luận văn chuyên ngành thuế HVTC đề tài Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục thuế quận Ba Đình – TP Hà Nội - Pdf 28

BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
***
CAO ANH TÀI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG
CHẾ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN BA ĐÌNH - TP HÀ NỘI
Chuyên ngành : Thuế
Mã số : 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN
Hà Nội – 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế
của đơn vị thực tập.
Sinh viên
Cao Anh Tài
2
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA………………………………………………………………… i
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCNT Cưỡng chế nợ thuế
CQT Cơ quan thuế
ĐTNT Đối tượng nộp thuế
GTGT Giá trị gia tăng
NNT Người nộp thuế
NSNN Ngân sách Nhà Nước
QLN Quản lý nợ

lợi cho các doanh nghiệp và người nộp thuế thực hiện hoạt động sản xuất kinh
doanh và tuân thủ chính sách pháp luật thuế. Ngành thuế Hà Nội không những
đóng góp cho sự phát triển của Thủ đô mà còn góp phần cho cả sự nghiệp phát
triển của toàn ngành thuế cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói
chung.
Năm 2013, nền kinh tế Việt Nam thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của khủng hoảng
kinh tế toàn cầu. Tuy vậy, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp
không ít khó khăn, một số doanh nghiệp không thực hiện đúng thời hạn nộp thuế
theo quy định của luật quản lý thuế, dẫn đến những nợ đọng thuế, gây ảnh hưởng
không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nói trên. Và tại Chi cục thuế
quận Ba Đình, thành phố Hà Nội cũng không nằm ngoài thực trạng đó. Trong thời
gian vừa qua, hiện tượng nợ đọng thuế, chây ỳ trong việc nộp thuế của các doanh
nghiệp đã gây khó khăn trong công tác quản lý thu thuế của Chi cục. Thực tế đó đã
đặt ra yêu cầu cho cơ quan thuế của quận là làm thế nào để quản lý thuế tốt hơn
nhằm nâng cao ý thức tự giác trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh
6
nghiệp và tăng cường nguồn thu vào Ngân sách Nhà Nước. Vì vậy, ngay từ đầu
năm, công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đã được lãnh đạo và công chức
thuế của Chi cục thuế quận Ba Đình xác định là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm trong công tác quản lý thu thuế.
Trong quá trình thực tập tại Chi cục thuế quận Ba Đình, nhận thức được vấn đề
trên cùng kiến thức đã học ở trường, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và
các cán bộ của Chi cục thuế quận Ba Đình, đặc biệt là các chú, anh, chị tại Đội
quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, em đã đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “
Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
tại Chi cục thuế quận Ba Đình – TP Hà Nội ” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích chính của đề tài là đi nghiên cứu thực trạng của công tác quản lý nợ
thuế và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn quản lý của Chi cục thuế quận Ba Đình, từ

Thuế là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân
và pháp nhân cho Nhà Nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích
công cộng.
Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao. Mỗi
khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ
trở thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao cho
Nhà Nước. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau mà người nộp thuế chưa nộp hoặc
không nộp thuế cho Nhà Nước theo thời gian quy định nên hình thành các khoản
nợ thuế.
1.1.1.2 Nợ thuế
Nợ thuế là hiện tượng người nộp thuế không nộp đầy đủ và đúng hạn số thuế
phải nộp vào Ngân sách Nhà Nước theo quy định của pháp luật thuế.
Số thuế nợ là số tiền thuế phải nộp theo quy định của pháp luật nhưng chưa nộp
vào NSNN.
Khoản nợ thuế là số tiền thuế được cơ quan có thẩm quyền xác định tại một thời
điểm theo từng lần phát sinh phải nộp của một NNT tương ứng với một khoản thuế
nhất định.
Người nợ thuế là các tổ chức cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế còn nợ các
khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy
phạm pháp luật.
9
Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nộp thuế tại một thời điểm ở một
ngưỡng nào đó khi phân loại nợ thuế.
Tuổi nợ: là khoảng thời gian liên tục tính từ thời điểm bắt đầu nợ phát sinh đến
thời điểm khoản nợ đó được cơ quan thuế thống kê.
Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản nợ thuế: là ngày tiếp theo ngày hết
hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản nợ thuế: là ngày tiếp theo ngày
khoản nợ được nộp vào ngân sách nhà nước, hoặc ngày có hiệu lực thi hành của
văn bản xóa nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng hình thức khác.

Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn đề cập đến các vi phạm điều
chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế.
Như vậy hành vi nợ thuế quá hạn quy định của pháp luật là hành vi vi phạm
pháp luật thuế của người nộp thuế bằng cách nộp chậm hoặc không nộp số tiền
thuế phải nộp vào NSNN theo thời hạn quy định của pháp luật thuế.
1.1.2.3 Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi
hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN còn nợ thuế mới chỉ
là hành vi chây ỳ, chậm nộp tiền thuế khi quá hạn nộp theo quy định của pháp luật.
Tất nhiên, trong một số trường hợp, việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong
chuỗi hành vi trốn thuế, chẳng hạn như một số doanh nghiệp cố tình nợ một số tiền
thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
11
1.1.3 Phân loại nợ thuế
1.1.3.1 Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ
Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuế theo
mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuế
được phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năng
thu.
- Nợ có khả năng thu
Theo thống kê, khoản nợ thuộc nhóm này thường chủ yếu là các khoản nợ mới
phát sinh sau thời hạn nộp thuế được quy định tại các văn bản pháp quy về thuế.
Do vậy, nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được
xác định phải nộp vào NSNN nhưng đã hết thời hạn nộp theo quy định của pháp
luật mà chưa nộp, đồng thời không thuộc nhóm nợ khó thu và nhóm nợ không có
khả năng thu.
Tùy thuộc vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kì kinh tế xã hội thì cơ
quan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậm
nộp dưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 đến 90 ngày và nợ thuế quá 90 ngày.
- Nợ khó thu

thẩm quyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhóm
này để sau khi có quyết định khoanh nợ thì sẽ chuyển sang nhóm nợ không có khả
năng thu.
13
Ngoài ra, nợ thuế của một loại đối tượng khác cũng có thể coi là không có khả
năng thu, đó là nợ thuế các các doanh nghiệp bỏ trốn. Hầu hết đây là các doanh
nghiệp ma, chỉ thành lập để mua bán hóa đơn, không thực tế kinh doanh.
1.1.3.2 Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế
Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua các
công tác thanh tra- kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được chia thành: nợ thuế,
phí thông thường; nợ phạt thuế, phí; và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra
kiểm tra.
- Nợ thuế, phí thông thường
Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do
người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy
thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện. Thông thường
trong nhóm nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiều khoản nợ có tuổi và mức nợ khác
nhau do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế này được
theo dõi bên hồ sơ quản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế.
- Nợ phạt thuế, phí
Theo Luật quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan thuế xử phạt thuế, phí đối với
người nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại vi phạm tương ứng với từng
nội dung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợ phạt phát sinh cho từng lần vi
phạm. Do vậy, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các
khoản mục nợ: nợ do phạt nộp chậm; nợ phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt trốn
thuế; nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế.
Việc phân loại thành các nhóm nợ nhỏ theo từng loại vi phạm như trên vừa có
tác dụng phân loại nợ, vừa có ý nghĩa thống kê vi phạm của người nộp thuế để cơ
quan thuế có biện pháp quản lý hiệu quả.
14

định của pháp luật hoặc theo thông báo, được ghi trên quyết định của cơ quan thuế
đến hạn nộp mà chưa nộp thì được coi là nợ thuế. Theo tiêu thức phân loại theo
thời gian nợ thì sẽ được coi là nợ quá hạn. Tùy vào từng thời kì kinh tế mà người ta
chia thành các khoản nợ nhỏ theo mức nợ, nhóm nợ khác nhau để có biện pháp
quản lý phù hợp.
1.1.3.4. Căn cứ vào đối tượng nợ
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang ngày càng phát triển với sự tham gia của
nhiều thành phần kinh tế góp phần đa dạng hóa nền kinh tế, thúc đẩy quá trình
cạnh tranh và là động lực phát triển đất nước. Tuy nhiên về mặt quản lý của các cơ
quan chức năng thì việc có nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh
tế sẽ có nhiều khó khăn phức tạp.
Vì vậy, căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm
nợ khác nhau như sau:
- Nợ thuế của doanh nghiệp Nhà Nước
- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh
- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể
- Nợ thuế thu nhập của cá nhân
- Nợ thuế của các đối tượng khác.
Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ nợ thuế
của từng loại hình người nộp thuế. Để từ đó có biện pháp, chính sách khuyến khích
16
các loại hình doanh nghiệp phát triển đồng thời nghiên cứu những bất cập của
nhóm nợ khác để có phương pháp quản lý hoặc xử lý phù hợp.
1.1.3.5. Căn cứ vào tính chất nợ
- Nợ chờ xử lý
Nợ chờ xử lý là căn cứ vào tính chất của khoản nợ và áp dụng đối với đối tượng
nộp thuế đang tồn tại để phân loại. Các khoản nợ thuộc các trường hợp được đưa
vào nhóm nợ chờ xử lý để theo dõi thường bao gồm:
Thứ nhất, nợ đang chờ điều chỉnh: là số tiền nợ thuế của người nợ thuế do

đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vào NSNN và
không thuộc các trường hợp thuộc nhóm nợ chờ xử lý nêu trên.
- Nợ khó thu
Tương tự cách phân loại vào khả năng thu hồi nợ của đối tượng nợ thì nợ khó
thu bao gồm nợ của các đối tượng giải thể, phá sản hoặc đang trong giai đoạn thực
hiện các thủ tục giải thể, phá sản để giải quyết nợ theo trình tự của thủ tục giải thể,
phá sản doanh nghiệp; hoặc nợ của đối tượng bỏ trốn, mất tích; nợ của đối tượng bị
khởi tố là số tiền nợ của đối tượng nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi
tố hình sự liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế, đang thi hành án, đang chờ bản án hoặc
kết luận của cơ quan pháp luật.
Đối với những người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì việc thu nợ sẽ gặp
nhiều khó khăn, người nộp thuế thường không có tiền trả nợ thuế hoặc không tìm
18
được chủ doanh nghiệp, lúc này cơ quan thuế sẽ phải phụ thuộc vào kết quả xử lý
của cơ quan có thẩm quyền khác, do đó sẽ không chủ động được trong việc đưa ra
các biện pháp thu nợ kịp thời. Chính vì vậy, việc phân loại các nhóm nợ này có ý
nghĩa quan trọng trong việc quản lý nợ đối với những trường hợp người nộp thuế
trong tình trạng này.
1.1.3 Vai trò của công tác quản lý nợ thuế
Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ của
đối tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thời
vào NSNN; đảm bảo công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanh cùng phát sinh
nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào NSNN đúng hạn.
Thứ hai, quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của Nhà
Nước, chống thất thoát NSNN. Quản lý nợ đảm bảo các chính sách thuế được thực
hiện đúng và triệt để thông qua việc cơ quan thuế có các tác động, can thiệp kịp
thời và xử lý nghiêm các trường hợp có hành vi vi phạm thời hạn nộp thuế nhằm
nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế.
Thứ ba, việc quản lý nợ thuế để đảm bảo cơ quan thuế có biện pháp thu nợ phù
hợp, hiệu quả; mặt khác quản lý nợ là một thước đo để đánh giá hiệu quả của công

áp dụng đầy đủ các biện pháp quản lý đôn đốc thu nợ của mình nhưng vẫn không
thu đủ tiền nộp vào NSNN. Vì vậy, để đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế thì
20
cưỡng chế thuế được coi là công cụ bắt buộc để nâng cao hiệu lực của pháp luật
thuế và để góp phần chống thất thu NSNN.
1.2.2. Đặc điểm cưỡng chế thuế
1.2.2.1. Cưỡng chế thuế là hành vi thi hành pháp luật về thuế
Cưỡng chế thuế là một trong các công tác quan trọng áp dụng đối với những
người nợ thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuế nhằm mục
đích đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền vào NSNN và góp phần thực hiện công bằng
giữa những người nộp thuế.
1.2.2.2. Cưỡng chế thuế là hành vi xuất hiện sau hành vi nợ thuế
Cưỡng chế thuế chỉ được thực hiện khi phát sinh các khoản nợ thuế mà cơ quan
thuế đã triển khai các biện pháp thu nợ mà vẫn chưa thu hồi được số tiền nợ thuế từ
những người nợ thuế. Khi đó, công tác cưỡng chế thuế sẽ phát huy được vai trò thu
hồi tiền nợ thuế về cho NSNN.
1.2.2.3 Thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế đòi hỏi có sự phối kết hợp chặt
chẽ giữa cơ quan thuế với các cơ quan thi hành pháp luật khác
Khi thực hiện công tác cưỡng chế thuế đòi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa cơ
quan thuế với các cơ quan, ban , nghành chức năng như: Kho bạc, Công an, Viện
kiểm sát. Việc cưỡng chế thuế có liên quan đến lợi ích của người nộp thuế, do vậy
phải có những thủ tục pháp lý chặt chẽ liên quan đến chức trách của nhiều cơ quan
khác nhau. Bởi vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các cơ quan Nhà
Nước khác là tất yếu để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của cưỡng chế thuế.
1.2.3 Vai trò của công tác cưỡng chế thuế
Cưỡng chế thuế là khâu cuối cùng trong quy trình quản lý thuế. Cưỡng chế thuế
thể hiện tính chất bắt buộc phải tuân thủ bởi quyền lực Nhà nước của thuế. Với
tính chất như vậy, cưỡng chế thuế có các vai trò quan trọng sau đây:
21
Thứ nhất, cưỡng chế thuế đảm bảo thực hiện nghiêm túc pháp luật thuế, chống

thực hiện thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương.
Thứ hai, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu quả của cơ quan quản lý thuế.
Có nghĩa là khi thực hiện một quyết định cưỡng chế thuế thì cơ quan thuế phải
đảm bảo tính hiệu quả cao mà chi phí thực hiện cưỡng chế là tối thiểu. Muốn thực
hiện được điều này, đòi hỏi trước khi ban hành các quyết định thực hiện cưỡng chế
thuế cần tính đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến công tác thực hiện cưỡng chế
như thời gian, địa điểm, hình thức cưỡng chế. Bên cạnh đó, cơ quan thuế cần cân
nhắc kỹ lưỡng từng trường hợp nợ thuế và xác định trường hợp nào thực hiện biện
pháp cưỡng chế nào là hợp lý.
Thứ ba, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của người nộp
thuế, thông qua cưỡng chế thuế góp phần nâng cao tính hiệu quả của pháp luật,
đồng thời góp phần răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ của đối tượng nộp thuế.
1.3 Mối quan hệ giữa quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế
Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt nhưng
chúng có mối quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau. Công tác quản lý thuế chỉ đạt
hiệu quả cao khi mà công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế thực hiện thống
nhất và phù hợp bổ sung cho nhau đảm bảo thu đủ, thu đúng, thu kịp thời tiền thuế
vào NSNN. Mối quan hệ này thể hiện qua một số điểm sau:
Quản lý nợ là cơ sở để cơ quan thuế lựa chọn và thực hiện các biện pháp cưỡng
chế thuế hiệu quả. Thông qua các phương pháp phân loại nợ thì cơ quan thuế có
23
thể xác định được những khoản nợ cần tập trung để thu nợ. Đồng thời, trên cơ sở
đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng nợ thuế, chẳng hạn
như có những trường hợp qua phân loại nợ nhận thấy các khoản nợ thông thường
chưa cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hoặc qua phân loại nợ xác định được
những khoản nợ khó thu thì cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế như: trích tiền
gửi ngân hàng, tổ chức tín dụng. Nhằm mục đích thu đủ tiền thuế vào NSNN.
Quản lý nợ thuế tốt dẫn đến việc đôn đốc thu nợ của cơ quan thuế đối với người
nợ thuế phát huy hiệu quả sẽ làm cho số lượng các khoản nợ thông thường giảm.
Khi số lượng nợ chuyển sang nợ khó thu giảm đi nó sẽ làm cho khối lượng công

chính xác.
Thứ tư, trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác quản lý nợ thuế và cưỡng
chế thuế. Con người luôn là nhân tố quyết định đến mọi sự thành bại của quản lý
và đây cũng không phải là ngoại lệ.
1.4.2 Nhóm yếu tố khách quan
Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý
nợ thuế và cưỡng chế thuế. Giả sử khi tỉ lệ lạm phát tăng cao, Chính phủ sẽ phải
thực hiện các chính sách tiền tệ thắt chặt, áp dụng mức lãi suất tín dụng cao làm
cho giá cả các mặt hàng, nguyên liệu, đầu vào tăng. Điều này sẽ làm cho chi phí
sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp tăng dẫn đến hiệu quả sản xuất của các
25

Trích đoạn Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế ở Chi cục thuế quận Ba Đình TP Hà Nộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status