổng số trứng có trong buồng
trứng của cá cái ở giai đoạn IV. Xác định số lượng trứng: cân buồng
100
0
x
W
W
tsd
6trứng, cắt 03 phần nhỏ ở đầu, giữa và cuối buồng trứng, mỗi phần 1g,
sau đó đếm số lượng trứng, lấy giá trị trung bình số trứng của 1g
nhân với khối lượng buồng trứng.
- Sức sinh sản tương đối (s):
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
KẾT LUẬN
1. Đặc điểm sinh học sinh sản của cá hồng bạc
• Mẫu cá hồng bạc thu để mổ nghiên cứu đặc điểm sinh học
được đánh bắt từ tự nhiên ở vùng biển Khánh Hòa, có chiều
dài 39 - 74cm, khối lượng 0,8 - 8,1 kg/con.
• Tuổi và kích thước tham gia sinh sản lần đầu của cá hồng bạc
bước đầu được xác định là tuổi 3
+
. Chiều dài trung bình của
cá đực 47,89 ± 3,79cm, khối lượng 2,19 ± 0,38kg/con. Cá cái
chiều dài 51,13 ± 4,29cm và khối lượng 2,50 ± 0,28kg/con.
Hệ số thành thục trung bình của cá đực ở giai đoạn IV là 1,25
± 0,26%. Cá cái, hệ số thành thục trung bình ở giai đoạn II là
0,24 ± 0,1%. Giai đoạn III 0,56 ± 0,3%. Ở giai đoạn IV hệ số
thành thục tăng lên rõ rệt, từ 0,80 - 5,67% và trung bình là
2,78 ± 1,23%.
• Sức sinh sản của cá hồng bạc tương đối lớn, tỷ lệ thuận với
hệ số thành thục. Sức sinh sản tuyệt đối từ 583.209 trứng
(tuổi 4
+
) đến 4.857.650 trứng/cá cái (tuổi 6
+
). Sức sinh sản
tương đối từ 165,98 trứng/g đến 603,72 trứng/g khối lượng
thân cá. Mùa vụ sinh sản của cá hồng bạc ở vùng biển Khánh
Hòa là từ tháng 4 đến tháng 9, thời gian cá đẻ tập trung từ
tháng 6 đến tháng 9.
2. Thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá hồng bạc
58,58%. So với ương trong bể xi măng năm 2008 (chiều dài
trung bình 56,20 ± 7,95mm, tỷ lệ sống 38,55%), năm 2009
(59,43 ± 8,54mm, 46,30%), thì ương bằng giai biển tăng trưởng
của cá nhanh hơn, tỷ lệ sống cao hơn, có thể do môi trường
biển thông thoáng, các yếu tố môi trường ổn định, thích hợp
hơn. 7 Định kỳ 5 ngày/lần, cho ăn bổ sung các loại vitamin B, C, E.
+ Vệ sinh và quản lý lồng nuôi: Định kỳ 10 - 15 ngày/lần vệ
sinh lưới lồng.
+ Kiểm tra và đánh giá mức độ thành thục cá bố mẹ
- Đối với cá đực: Lật ngửa bụng cá, dùng tay vuốt nhẹ dọc theo
lườn bụng, từ trên xuống dưới, nếu thấy sẹ chảy ra ngoài lỗ huyệt,
đặc, màu trắng sữa, tan nhanh trong nước là cá đã thành thục tốt.
- Cá cái: Lật ngửa bụng cá, dùng ống nhựa mềm, đường kính 1-
2 mm, đưa vào lỗ huyệt 3 – 4cm, hút nhẹ, sau đó lấy ống ra cho trứng
vào cốc thủy tinh hoặc lòng bàn tay quan sát. Nếu thấy trứng rời, tròn
đều, màu vàng rơm, đo trên trắc vi thị kính, đường kính trứng 0,4 –
0,5mm là cá thành thục tốt, có thể tiến hành kích thích cho đẻ.
2.7.2. Kích thích cho cá đẻ bằng cách tiêm hormone
• Kích thích cho cá đẻ
Cá bố mẹ thành thục được kích thích cho đẻ bằng cách tiêm
hormone. Năm 2007, cho đẻ lần đầu tiêm kết hợp hai loại hormone
HCG và LHRHa với liều lượng 1.500 UI HCG + 20µg LHRHa, cho
đẻ lần sau tiêm 1.200 UI HCG + 20µg LHRHa, những năm tiếp theo
từ 2008 đến 2010 khi cá đã đẻ nhiều lần, chỉ tiêm một loại kích dục
2.8.1. Xác định các yếu tố môi trường
- Nhiệt độ: Đo 2 lần/ngày (6h và 14h) bằng nhiệt kế bách phân,
chính xác đến 1
o
C, và thiết bị đo môi trường (Hatch WQC-22A
- USA) độ chính xác đến 0,01
o
C.
- Độ pH: Đo 2 lần/ngày (6h và 14h) bằng thiết bị đo môi trường
(Hatch WQC-22A
- USA) độ chính xác đến 0,01.
- Độ mặn: Đo 1 lần/ngày lúc 14h bằng khúc xạ kế, chính xác đến
1ppt. 21Artemia vẫn được làm giàu bằng DHA-selco, với liều lượng 50ppm
thời gian 6 – 9 giờ trước khi cho ăn.
Ương giống cá hồng bạc sử dụng thức ăn tổng hợp là chủ yếu. Cho
ăn thức ăn NRD của công ty INVE với cỡ hạt khác nhau: NRD 4/6,
NRD 5/8, NRD G8 tùy theo kích cỡ và sự tăng trưởng của cá.
Thường cho ăn 4 lần/ngày.
Các yếu tố môi trường trong quá trình ương tương đối ổn định.
Nhiệt độ nước dao động từ 28 - 30
0
C. Độ pH 7,9 – 8,8. Độ mặn 30 –
32ppt, nằm trong khoảng thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển
của cá con. Hàm lượng oxy hòa tan luôn ở mức trên 3,5 mg/lít. Tóm
đoạn 24 đến 30 ngày là cao nhất. năm 2008 là 0,87mm/ngày, sau đó
lần lược, 17 – 24 ngày là 0,74mm/ngày, 10 – 17 ngày là
0,21mm/ngày. Giai đoạn 3 – 10 ngày tuổi là thấp nhất 0,14mm. Năm
2009 theo thứ tự lần lượt là 0,99mm/ngày, 0,66mm/ngày,
0,23mm/ngày và giai đoạn 3 – 10 ngày tuổi là 0,17mm/ngày. Tuy
nhiên tốc độ tăng trưởng %/ngày cao nhất là giai đoạn 17 – 24 ngày
tuổi 10,00%/ngày (2008), 8,57%/ngày (2009) và thấp nhất là giai
đoạn 3 – 10 ngày tuổi: 4,00%/ngày và 4,98%/ngày.
Cá bột sau 30 ngày ương đạt tỷ lệ sống 12,60 – 14,10%.
3.3.3. Kết quả thực nghiệm ương nuôi cá hồng bạc từ 30 ngày
tuổi đến cá giống cỡ 3 – 5cm
3.3.3.1. Ương giống cá hồng bạc bằng bể xi măng
• Chọn giống, thả giống, mật độ ương.
Chọn cá khỏe mạnh, màu sắc tự nhiên, phân cỡ đồng đều chuyển
vào bể mới đã chuẩn bị sẵn để tiếp tục ương giống. Mật độ ương
6.000 con/m
3
.
• Thức ăn ương cá giống trong bể xi măng
Cá bột khi chuyển sang bể ương giống vẫn tiếp tục cho ăn Artemia
đến ngày tuổi 40, 45. Tuy nhiên số lần cho ăn ít hơn giai đoạn ương
cá bột. Cho ăn 1 lần/ngày, mật độ 3 – 5 cá thể/ml. Nauplius của 9 - Oxy hòa tan: Đo 2 lần/ngày (6h và 14h) bằng thiết bị đo môi
trường (Hatch WQC-22A - USA) độ chính xác đến 0,01mg/l.
2.8.2. Xác định một số chỉ tiêu: Tiến hành theo các phương pháp
10chuẩn: 37,83 ± 2,14 đến 55,82 ± 4,04cm, chiều cao: 13,08 ± 1,28 đến
19,91 ± 1,82cm…Nhìn chung các kích thước đo được tăng dần theo
tuổi cá. Tuy nhiên có một số tỷ lệ giữa các chỉ tiêu chiều dài chuẩn và
chiều cao, chiều dài chuẩn và chiều dài đầu của cá kích thước nhỏ
thường lớn hơn, lý do khi cá còn nhỏ sự tăng trưởng về chiều dài lớn
hơn tăng trưởng về chiều cao và các chỉ tiêu khác.
Tia cứng, tia mềm của các vây: D X, 13-14; P 14-16; V II, 4; A
III, 8; C 16-18. Công thức vảy đường bên: 43 - 46
6
14
, lược mang
7+9.
Thân cá hồng bạc màu hồng tía, bụng màu xám bạc. Khi cá ở
dưới nước có màu hồng sẫm khi ra khỏi nước có màu hồng nhạt. Mắt
to hơi lồi, có màu xanh nhạt. Cá thể chưa trưởng thành có một dải
gồm 8 vạch màu hơi trắng vắt qua hai bên có một hoặc hai sọc xanh
ngang qua nắp mang. Kích thước chiều dài cá lớn nhất 150cm [123].
3.1.2.2. Vị trí phân loại
Ngành động vật có dây sống Chordata
Phân ngành động vật có xương sống Vertebrata
Lớp cá xương Osteichthyes
Bộ cá vược Perciformes
Họ cá hồng Lutjanidae
Giống cá hồng Lutjanus
Loài cá hồng bạc Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775)
Tên địa phương: cá hồng bạc, cá hồng vân bạc, cá hồng ánh bạc
mới nở đến 30 ngày tuổi với quy mô sản xuất.
Cá bột ương nuôi được cho ăn trứng hầu từ ngày thứ 2 đến ngày
thứ 7, luân trùng (Brachionus plicatilis): ngày thứ 4 đến ngày thứ 17,
Nauplius Artemia: ngày thứ 14 đến ngày thứ 30, tập cho cá ăn thịt
tôm, thịt cá xay nhuyễn và đặc biệt là thức ăn tổng hợp NRD-INVE
từ ngày thứ 25 trở đi. Khi cho cá bột ăn trứng hầu, đồng thời cấp tảo
Nannochloropsis oculata vào bể ương và cấp bổ sung hàng ngày, cho
đến 20, 21 ngày tuổi, mật độ tảo cấp: 10
3
– 10
4
tế bào/ml, nước bể
ương cá bột có màu xanh lá chuối non. Cấp tảo vào bể ương cá bột có
vai trò hết sức quan trọng, đảm bảo ổn định môi trường, làm thức ăn
cho luân trùng, giúp luân trùng sống, sinh sản duy trì mật độ và chất
lượng trong bể ương. Để bổ sung hàm lượng các a-xít béo không no
cho cá bột trong quá trình ương, luân trùng và Nauplius của Artemia
trước khi cho ăn được làm giàu bằng DHA-selco.
3.3.2.3. Tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá
Tăng trưởng về chiều dài của cá bột cá hồng bạc giai đoạn ương
từ 3 đến 17 ngày tuổi chậm hơn từ 17 ngày tuổi trở đi, và tăng trưởng
nhanh nhất là từ ngày thứ 24 đến ngày thứ 30. 3 ngày tuổi cá bột có 18
Ở nghiệm thức 25ppt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, chiều dài
trung bình 16,50 ± 0,38
%/ngày. So sánh nghiệm thức 25ppt với 30ppt cũng như hai nghiệm
thức 20ppt với 35ppt ta thấy độ tăng trưởng tương đương nhau, sự sai
khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P >0,05). Chỉ có sự sai khác
giữa 2 nghiệm thức 25ppt, 30ppt với 20ppt và 35ppt là có ý nghĩa về
mặt thống kê (P <0,05). Tuy nhiên sự sai khác về độ tăng trưởng
tuyệt đối ngày, tăng trưởng đặt trưng giữa các nghiệm thức là có ý
nghĩa về mặt thống kê (P <0,05).
T
ỷ lệ sống ở nghiệm thức 30ppt là cao nhất (13,70 ± 1.15%),
nghiệm thức 25ppt (12,30 ± 0,93%), nghiệm thức 35ppt (11,50 ±
1,67%), thấp nhất là nghiệm thức 20ppt (10,00 ± 1,28%). Vì vậy,
bước đầu có thể đánh giá 25ppt – 30ppt là khoảng độ mặn thích hợp
nhất cho sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá bột cá hồng bạc giai
đoạn từ 1 đến 30 ngày tuổi.
3.3.1.3. Ảnh hưởng của mật độ
Nghiệm thức 40 con/lít, 60 con/lít có chiều dài trung bình lần lượt
là: 16,83 ± 0,44
a
mm, 16,40 ± 0,60
a
mm, sai khác không có ý nghĩa về
mặt thống kê (P >0,05). Nhưng hai nghiệm thức này có độ tăng
trưởng nhanh hơn và sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê (P <0,05) 11về chiều dài và khoảng từ 2 tuổi trở lên, tăng trưởng chủ yếu về khối
- 6
+
,
trong đó nhóm cá 3
+
, 4
+
chiếm tỷ lệ cao nhất: 22,67% và 24%, cá 5
+
:
18,67%. Nhóm cá tuổi 6
+
: 15,99%. Nhóm cá tuổi 1
+
và 2
+
chiếm tỷ
lệ thấp (8% và 10.67%) Khi nghiên cứu về giới tính, tỷ lệ đực cái theo nhóm kích thước,
nhóm cá có chiều dài: 41- 49cm, khối lượng: 1,3 - 2,7kg có 17 con,
thuộc hai nhóm tuổi 2
+
và 3
+
. Cá đực nhiều hơn cá cái (11 đực, 6 cái).
Nhóm cá có chiều dài: 50-59cm, khối lượng: 2,10- 3,80kg/con có 29
con, chủ yếu thuộc nhóm tuổi 4
+
, 6
+
, trong thời gian nghiên cứu, thu
được toàn bộ số cá đều có tuyến sinh dục phát triển ở giai đọan III và
giai đoạn IV.
Từ kết quả trên, bước đầu có thể nhận định tuổi thành thục của cá
hồng bạc là từ 3
+
, với kích thước trung bình 47,89 ± 3,79cm, khối
lượng 2,19 ± 0,38kg/con đối với cá đực và 51,13 ± 4,29cm, 2,50 ±
0,28kg/con đối với cá cái. Tuổi tham gia sinh sản lần đầu của cá đực
và cá cái gần như nhau.
3.1.4.4. Hệ số thành thục
Cá đực tuyến sinh dục ở giai đoạn IV hệ số thành thục đạt giá trị
cao nhất là 1,60%, trung bình 1,24 ± 0,26%.
Đối với cá cái, hệ số thành thục ở giai đoạn II từ 0,11- 0,35%
trung bình là 0,24 ± 0,1%, ở giai đoạn III hệ số thành thục tăng lên
gấp 2 hoặc 3 lần, dao động từ 0,22 -1,14%, trung bình 0,56 ± 0,3%.
Ở giai đoạn IV hệ số thành thục tăng lên rõ rệt, dao động từ 0,80 -
5,67%, trung bình 2,78 ± 1,23%.
3.1.4.5. Sức sinh sản
S
ức sinh sản tuyệt đối của cá hồng bạc dao động từ 278.460 (tuổi
3
+
) đến 4.857.650 trứng/cá cái (tuổi 6
+
). Sức sinh sản tương đối từ
a
%/ngày, nghiệm thức 3: 0,49 ±
0,01
c
mm/ngày, 6,75 ± 0,18
c
%/ngày. nghiệm thức 2: 0,52 ± 0,02
b
mm/ngày và 7,02 ± 0,12
b
%/ngày, những sự sai khác này có ý nghĩa
về mặt thống kê (P < 0,05).
Kết quả ở nghiệm thức 3 cho thấy sử dụng Copepoda làm thức ăn
cho cá bột cá hồng bạc sau giai đoạn ăn luân trùng cũng cho kết quả
tương đối tốt. Vì Copepoda hợp cỡ mồi, hàm lượng dinh dưỡng cao
(HUFA 0,99% và PUFA 0,19% khối lượng khô) nên cá bột có tốc độ
tăng trưởng nhanh. Tuy vậy, Copepoda thường khó nuôi và dễ mang
mầm bệnh từ môi trường ao nuôi nên bị động và khả năng gây bệnh
cho cá bột cao, cho tỷ lệ sống thấp.
Tỷ lệ sống nghiệm thức 1 là 11,1 ± 0,96%, nghiệm thức 3: 12, 0 ±
1,52% và nghiệm thức 2 có tỷ lệ sống cao nhất 13,05 ± 1,64%.
3.3.1.2. Ảnh hưởng của độ mặn 16UI, 1.000 UI và 800 UI) nhưng cá vẫn đẻ tốt, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở
khá cao.
1396,02 trứng/g cá cái đến 603,74 trứng/g cá cái. Sức sinh sản càng cao
khi hệ số thành thục càng lớn.
3.1.4.6. Mùa vụ sinh sản
K
hoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 3, tháng 10 đến tháng 12
hàng năm, số mẫu cá hồng bạc thu được ít vì đánh bắt khó khăn,
tuyến sinh dục của số mẫu cá nghiên cứu ở giai đoạn II: 6 cá đực
(8%) và 7 cá cái (9,33%). Giai đoạn III: 5 cá đực (6,67%), 8 cá cái
(10,67%) và giai đoạn IV số lượng ít: 2 cá đực (2,67%) và 2 cá cái
(2,67%). Từ tháng 4 đến tháng 6 đặc biệt là từ tháng 7 đến tháng 9,
số mẫu cá thu được đa phần có tuyến sinh dục ở giai đoạn III: 7 cá
đực (9,33%) và 9 cá cái (12%), giai đoạn IV: 11 cá đực (14,67%) và
13 cá cái (17,33%). Giai đoạn II số lượng ít: 2 cá đực (2,67%) và 3 cá
cái (4%). Từ kết quả nghiên cứu sự phát triển tuyến sinh dục, bước
đầu có thể đưa ra kết luận mùa vụ sinh sản của cá hồng bạc ở vùng
biển Khánh Hòa là từ tháng 4 đến tháng 9, thời gian cá đẻ nhiều từ
tháng 6 đến tháng 9.
3.2. THỰC NGHIỆM SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO CÁ
HỒNG BẠC
3.2.1. Tuyển chọn, vận chuyển và nuôi thuần dưỡng cá hồng
bạc bố mẹ
3.2.1.1. Tuyển chọn
Cá hồng bạc bố mẹ tuyển chọn được 55 con. Cá sau khi tuyển
chọn được vận chuyển đưa đến lồng nuôi thuần dưỡng, nuôi vỗ thành
thục tại Vũng Ngán, Nha Trang.
kg/con, trung bình 4,45 ± 1,76 kg/con. Lồng nuôi có thể tích 56m
3
,
mật độ nuôi vỗ là 3,08 kg/m
3
.
3.2.2.2. Theo dõi các yếu tố môi trường
Diễn biến các yếu tố môi trường ở khu vực Vũng Ngán, Vịnh Nha
Trang, nơi đặt lồng nuôi cá hồng bạc bố mẹ: Nhiệt độ nước dao động
trong khoảng từ 23,10
o
C đến 30,60
o
C. Độ mặn 29 – 35,5ppt. Một số
các yếu tố khác đều ổn định và nằm trong ngưỡng cho phép, không
ảnh hưởng gì lớn: Độ pH: 8,02 – 8,40, hàm lượng oxy: 4,32 – 6,88
mgO
2
/lít, NH
3
: 0,03 – 0,47 mg/lít. Độ trong từ 3,05 – 10,50m.
3.2.2.4. Kết quả nuôi vỗ thành thục cá hồng bạc bố mẹ 15 Năm 2008, cá đã được thuần dưỡng trong điều kiên nuôi nhân tạo,
ít bị bệnh, cho ăn tích cực, bổ sung hàm lượng vitamin B, C, E, cá bắt
đầu thành thục tốt. Tỷ lệ thành thục ở đợt kiểm tra tháng 6 (78,05%),