Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K.21
*****
Đề tài: “KIỂM ĐỊNH HIỆU ỨNG THỜI GIAN ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH”.
1. Xác định vấn đề nghiên cứu:
Fama (1965; 1970) đã đưa ra lý thuyết về thị trường hiệu quả. Trong lý thuyết này, ông
giả định rằng không có chi phí giao dịch, mọi thành viên trên thị trường đều có thể tiếp cận với
các thông tin thị trường mà không phải tốn bất cứ một chi phí nào và kỳ vọng của các nhà đầu
tư là thuần nhất. Điều này làm cho giá của các chứng khoán phản ánh được toàn bộ những
thông tin của thị trường, dẫn đến chúng luôn phù hợp với mức giá trị nội tại. Đồng thời, giá
của chứng khoán còn biến động một cách ngẫu nhiên, không lường trước được khiến các nhà
đầu tư không có khả năng liên tục đánh bại thị trường để đạt được mức tỷ suất sinh lợi cao hơn
tỷ suất sinh lợi thị trường. Tuy nhiên, thực tế không luôn diễn ra như vậy.
Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm thấy sự tồn tại của hiện tượng “hiệu ứng thời gian” trên
một số thị trường chứng khoán của thế giới. Theo đó, hiện tượng thể hiện sự lặp lại tỷ suất sinh
lợi bất thường của các chứng khoán theo một “quy luật” cụ thể - điển hình như: “hiệu ứng
tháng Giêng” (tỷ suất sinh lợi của chứng khoán luôn là cao nhất trong tháng này – theo
Wachetel 1942, Roll 1983, Haugen & Lankonishok 1987), “hiệu ứng Halloween” (việc mua
chứng khoán trong giai đoạn từ tháng 11 đến tháng 4 thường tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn
việc mua chứng khoán trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10 – theo S.Bouman &
B.Jacobsen, Dec 2002)… Điều này giúp các nhà đầu tư có thể đưa ra những chiến lược đầu tư
hiệu quả nhằm đạt được mức tỷ suất sinh lợi cao bất thường. Do đó, “hiệu ứng thời gian” là
một trong những hiện tượng đã phá vỡ lý thuyết thị trường hiệu quả của giáo sư Fama.
Như chúng ta đã biết, thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong số những thị
trường mới nổi trên thế giới nhưng đã đạt được nhiều thành tựu nhất định sau hơn 10 năm tồn
tại và phát triển. Do đó, thị trường thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư. Điều
này đã tạo động lực cho việc nghiên cứu về sự tồn tại của “hiệu ứng thời gian” trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
H.Swint Friday và Nhung Hoang (“Seasonality in the Vietnam Stock Index”, 2011) đã
việc đưa ra các quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam – điển hình là thị
trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu :
“KIỂM ĐỊNH HIỆU ỨNG THỜI GIAN ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ
CHÍ MINH”.
2. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
2.1. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm định có hay không
sự tồn tại của “Hiệu ứng thời gian” và các quy luật “Hiệu ứng thời gian” trên thị trường chứng
khoán Việt Nam nhằm cung cấp các thông tin giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 2
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
tương ứng thích hợp qua từng khung thời gian
Mục tiêu cụ thể:
• Quan sát xu hướng tỷ suất sinh lợi trung bình và khối lượng giao dịch chỉ số VN-
Index các tháng trong năm.
• Nhận dạng hiệu ứng thời gian trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
• Kiểm định hiệu ứng thời gian trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
• Kiểm chứng các nguyên nhân (biến) giải thích cho hiệu ứng thời gian trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Tỷ suất sinh lợi bất thường của danh mục đầu tư chứng
khoán qua các ngày trong tuần, tuần trong tháng, tháng trong năm.
2.3. Phạm vi nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng chỉ số VN-index
của sàn giao dịch chứng khoán TPHCM, thời gian từ tháng 7 năm 2000 đến tháng 12 năm
2011.
2.4. Câu hỏi nghiên cứu:
• C1: Có sự xuất hiện tỷ suất sinh lợi bất thường của danh mục đầu tư giữa các
ngày trong tuần, tuần trong tháng, tháng trong năm không?
• C2: Thị trường chứng khoán Việt Nam có tồn tại những dạng hiệu ứng thời gian
nào? (ngày trong tuần, tuần trong tháng, tháng trong năm)
• C3: Nếu có tồn tại hiệu ứng thời gian trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì
nguyên nhân nào giải thích cho các hiệu ứng đó?
ngẫu nhiên. Hơn nữa, Okpara (2010) cũng ủng hộ thuyết bước ngẫu nhiên này bằng cách khảo
sát thị trường chứng khoán Nigeria, kết quả chỉ ra thị trường chứng khoán Nigeria thể hiện rõ
đặc điểm của thuyết bước ngẫu nhiên; kết quả, các chiến lược đầu tư dự đoán giá tương lai dựa
trên biến động quá khứ của giá cổ phiếu thì không thể áp dụng để thu được một tỷ suất sinh lợi
vượt trội.
Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng thuyết bước ngẫu nhiên không
tồn tại. Lo và MAckinlay đã thực hiện kiểm định bước ngẫu nhiên tại thị trường chứng khoán
NewYork và thị trường chứng khoán Mỹ trong suốt khoảng thời gian từ năm 1962 – 1985 bằng
cách sử dụng kiểm định phương sai cho dữ liệu hằng tuần và nhận ra rằng thuyết bước ngẫu
nhiên bị bác bỏ. Hơn nữa, trong nghiên cứu mở rộng của Frennberg và Hansson (1993), dữ liệu
hằng tháng trong vòng 72 năm từ 1919 -1990 tại thị trường chứng khoán Thụy Điển đã được
kiểm tra và kết quả là những biến đổi trong giá cổ phiếu là không ngẫu nhiên và được lặp lại
trong một vài khoảng thời gian như chúng đã được chứng minh. Tương tự, Chaudhuri và Wu
(2003) cũng đưa ra cùng một kết luận khi họ kiểm tra lý thuyết bước ngẫu nhiên tại các thị
trường chứng khoán mới nổi, kết quả cho thấy rằng 10/17 thị trường không tuân theo thuyết
bước ngẫu nhiên.
Tóm lại, những ý kiến ủng hộ hoặc phản đối dựa trên những bằng chứng thực nghiệm
cho thấy sự tồn tại của thuyết bước đi ngẫu nhiên vẫn là vấn đề gây tranh cải trong trong dài
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 4
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
hạn. Tuy nhiên, Dimson và Mussavia (2000) đã đưa ra giả thuyết là sự tồn tại của thuyết bước
ngẫu nhiên có thể được chứng minh thông qua thuyết thị trường hiệu quả. Tương tự, Blume và
Siegel (1992) chỉ ra rằng thuyết bước ngẫu nhiên và thuyết thị trường hiệu quả có một quan hệ
mật thiết. Học thuyết bước ngẫu nhiên là cơ sở lý thuyết của sự phát triển thuyết thị trường
hiệu quả, và thuyết thị trường hiệu quả đóng vai trò thiết yếu trong việc giải thích thuyết bước
ngẫu nhiên. Do đó, để xây dựng một sự hiểu biết tốt hơn đối với sự biến động giá cổ phiếu
cũng như sự phát triển của thị trường chứng khoán, phần tiếp theo sẽ trình bày lý thuyết thị
trường hiệu quả.
3.1.2. Thuyết thị trường hiệu quả.
Giáo sư Fama là người đầu tiên định nghĩa thị trường hiệu quả. Thị trường hiệu quả là
thông tin chính là nhân tố cốt lõi để xác định phương pháp kiểm định phù hợp để xác định tính
hiệu quả của thị trường. Giáo Sư Fama đã phân loại thông tin được phản ánh thành 3 tập hợp,
và tương ứng với nó là 3 mẫu hình khác nhau của thị trường hiệu quả:
• Tập hợp thông tin chỉ bao gồm giá cả các loại chứng khoán vốn trong quá khứ. Thị
trường mà giá cả phản ánh hoàn toàn lượng thông tin vừa nêu được gọi là thị trường hiệu quả
dạng yếu.
• Tập hợp thông tin bao gồm các tin tức được phổ biến trong cộng đồng giới đầu tư
trong hiện tại (như các báo cáo thu nhập hằng năm, việc tiến hành chia nhỏ cổ phần…). Thị
trường mà giá cả phản ánh hoàn toàn lượng thông tin trên gọi là thị trường hiệu quả dạng vừa
phải.
• Cuối cùng, như định nghĩa về thị trường hiệu quả, thị trường mà giá cả phản ánh
hoàn toàn mọi thông tin tồn tại trên thị trường gọi là thị trường hiệu quả dạng mạnh. Giáo Sư
Fama đã nhận thấy rằng định nghĩa thị trường hiệu quả dạng mạnh vẫn còn mang tính khái
quát cao, gây khó khăn trong các nghiên cứu định lượng. Do đó, ông đã đưa ra một quan điểm
thứ hai, trong đó cho rằng: việc kiểm định thị trường hiệu quả dạng mạnh, về bản chất, là sự
kiểm định xem liệu có nhóm các nhà đầu tư nào trong cộng đồng đầu tư sở hữu các nguồn
thông tin độc quyền đến việc xác định giá cả chứng khoán vốn trong tương lai hay không.
* Các giả định của Giáo Sư Fama trong nghiên cứu thị trường hiệu quả
• Không tồn tại chi phí giao dịch trong các giao dịch mua bán chứng khoán vốn.
• Mọi thành viên trên thị trường đều có thể tiếp cận với các thông tin trên thị trường
mà không phải tốn bất cứ một chi phí nào.
• Kỳ vọng của các nhà đầu tư là thuần nhất. Nói cụ thể hơn, các nhà đầu tư đều có
cùng một cách biên dịch và suy nghĩ về những gì được ẩn dấu trong các thông tin trên thị
trường; qua đó, hình thành nên một kỳ vọng thuần nhất về mức giá cả cũng như mô hình phân
phối xác suất giá cả trong tương lai.
3.2. Lý thuyết, khái niệm về "hiệu ứng thời gian".
Hiệu ứng thời gian là một hiệu ứng kinh tế, đặc biệt là tại các thị trường chứng khoán,
xuất hiện có liên quan đến lịch. Các hiệu ứng này bao gồm các hành vi dường như khác nhau
của thị trường chứng khoán vào các ngày khác nhau trong tuần, tuần trong tháng và tháng
trong năm ( xu hướng theo mùa). Dường như có sự thay đổi trong tâm lý nhà đầu tư trước
3.3.1. Hiệu ứng ngày trong tuần (Day of the week effect)
Hiệu ứng ngày trong tuần là sự bất thường trong tỷ suất sinh lợi trung bình hằng ngày
của các cổ phiếu trên thị trường. Dạng phổ biển của Hiệu ứng ngày trong tuần đó là, thứ Hai là
ngày tồi tệ nhất khi tỷ suất sinh lợi trung bình vào ngày thứ Hai thấp hơn đáng kể so với tỷ suất
sinh lợi trung bình của những ngày khác trong tuần. Ngược lại, ngày thứ Sáu có tỷ suất sinh lợi
cao nhất trong tuần. Tuy nhiên, có một số trường hợp đặc biệt trên những thị trường khác nhau,
2
Shahid Ali and Muhammad Akbar, Calendar effect in Pakistan, International Review of Business
Research Papers Vol. 5 No. 1 January 2009, Pp. 389- 404
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 7
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
chẳng hạn như hiệu ứng ngày thứ Ba tồn tại thay vì hiệu ứng ngày thứ Hai. Ngoài ra, hiệu ứng
ngày trong tuần còn được biết đến với tên gọi khác là hiệu ứng cuối tuần (the weekend effect).
Trong suốt những thập kỷ qua, có nhiều nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong tuần đã
được thực hiện, tập trung chủ yếu trên thị trường chứng khoán Mỹ, thị trường chứng khoán
phát triển nhất trên thế giới. Nghiên cứu năm 1981 của Gibbons và Hess, sử dụng dữ liệu từ
năm 1962 đến năm 1978, đưa ra kết quả tỷ suất sinh lợi vào các ngày thứ Hai thấp hơn nhiều
so với những ngày khác và tỷ suất sinh lợi vào ngày thứ Sáu cao hơn so với những ngày còn lại
trong tuần. Keim và Stambaugh (1984) sử dụng dữ liệu trên thị trường chứng khoán Mỹ từ
năm 1928 đến năm 1982 cũng đưa ra kết luận tương tư.
Ngoài thị trường chứng khoán Mỹ, các nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong tuần trên các
thị trường chứng khoán khác cũng được thực hiện. Nghiên cứu của Jaffe và Westerfield (1985)
đã tìm thấy sự tồn tại hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán Úc, Nhật Bản, Anh
và Canada; trong đó, ở Nhật Bản, tỷ suất sinh lợi cao nhất xuất hiện vào ngày giao dịch cuối
tuần, ngày thứ Bảy; đồng thời, tại Úc và Nhật Bản đều xuất hiện hiệu ứng ngày thứ Ba là ngày
có tỷ suất sinh lợi thấp nhất trong tuần. Một nghiên cứu ở 18 quốc gia khác nhau được thực
hiện bởi Agrawal và Tandon (1994) cho kết quả tỷ suất sinh lợi cao nhất trong tuần ở các quốc
gia trên diễn ra vào ngày thứ Tư và thứ Sáu, tỷ suất sinh lợi thấp nhất trong tuần tập trung ở
ngày thứ Hai và thứ Ba. Năm 1990, Ho tiến hành kiểm định hiệu ứng trong tuần trên thị trường
chứng khoán của 10 nước ở Châu Á Thái Bình Dương cùng với Mỹ và Anh. Nghiên cứu cho
cơ hội cho các nhà đầu tư mua cổ phiếu trước tháng Giêng với giá thấp hơn và bán chúng sau
khi giá cố phiếu tăng lên.
Về cơ bản, Hiệu ứng thời gian này chỉ ra rằng các cổ phiếu nhỏ sẽ bắt đầu tăng lên vào
những ngày cuối cùng của tháng mười hai và sẽ tiếp tục tăng như vậy cho tới ngày giao dịch
thứ năm trong tháng Giêng.
Vì vậy, đặc điểm chính của Hiệu ứng tháng Giêng là sự gia tăng mua chứng khoán trước
khi kết thúc năm với một mức giá thấp hơn, và bán chúng vào tháng Giêng để tạo ra lợi nhuận
từ chênh lệch giá.
Đây là loại mô hình hành vi giá cả trên thị trường tài chính hỗ trợ thực tế là thị trường
tài chính không hoàn toàn hiệu quả.
Hiệu ứng tháng Giêng lần đầu tiên được quan sát thấy là vào hoặc trước năm 1942 bởi
chủ ngân hàng đầu tư Sidney B. Wachtel. Nó là hiện tượng quan sát từ năm 1925, cổ phiếu nhỏ
đã vượt trội so với thị trường rộng lớn hơn trong tháng Giêng, với hầu hết sự chênh lệch xảy ra
trước giữa tháng.
Cơ sở tâm lý để giải thích hiện tượng này là các nhà đầu tư cá nhân, những người nhạy
cảm với thuế thu nhập và giữ các cổ phiếu nhỏ một cách không tương xứng, họ bán các cổ
phiếu vì lý do thuế vào cuối năm (chẳng hạn như yêu cầu bồi thường mất vốn) và tái đầu tư sau
khi thời điểm bắt đầu năm mới . Một nguyên nhân khác là việc thanh toán tiền thưởng cuối
năm xảy ra vào tháng Giêng. Một số tiền thưởng này được sử dụng để mua cổ phiếu, đẩy giá.
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 9
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
Hiệu ứng tháng Giêng không phải luôn luôn đúng, ví dụ, cổ phiếu nhỏ kéo tụt cổ phiếu lớn xảy
ra vào Tháng Giêng trong các năm 1982, 1987, 1989 và 1990.
Một số nghiên cứu cho thấy Hiệu ứng Tháng Giêng hoàn toàn có thực và đã xảy ra.trên
nhiều thị trường chứng khoán của nhiều nước khác nhau trên thế giới. Trong một báo cáo
chuyên đề, Rozell and Kinney (1976) đã đưa ra bằng chứng về Hiệu ứng tháng Giêng trên thị
trường chứng khoán New York trong khoảng thời gian từ 1904-1974. Rozell and Kinney phát
hiện ra rằng tỷ suất sinh lợi trung bình xảy ra trong Tháng Giêng đạt mức 3.48 %, cao hơn gấp
8 lần so với tỷ suất sinh lợi trung bình của 11 tháng còn lại trong năm là 0.42%. Một nghiên
cứu khác theo cấp độ của nhà đầu tư cá nhân, Ritter (1988) phát hiện ra rằng sự biến động giá
thông báo Hiệu ứng tháng Giêng hiện tại là yếu để không tồn tại. Trong một thị trường hiệu
quả, mọi người cuối cùng sẽ tìm ra những hiện tượng không giải thích được và sau đó mua bán
chúng cho đến khi chúng biến mất. Sử dụng những dị thường như là một cách để đánh giá tâm
lý học, không phải là quy tắc kinh doanh khó khăn và nhanh chóng.
3.3.3. Hiệu ứng Halloween (Halloween Effect)
Hiệu ứng Halloween” – hay còn được biết đến với cái tên “Sell in May and go away
until Halloween day” – cũng là một hiện tượng thú vị xảy ra trên thị trường chứng khoán toàn
cầu. Đã có rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính đề cập đến hiệu ứng này. “Hiệu ứng
Halloween” cho thấy việc mua chứng khoán trong giai đoạn từ tháng 11 đến tháng 4 thường
tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn việc mua chứng khoán trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10
(chính vì vậy mới gọi là hiệu ứng Halloween vì Halloween xảy ra vào tháng 10). Riepe (2003)
đã phân tích chỉ số S&P 500 từ tháng 01/1926 đến tháng 03/2003 để tìm ra tỷ suất sinh lợi
trung bình tháng (trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10) là 0.77 %. Tuy nhiên, tỷ suất sinh
lợi trung bình tháng trong khoảng thời gian 6 tháng còn lại thì cao hơn đến 50 %, đạt mức
1.15%. Đồng thời, Bouman và Jacobsen (2002) cũng nhận thấy “hiệu ứng Halloween” xuất
hiện tại 36 trong tổng số 37 quốc gia mà họ tiến hành nghiên cứu như: Argentina, Austria,
Australia, Belgium, Brazil, Canada, Chile, …
Có một số lý giải cho hiện tượng bất thường này như: cho rằng ở châu Âu, đa số các
nhà đầu tư thường đi nghỉ hè vào tháng Năm nên tính thanh khoản của thị trường thấp, giao
dịch trở nên ảm đạm. Vì vậy mà cổ phiếu thường rớt giá vào đầu tháng; hoặc do các nhân tố cơ
bản của nền kinh tế (nông nghiệp và hàng tiêu dùng) thay đổi (Bouman và Jacobsen, 2002).
3.4. Một số phương pháp kiểm định hiệu ứng thời gian trong các nghiên cứu trước
Trong nghiên cứu của Shahid Ali và Muhammad Akbar (2009) về hiệu ứng thời gian
trên thị trường chứng khoán Pakistan, hai ông đã tiến hành kiểm định hiệu ứng ngày trong
tuần, tuần trong tháng và tháng trong năm, thông qua chỉ số 100 KSE của sở giao dịch chứng
khoán Karachi. Dữ liệu thu thập là giá đóng cửa hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng, trong
giai đoạn từ tháng 11 năm 1991 đến tháng 10 năm 2006. Dữ liệu sau khi thu thập được tính tỷ
suất sinh lợi, thông qua công thức sau:
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 11
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
ε
it: sai số
Nghiên cứu kết luận rằng không tồn tại hiệu ứng hàng tuần hoặc các hiệu ứng hàng
tháng trong thị trường chứng khoán Pakistan trong dài hạn, tuy nhiên thị trường không hiệu
quả trong ngắn hạn.Có sự tồn tại hiệu ứng hàng ngày vào các ngày thứ tư và thứ năm của tuần,
thông qua sử dụng mô hình AR cho thấy lợi nhuận bất thường trong những ngày này.
Một nghiên cứu khác về hiệu ứng mùa trong thị trường chứng khoán Ấn Độ của hai tác
giả P. Nageswari, Dr.M.Selvam (2011), kiểm định có hay không sự tồn tại hiệu ứng ngày trong
tuần, tháng trong năm của thị trường chứng khoán Ấn Độ. Dữ liệu được sử dụng là chỉ số BSE
Sensex của các công ty niên yết trên sàn giao dịch chứng khoán Bombay, với chuỗi dữ liệu
mười năm từ ngày 1/4/2000 đến 31/3/2010. Thông tin thu thập của nghiên cứu là giá đóng cửa
hàng ngày hoặc hàng tháng của chỉ số BSE Sensex. Dựa trên dữ liệu thu thập được tác giả đã
tính toán tỷ suất sinh lợi của các ngày trong tuần hay các tháng trong năm thông qua công thức
sau:
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 12
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
Với: : Tỷ suất sinh lợi của ngày t, tháng t
: chỉ số BSE Sensex ngày t hoặc tháng t
: chỉ số BSE Sensex ngày t-1 hoặc tháng t-1
Phương pháp nghiên cứu: đầu tiên tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả để nhận
định xu hướng thị trường chứng khoán, sau đó kiểm định giả thuyết H
0
: không có sự khác biệt
đáng kể trong lợi nhuận trung bình giao dịch ngày trong tuần hay giao dịch tháng trong năm
bằng mô hình Kruskall-Wallis. Khi nhận thấy có sự bất thường trong lợi nhuận trung bình của
giao dịch ngày trong tuần hay tháng trong năm. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để
thấy được mối quan hệ giữa một ngày cụ thể trong tuần hoặc một tháng cụ thể trong năm có
mối tương quan đối với tỷ suất sinh lợi trung bình. Đối với kiểm định mối tương quan giữa
ngày trong tuần dùng mô hình sau:
tìm thấy có xuất hiện sự bất thường có xuất hiện sự bất thường nào không. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, trong tất cả các tháng của năm thì tỷ suất sinh lợi trong tháng 1 là cao nhất. Điều này
thể hiện sự tồn tại của “hiệu ứng tháng Giêng” trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đồng
thời, nghiên cứu cũng đưa ra các kết luận cho thấy sự hiện hữu của “hiệu ứng Halloween”.
Ngoài ra, trong nghiên cứu, tác giả H. Swint Friday và Nhung Hoang đã kiểm định sự
tồn tại của hiệu ứng tháng giêng có liên quan tới giả thuyết giảm số thuế phải nộp hay không.
Bằng cách mối tương quan giữa tỷ suất sinh lợi của các thời kỳ trước và các yếu tổ ảnh hưởng
đến tỷ suất sinh lợi, trong đó việc giảm thuế phải nộp được xem là một biến giải thích. Kết quả
cho thấy, tỷ suất sinh lợi tháng giêng chủ yếu phụ thuộc vào tỷ suất sinh lợi của thời kì trước
chứ không chịu ảnh hưởng nhiều của giả thuyết giảm số thuế phải nộp.
3.5. Hiệu ứng thời gian trên thị trường chứng khoán Việt Nam qua các nghiên
cứu trước.
Với những thú vị mà hiệu ứng thời gian đã đem lại trên thị trường chứng khoán thế giới.
Các nhà khoa học cũng đã tiến hành những thử nghiệm để khám phá ra rằng liệu “hiệu ứng
thời gian có tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không?” và nếu tồn tại “thì hiệu
ứng thời gian sẽ được biểu hiện dưới hình thái như thế nào?”
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 14
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
Hai tác giả Hồ Quốc Tuấn – Phùng Đức Nam (trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí
Minh) đã tiến hành mô phỏng theo những kiểm chứng đơn giản hiệu ứng thời gian của
Jacobsen và Visaltanachoti năm 2006 (từ bộ dữ liệu của thị trường chứng khoán Việt Nam từ
tháng 8/2000 đến tháng 2/2008), để tính toán tỷ suất sinh lợi bình quân các tháng của thị
trường dựa trên chỉ số VN-Index.
Hai tác giả đã sử dụng cách tính tỷ suất sinh lợi đơn giản bằng cách tính tỷ lệ phần trăm
thay đổi giá đầu tháng so với cuối tháng, nghĩa là giả định nhà đầu tư chỉ mua cổ phiếu đầu
tháng và giữ đến cuối tháng. Theo đó, họ nhận thấy dường như tồn tại hiệu ứng Halloween ở
Việt Nam vì tỷ suất sinh lợi các tháng 5 đến tháng 10 thường khá thấp so với giai đoạn từ tháng
11 đến tháng Một điều khác đáng chú ý là tỷ suất sinh lợi của tháng 1 và tháng 11 khá cao
trong khi tỷ suất sinh lợi của tháng 7 là rất thấp. Các kết quả này cho thấy có khả năng tồn tại
hiệu ứng tháng 1 ở Việt Nam, vì tỷ suất sinh lợi của tháng này gần như là cao nhất trong năm
• Đối với kiểm định sự tồn tại hiệu ứng ngầy trong tuần, Mẫu dữ liệu được thu thập
từ ngày 01/03/2002 (thời điểm bắt đầu giao dịch 5 ngày/tuần) đến ngày 31/12/2011. Việc sử
dụng ngày bắt đầu của mẫu dữ liệu là ngày 01/03/2002 mà không phải ngày bắt đầu giao dịch
của HOSE để loại trừ ảnh hưởng (có thể có) của sự không đồng nhất chuỗi dữ liệu thời gian
trước đó (chỉ giao dịch 3 ngày/tuần).
4.4. Phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp,
bằng cách thu thập dữ liệu về chỉ số VN-Index trên website Vietstock .
4.5. Thang đo:
Khái niệm tỷ suất sinh lợi được đo lường như là tổng các khoản thu nhập hay lỗ của chủ
sở hữu trong một thời kỳ. Nói chung, nó chính là sự thay đổi trong giá trị của đầu tư cộng thêm
với tất cả thu nhập bằng tiền (theo lý thuyết danh mục Harry Markowitz)
Khái niệm này được xây dựng là khái niệm bậc nhất và đo lường bằng 2 biến quan sát là
giá cả và lưu lượng tiền mặt. Tuy nhiên, nghiên cứu với giả định nhà đầu tư chỉ mua cổ phiếu
đầu tháng và giữ đến cuối tháng nên biến quan sát của thang đo khái niệm tỷ suất sinh lợi là giá
Dùng thang đo tỷ lệ để đo khái niệm tỷ suất sinh lợi. Thông qua cách tính tỷ lệ phần
trăm thay đổi giá đầu tháng so với cuối tháng dựa trên chỉ số VN–Index (giả định nhà đầu tư
chỉ mua cổ phiếu đầu tháng và giữ đến cuối tháng )
Với: : Tỷ suất sinh lợi thời điểm t
: chỉ số VN-Index thời điểm t
: chỉ số VN-Index thời điểm t-1
4.6. Xác định mức ý nghĩa α
Để xác định việc chấp nhận hay bác bỏ giả thiết kiểm định, mức ý nghĩa α đóng vai trò
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 16
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
quyết định. Trong khi Alpha (α) có vai trò như một điểm chuẩn, sự chấp nhận hay bác bỏ giả
thiết thống kê phụ thuộc vào giá trị p-value, đây là mức ý nghĩa thống kê thấp nhất mà ở đó giá
trị quan sát được của thống kê kiểm định có ý nghĩa. Nếu p-value nhỏ hơn α, ta bác bỏ giả thiết
H
0
và chấp nhận giả thiết H
β
i : độ dốc
α
:hệ số chặn
ε
it: sai số
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 17
Ngày/ Tuần/ Tháng
(định tính)
Tỷ suất sinh lợi
(định lượng)
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
4.8. Giả thuyết nghiên cứu:
H
1
: Có tồn tại hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán TP.HCM?
H
2
: Có tồn tại hiệu ứng tuần trong tháng trên thị trường chứng khoán TP.HCM?
H
3
: Có tồn tại hiệu ứng tháng trong năm trên thị trường chứng khoán TP.HCM?
4.9. Kiểm định giả thuyết:
• Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để nhận dạng sự tồn tại của hiệu ứng thời
gian trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua phân tích giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn
B1: Đầu tiên tính tỷ suất sinh lợi hàng tháng
B2: Lấy trung bình tỷ suất sinh lợi giữa các tháng theo năm
/>5. G.Athanassakos, "The secrutinized-firm effect, porfolio rebalancing, stock return
seasonality, and the prevasiveness of january effect in canada", Mucltunational Finace Journal,
vol.6, no.1, pp.1-27, Mar 2002.
6. O.F.Ayadi, U.Dufrene, and A.Chatterjee, "Stock return seasonalies in low-income
African emerging markets", Managerial Finace, vol.24, no.3, pp 22-23,1998.
7. S.Bounman and B.Jacobsen, "The Halloween indecator, "sel in may and go
away": another Puzzul," The American Economic Review, vol.92, no.5, Dec.2002.
8. M.G.Haug and M.Hirschey, "The january effect," Financial Analysts Journal,
vol.62, no.5, pp.78-88, Sep/Oct.2006.
9. M.G.Haug and J.Lakonishok, "The incredible January Effect: The stock market's
unsolved mystery", Down Jones-Irwin, 1987.
10. M.W.Riepe, "Sell in May and go away? Not so fast", Journal of Finacial Planing,
vol.16, no.7, pp.22-23, Jun.2003.
11. Whether or Not the Monday Effect Exists in Vietnam Stock Market? – Anh Khoa
- />L0lgC&oi=fnd&pg=PP4&dq=seasonality+effect+stock+market&ots=-
m9PJZGQPe&sig=97WnS3lUdF0MpUZb56pa4NLOZgY&redir_esc=y#v=onepage&q=seaso
nality%20effect%20stock%20market&f=false
Nhóm: Tài Chính 07 – Đêm 8 – K21 Trang: 19
Kiểm định hiệu ứng thời gian đối với thị trường chứng khoán TP.HCM
Mục Lục
1. Xác định vấn đề nghiên cứu 1
2. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.2. Câu hỏi nghiên cứu 3
2.3. Đối tượng nghiên cứu 3
2.4. Phạm vi nghiên cứu 3
3. Cơ sở lý thuyết (Literature Review) 3
3.1. Lý thuyết nền 3
3.1.1. Thuyết bước ngẫu nhiên (Random Walk) 3
3.1.2. Thuyết thị trường hiệu quả 5