luận văn quản tri kinh doanh 10đ HVTC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VÀ TIẾP THỊ GIAO THÔNG VẬN TẢI VIỆT NAM - VIETRAVEL CHI NHÁNH HÀ NỘI - Pdf 28

1
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

TRẦN THỊ PHƯƠNG THÚY
LỚP: CQ48/31.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO
CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VÀ TIẾP THỊ GIAO THÔNG
VẬN TẢI VIỆT NAM - VIETRAVEL CHI NHÁNH HÀ NỘI
Chuyên ngành : Quản trị doanh nghiệp
Mã số : 31
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN XUÂN ĐIỀN
HÀ NỘI – 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình
thực tế của đơn vị thực tập là Công ty Cổ phần Du lịch và Tiếp thị Giao
thông vận tải Việt Nam – Vietravel Chi nhánh Hà Nội.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
3
MỤC LỤC
TRANG BÌA ………………………………………… ……… ………… …… i
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ : Cao đẳng
DH : Dài hạn
DN: Doanh nghiệp
ĐH : Đại học

2.7
Bảng
2.8
Bảng
3.1
Bảng
3.2
Bảng cơ cấu lao động của Công ty Vietravel Hà Nội tính đến
thời điểm tháng 12/ 2013
Bảng tiền lương bình quân theo năm và theo tháng của nhân
viên công ty Vietravel Hà Nội
Số lượng khách du lịch của công ty Vietravel Hà Nội năm
2013
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Vietravel Hà Nội
năm 2011, 2012, 2013
Bảng so sánh tổng lượt khách, doanh thu hoạt động lữ hành
và thị phần của Vietravel Hà Nội với 3 đối thủ cạnh tranh
năm 2013
Giá bình quân một chương trình du lịch của Vietravel Hà
Nội với 3 đối thủ cạnh tranh năm 2013
Tình hình nhân lực của công ty Vietravel Hà Nội với 3 đối
thủ cạnh tranh năm 2013
Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty Vietravel Hà Nội
so với 3 đối thủ cạnh tranh
Xác định giá thành của 1 chương trình du lịch theo các
khoản mục
Xác định giá thành của 1 chương trình du lịch theo lịch trình
37
39
49

việc các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ra đời hàng loạt. Sự phát triển về
quy mô cũng như số lượng các doanh nghiệp du lịch nói chung và các công ty
lữ hành nói riêng một mặt đã tạo ra bước ngoặt trưởng thành của ngành du
lich, mặt khác tạo nên áp lực cạnh tranh giữa các công ty lữ hành. Chính vì
vậy để có thể tồn tại và phát triển được, các công ty lữ hành luôn phải tìm mọi
cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnh tranh
khác.
Nhận thức được vấn đề này, trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần
Du lịch và Tiếp thị GTVT Việt Nam Chi nhánh Hà Nội, thấy được áp lực
cạnh tranh của các công ty lữ hành trên địa bàn Hà Nội lên Chi nhánh là rất
lớn. Em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là “Giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh cho Công ty Cổ phần Du lịch và Tiếp thị GTVT Việt
Nam - Vietravel Chi nhánh Hà Nội” để góp phần giảm bớt áp lực cạnh
tranh của Chi nhánh trên thị trường du lịch Hà Nội.
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn của em tập trung nghiên cứu năng lực
cạnh tranh của công ty Cổ phần Du lịch và Tiếp thị GTVT Việt Nam Chi
nhánh Hà Nội.
Mục đích nghiên cứu:
Em lựa chọn nghiên cứu đề tài với mục đích:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận cạnh tranh và năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp nói chung.
- Chỉ ra, phân tích và đánh giá thực trạng năng lực canh tranh của
công ty Vietravel Hà Nội.
- Từ những phân tích và nhận định về các điểm nêu trên nhằm mục
đích: kiến nghị giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty với các đối thủ, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đề tài này chỉ giới hạn trong việc đưa ra các giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh cho Công ty Du lịch và Tiếp thị GTVT Việt Nam Chi

với doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại hay tìm kiếm lợi nhuận trên cơ
sở cạnh tranh trên quốc gia hay quốc tế, thì đối với quốc gia mục tiêu này là
nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân.
Khi Các - Mác nghiên cứu về cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Các - Mác đã
đưa khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh tư bản là sự ganh đua, sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi
trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi siêu ngạch”. Như vậy, cạnh
tranh là hoạt động của các doanh nghiệp trong nền sản xuất hàng hóa ganh
đua với nhau để chiếm lĩnh thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận cao.
Theo từ điển kinh tế của Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội (trang 48- năm
1979) thì “Cạnh tranh chính là cuộc đấu tranh giữa người sản xuất hàng hóa
tư nhân nhằm giành điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi hơn” hoặc “Cạnh
tranh là cuộc đấu tranh diễn ra nhằm giành thị trường tiêu thụ, nguồn nguyên
liệu, khu vực đầu tư có lợi nhằm giành địa vị thống trị một ngành sản xuất
nào đó, trong nền kinh tế đất nước hoặc trong hệ thống kinh tế thế giới”.
Theo diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (OECD) thì định nghĩa cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là
khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và cùng trong việc tạo ra
việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Như vậy, chúng ta có thể nói về bản chất, cạnh tranh là mối quan hệ giữa
người với người trong việc giải quyết các lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của
cạnh tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và quyền chi phối thị trường. Trong
khi đó bản chất xã hội của cạnh tranh được thể hiện đạo đức kinh doanh, uy
tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những người lao
động trực tiếp tạo ra sức cạnh tranh cho doanh nghiệp và được thể hiện trong
mối quan hệ của người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác. Từ đó, ta có thể
đưa ra một định nghĩa về cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: “Cạnh tranh
của doanh nghiệp là cuộc đấu tranh giữa các doanh nghiệp nhằm mục đích
tranh giành thị trường mục tiêu, khách hàng để tăng doanh thu, lợi nhuận cao
hơn”.

phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Các yếu tố kiểm soát được như chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí
bán hàng, chi phí lưu động và chi phí yểm trợ xúc tiến bán hàng.
- Các yếu tố không kiểm soát được như quan hệ cung cầu, cường độ
cạnh tranh trên thị trường, chính sách điều tiết thị trường của Nhà
nước.
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua các chính sách
định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. Một trong những nội
dung cơ bản của chiến lược giá cả là việc định giá. Định giá là việc ấn định có
hệ thống giá cả cho đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán cho khách hàng, cần
có các chính sách để định giá như: chính sách giá thấp, chính giá giá cao,
chính sách giá phân biệt, chính sách phá giá.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, mức sống của
người dân không ngừng nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh qua
trọng nhất của doanh nghiệp nữa. Vì vậy bên cạnh vũ khí này, mỗi công ty
phải mạnh về tiềm lực tài chính, về khoa học công nghệ, và uy tín của sản
phẩm trên thị trường và phải biết kết hợp với các công cụ khác thì công ty dễ
dàng chiếm lĩnh thị trường so với các đối thủ cạnh tranh.
 Hệ thống kênh phân phối
Trước hết để tiêu thụ sản phẩm, công ty cần phải chọn các kênh phân
phối, lựa chọn thị trường, nghiên cứu thị trường và lựa chọn kênh phân phối
để sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ nhanh chóng, hợp lý và đạt được hiệu
quả cao. Chính sách phân phối sản phẩm đạt được các mục tiêu giải phóng
nhanh chóng lượng hàng tiêu thụ, tăng nhanh vòng quay của vốn thúc đẩy sản
xuất nhờ vậy tăng nhanh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo sự tác động của thị trường, tùy theo nhu cầu của người mua và
người bán, tùy theo tính chất của hàng hóa và quy mô của doanh nghiệp theo
các kênh mà có thể sử dụng thêm vai trò của người môi giới. Bên cạnh việc tổ
chức tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp có thể đẩy mạnh hoạt động tiếp thị,
quảng cáo, yểm trợ bán hàng để thu hút khách hàng. Đồng thời việc lựa chọn

lớn.
1.1.3. Các hình thức cạnh tranh
 Căn cứ vào cấp độ cạnh tranh và việc phân loại chỉ mang tính chất
tương đối, ta có thể phân loại cạnh tranh như sau:
- Cạnh tranh quốc gia
Theo “Báo cáo về Cạnh tranh toàn cầu”, có định nghĩa như sau: “Cạnh
tranh của một quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả
nhanh và bền vững về mức sống. Nghĩa là đạt được tỉ lệ tăng trưởng kinh tế
cao được xác định bằng cách thay đổi GDP theo thời gian”.
Theo cách định nghĩa khác: “Cạnh tranh của một quốc gia là mức độ mà ở
đó dưới những điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các
hàng hóa dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế đồng thời duy
trì và mở rộng được thu nhập thực tế nước đó”. Cạnh tranh quốc gia nhằm
duy trì cải thiện vị trí nền kinh tế của mỗi quốc gia trên thị trường thế giới
một cách lâu dài để thu được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế của quốc
gia đó. Vì vậy, quốc gia nào có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh
cao thì quốc gia đó có năng lực cạnh tranh tốt hơn những quốc gia khác.
- Cạnh tranh doanh nghiệp
Cũng giống như quốc gia, các doanh nghiệp có cùng ngành nghề cũng
chịu sự cạnh tranh gay gắt với nhau khi các doanh nghiệp cùng sản xuất một
loại hàng hóa mà doanh nghiệp nào cũng nhằm đến thu được lợi nhuận siêu
ngạch. Trong nền kinh tế thị trường, theo quy luật, doanh nghiệp nào có hao
phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu được lợi
nhuận siêu ngạch. Các doanh nghiệp sẽ áp dụng các biện pháp như cải tiến kĩ
thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm tối đa chi phí sản
xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp mình.
Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa rằng: “Cạnh tranh của một doanh
nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đó trong việc tạo ra doanh thu và lợi
nhuận cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc gia và cạnh tranh quốc tế”.
Doanh nghiệp nào có nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao sẽ cạnh tranh

được gọi là cùng thắng.
- Cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh không lành mạnh là tất cả những hành động trong hoạt động
kinh tế trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách
hàng. Và cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanh được
tiến hành giống như một cuộc chiến. Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt
chỉ dẫn đến một hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là sự
sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi.
Mục đích của nhà kinh doanh là luôn luôn mang lại những điều có lợi cho
doanh nghiệp mình. Đôi khi đó là sự trả giá của người khác. Đây là tình
huống cùng thua. Không ít cơ sở sản xuất, doanh nghiệp còn sử dụng những
chiêu thức đen nhằm hạ thấp và loại trừ các doanh nghiệp hoạt động trên cùng
một lĩnh vực ngành nghề để độc chiếm thị trường.
 Căn cứ vào tính chất cạnh tranh trên thị trường, cạnh tranh được chia
ra:
- Cạnh tranh hoàn hảo
Là loại cạnh tranh theo các quy luật của thị trường mà không có sự can
thiệp của các chủ thể khác. Giá cả của sản phẩm được quyết định bởi quy luật
cung cầu trên thị trường. Cung nhiều cầu ít sẽ dẫn đến giá giảm, cung ít cầu
nhiều sẽ dẫn đến giá tăng.
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không
đồng nhất với nhau. Mỗi sản phẩn đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau
cho nên để giành đựơc ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các
công cụ hỗ trợ bán như: quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá
cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
- Cạnh tranh độc quyền
Là sự cạnh tranh mang tính chất “ảo”, thực chất cạnh tranh này là sự
quảng cáo để chứng minh sự đa dạng của một sản phẩm nào đó, để khách
hàng lựa chọn một trong số những sản phẩm nào đó của một doanh nghiệp

lượng ngang bằng hay cao hơn.
Tất cả các nghiên cứu mặc dù xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng
đều cho thấy năng lực cạnh tranh đều liên quan tới hai khía cạnh đó là chiếm
lĩnh thị trường và lợi nhuận mang lại. Vì thế, ta có thể đưa ra một khái niệm
về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: Năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là sức mạnh bên trong của doanh nghiệp đó, là khả năng tận
dụng những thuận lợi, hạn chế những khó khăn mà môi trường bên ngoài đưa
đến cho doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh của mình nhằm duy trì, gia
tăng lợi nhuận và chiếm lĩnh thị phần trên thị trường của các sản phẩm và
dịch vụ của doanh nghiệp”.
Chúng ta phân biệt năng lực cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ, năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Trong đó,
năng lực cạnh tranh hàng hóa dịch vụ có thể hiểu khái quát là tổng thể các yếu
tố gắn liền với hàng hóa, dịch vụ đó cùng với các điều kiện, công cụ và biện
pháp cấu thành khả năng cạnh tranh được chủ thể dùng để ganh đua với nhau
nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và đem lại nhiều lợi ích
hơn cho chủ thể tham gia cạnh tranh.
Đối với năng lực cạnh tranh quốc gia, WEF cho rằng “Khả năng cạnh
tranh của một quốc gia là khả năng đạt được và duy trì được mức tăng trưởng
trên cơ sở các chính sách về thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh
tế khác”.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ khác nhau ở chỗ doanh nghiệp là một tổ chức chặt
chẽ, có thể đồng thời sản xuất nhiều mặt hàng với năng lực cạnh tranh khác
nhau. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện năng lực sản phâm rđó
có thể thay thế một sản phẩm khác đồng nhất hoặc khác biệt, có thể do đặc
tính chất lượng sản phẩm hoặc giá cả sản phẩm. Do vậy, năng lực cạnh tranh
của sản phẩm hàng hóa dịch vụ là một trong những yếu tố cấu thành năng lực
cạnh tranh chung cho doanh nghiệp.
Trong khi đó, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có thể diễn ra khi họ cung

doanh nghiệp; sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp có mối quan hệ mật
thiết, nó tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp phát triển
và hội nhập. Nó thúc đẩy tiến trình phát triển của doanh nghiệp
bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với tốc độ
phát triển của doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu rộng.
- Khi cạnh tranh thắng lợi, doanh nghiệp sẽ đứng vững và phát
triển không ngừng, đó là tiền đề tác động ngược trở lại cho
doanh nghiệp nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình.
Những thành tựu của sự phát triển sẽ tạo đà giúp cho doanh
nghiệp có thêm nhiều cơ hội kinh doanh mới. Khi doanh nghiệp
có đủ khả năng nguồn lực về vốn và con người, doanh nghiệp sẽ
dễ dàng tiếp cận với công nghệ mới, phương thức quản lý tiên
tiến, hiện đại. Từ đây những sản phẩm mới có chất lượng cao
được ra đời góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Tóm lại, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, vấn đề có
tính chất quyết định là mỗi doanh nghiệp phải nhận thức được và luôn cố
gắng nâng cao năng lực của mình, sẵn sàng nắm lấy cơ hội để vươn lên,
chuẩn bị đủ mọi điều kiện để đủ khả năng đối mặt với những thách thức trong
quá trình hội nhập giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển bền vững.
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao
gồm tổng thể các nhân tố khách quan và chủ quan, vận động và tương tác lẫn
nhau, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động kinh doanh của từng
doanh nghiệp. Sự tác động này có thể thuận lợi hay gây trở ngại cho doanh
nghiệp. Những nhân tố này người ta gọi chung là môi trường kinh doanh. Các
nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm các
yếu tố vừa cụ thể vừa trừu tượng. Chúng có mối quan hệ trực tiếp hay gián

Trong một doanh nghiệp, nguồn lực tài chính là vấn đề không thể không
nhắc đến bởi nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng và nó quyết định đến chiến
lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Trước hết, nguồn lực tài chính của doanh
nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn tự có, khả năng huy dộng các nguồn vốn
khác phục vụ sản xuất kinh doanh và sử dụng các nguồn vốn đó một cách có
hiệu quả. Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, lợi nhuận hàng năm cao,
phần lợi nhuận để tái đầu tư cho sản xuất kinh doanh sẽ lớn và quy mô sẽ
tăng.
Các chỉ tiêu tài chính thường được quan tâm khi phân tích tài chính như:
chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm các chỉ tiêu về lợi nhuận, nhóm các chỉ
tiêu về cơ cấu nguồn vốn và tài sản.
- Khả năng liên doanh liên kết của doanh nghiệp
Liên doanh liên kết là sự kết hợp hai hay nhiều pháp nhân kinh tế khác
nhau để tạo ra một pháp nhân mới có sức mạnh tổng hợp về kinh nghiệm,
máy móc thiết bị công nghệ và nguồn tài chính. Đây là một trong những yếu
tố đánh giá năng lực của doanh nghiệp. Nhất là đối với những doanh nghiệp
thường tham gia thực hiện với các dự án với quy mô lớn, nhưng trên thực tế
những yêu cầu đôi khi vượt quá khả năng của một doanh nghiệp đơn lẻ trong
cạnh tranh. Để đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, tăng năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, vấn đề mở rộng các quan hệ liên doanh liên kết dưới
nhiều hình thức thích hợp là giải pháp quan trọng và cần thiết. Qua đó doanh
nghiệp có thể đáp ứng một cách toàn diện những yêu cầu của khách hàng
hoặc của dự án có quy mô lớn và có mức độ phức tạp cao.
Liên doanh liên kết tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể chủ động trong
sản xuất, minh bạch trong chi tiêu và góp phần phân công lao động theo
hướng chuyên môn hóa sâu, đặc biệt là khai thác được những thế mạnh, khắc
phục những điểm yếu, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, thúc đẩy ứng

Trích đoạn BẢNG 2.6: GIÁ BÌNH QUÂN 1 CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH CỦA VIETRAVEL HÀ NỘI VỚI 3 ĐỐI THỦ CẠNH TRANH NĂM BẢNG 2.7: TÌNH HÌNH NHÂN LỰC CỦA CÔNG TY VIETRAVEL HÀ NỘI VỚI 3 ĐỐI THỦ CẠNH TRANH NĂM Thành quả đạt được Nguyên nhân Phương hướng phát triển trong thời gian tớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status