Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Khoa khoa học quản lý
Đề án kinh tế chính trị
Đề tài: Phân tích các giải pháp phát triển kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở việt nam
Giáo viên hớng dẫn: Nguyễn Quốc Hùng
Sinh viên thực hiện : Vũ Thành Đô
Lớp : Quản lý kinh tế B
Khoá : 41
Hà Nội: 11/2002
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A. lời nói đầu
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nớc ta chủ chơng
nhất quán và lâu dài phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa gọi là kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Việc tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta là một tất yếu khách
quan nó không chỉ là do sự đa dạng hoá các các hình thức sở hữu mà có do vai trò
rất quan trọng trong phát triển kinh tế. Để cho các thành phần kinh tế cùng tồn tại
và phát triển bình đẳng và cạnh tranh nhau chúng ta hớng các thành phần kinh tế
này vận hành theo cơ chế thị trờng, chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế và
chịu sự điều tiết của Nhà nớc.
Cơ chế thị trờng có vai trò rât lớn đối với việc phát triển kinh tế nó phản
ánh sự chi phối của các quy luật kinh tế. Cơ chế thị trờng đòi hỏi mọi thành phần
kinh tế phải hoạt động có hiệu quả trong quá trình tồn tại, đòi hỏi phải cạnh tranh
nhau để đi lên. Bên cạnh những tác động rất tích cực thì cơ chế thị trờng cũng tạo
ra nhiều tiêu cực cho xã hội nh sự phân chia giàu nghèo ngày càng gia tăng, tình
trạng thất nghiệp, lạm phát, khủng hoảng theo chu kỳ Đồng thời việc chạy theo
lợi nhuận quá mức làm ô nhiễm môi trờng, khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên
Các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, nhng lại không chịu trách nhiệm gì về
mặt vật chất đối với các quyết định của mình.
Bỏ qua quan hệ hàng hoá - tiền tệ và hiệu quả kinh tế, quản lý nền kinh tế và
kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ
yếu, do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức. Chế độ bao cấp đợc thực hiện dới
các hình thức: bao cấp qua giá, bao cấp qua tiền lơng hiện vật (chế độ tem phiếu)
và bao cấp qua cấp phát vốn của ngân sách, mà không ràng buộc vật chất đối với
ngời đợc cấp phát vốn.
Từ những đặc điểm trên dẫn đến bộ máy quản lý rất cồng kềnh, có nhiều cấp
trung gian và kém năng động, từ đó sinh ra một đội ngũ các bộ kém năng lực quản
lý, không thạo nghiệp vụ kinh doanh, nhng phong cách thì quan liêu cửa quyền.
Với cơ chế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế chỉ huy đã tích góp những xu thế
tiêu cực, làm nảy sinh sự trì trệ, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế
xã hội. Vấn đề đặt ra la phải đổi mới cơ chế đó. Phơng hớng cơ bản của sự đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế ở nớc ta đã đợc Đại hội VI của Đảng xác định và tiếp
tục đợc Đại hội VII của Đảng khẳng định Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc.
2. Cơ chế thị trờng không chỉ tồn tại dới chủ nghĩa t bản mà tồn tại dới
nhiều phơng thức sản xuất khác nhau cho nên CHXH vẫn có thể áp dụng nền
kinh tế thị trờng.
Kinh tế thị trờng không chỉ là cái riêng có của chủ nghĩa t bản(CNTB), mà là
thành quả chung của văn minh nhân loại tồn tại qua nhiều phơng thức sản xuất xă
hội khác nhau. Đúng nh Đảng ta đã xác định: Sản xuất hàng hoá không đối lập
với CNXH, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đãđợc xây dựng.
Bên cạnh những phạm trù kinh tế và quy luật kinh tế chung, KTTT còn có những
chất lợng cao hơn sản phẩm lao động đa ra trên thị trờng. Sự chuyên môn hoá và
hợp tác hoá lao động đã vợt ra khỏi phạm vi quốc gia, trở thành phân công lao
động trên phạm vi quốc tế.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nền kinh tế nớc ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Đó là kinh tế nhà
nớc, kinh tế t bản Nhà nớc, kinh tế hợp tác xã, kinh tế t bản t nhân, kinh tế sản
xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế tự nhiên ở vùng núi. Hơn nữa, trình độ xã hội hoá giữa
các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh trong vùng cùng một thành phần kinh
tế cha đều nhau. Do vậy, việc hạch toán kinh doanh, phân phối và trao đổi sản
phẩm lao động tất yếu phải thông qua hình thái hàng hoá - tiền tệ để thực hiện các
mối quan hệ kinh tế, đảm bảo lợi ích kinh tế giữa các tổ chức kinh tế trong các
thành phần với ngời lao động và giữa các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần với
nhau.
Nh vậy, nếu xuất phát từ ý muốn chủ quan thu hẹp hay cản trở quá trình
tiền tệ hóa các mối quan hệ kinh tế trong giai đoạn lịch sử hiện nay bằng những
hình thức khác nhau ( sớm xoá bỏ hay cản trở sự phát triển các thành phần kinh tế,
quản lý bằng kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp ) sẽ kìm hãm sự phát triển
của nền kinh tế nớc ta. Do đó, chúng ta cần chủ động có những chính sách thích
hợp để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế đúng mức, đúng hớng theo
nguyên tắc tự nhiên của kinh tế: có nhu cầu xã hội thì tất yếu có ngời đáp ứng nhu
cầu đó và ai trong cuộc cạnh tranh vơn tới thoả mãn tốt hơn và tốt nhất nhu cầu
của xã hội thì ngời đó sẽ tồn tại và phát triển.
4. Ưu điểm của kinh tế hàng hoá.
Thúc đẩy quá trình xã hội hóa xản xuất nhanh chóng, làm cho sự phân công
lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất càng sâu sắc, hình thành các mối liên
hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp và ngời sản xuất, tạo
tiền đề cho sự hợp tác lao động ngày càng chặt chẽ.
Thúc đẩy sự phát triển của lực lợng sản xuất. Trong kinh tế hàng hoá sự tác
động của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu buộc ngời sản
trong và ngoài nớc.
Ngoài ra, kiểu quản lý nền kinh tế chỉ huy đã làm xơ cứng các mối liên hệ
kinh tế, điều đó biểu hiện:
Từ năm 1986 trở về trớc dù trên thực tế vẫn thừa nhận sản xuất hàng hoá,
thừa nhận quan hệ hàng hoá tiền tệ, nhng thực chất đó chỉ là kinh tế hàng hoá
một thành phần thành phần xã hội chủ nghĩa, dựa trên chế độ công hữu về t liệu
sản xuất dới hai hình thức: toàn dân và tập thể.
Với tên gọi kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa, về thực chất là kinh tế chỉ
huy, đã làm cho các phạm trù của kinh tế hàng hoá vốn sống động mềm dẻo nh
giá trị, giá cả, lợi nhuận bị hình thức hoá đến cao độ: không phản ánh các quy
luật của thị trờng, không còn nội dung kinh tế hàng hoá nữa.
Quy luật trung tâm chi phối sự vận động của kinh tế hàng hoá xã hội chủ
nghĩa là quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân, đã biến
nền kinh tế thực tế là Kinh tế chỉ huy.Mục đích hoạt động kinh tế của các cá
nhân, các doanh nghiệp không phải vì lợi nhuận nh vốn có của nền kinh tế hàng
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hoá mà là tuân thủ một cách nghiêm ngặt hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh đợc phát ra
từ một trung tâm.
Các quy luật kinh tế hàng hoá hoặc do ý chí chủ quan bị thu hẹp phạm vi
hoạt động, xem nh không hợp pháp hoặc có thừa nhận cũng chỉ đóng vai trò
hết sức thứ yếu trong sự vận động của nền kinh tế. Các loại hàng hoá đặc biệt hoặc
phi hàng hoá, các thị trờng có tổ chức, có kế hoạch chi phối các lĩnh vực quan
trọng nhất của quá trình tái sản xuất xã hội. Đối lập với kinh tế có kế hoạch đó đợc
coi kinh tế thị trờng tự do bất hợp pháp.
Những quan niệm ấu trĩ trên đây về xây dựng và phát triển kinh tế là biểu
hiện sai lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, mà đặc biệt là quy
luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất, không tuân theo quá trình lịch sử tự nhiên trong sự phát triển xã hội
nói chung và trong kinh tế nói riêng. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho
phần vận động theo cơ chế thị trờng mang lại, giữ cho công cuộc đổi mới đi đúng
hớng và phát huy bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, Nhà nớc phải thực hiện tốt
vai trò quản lý kinh tế xã hội bằng luật phap, kế hoạch, chính sách, thông tin,
tuyên truyền, giáo dục và các công cụ khác.
Trong nền KTTT định hớng xã hội chủ nghĩa nớc ta, kinh tế Nhà nớc là nhân
tố quy định và bảo đảm tính định hớng XHCN của nền kinh tế thị trờng. Kinh tế
Nhà nớc tạo cơ sở kinh tế cho xã hội mới, nó là lực lợng vật chất quan trọng và là
công cụ để Nhà nớc định hớng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Xây dựng hệ thống
kinh tế Nhà nớc mạnh chính là tăng cờng thực lực kinh tế của Nhà nớc, để làm chỗ
dựa, bảo đảm ổn định kinh tế và định hớng cho thị trờng XHCN. Buông lỏng khu
vực kinh tế nhà nớc là buông lỏng định hớng XHCN đối với nền kinh tế thị trờng.
Kinh tế Nhà nớc là nơi thể hiện đầy đủ nhất tính u việt của CNXH: đảm bảo
sự thống nhất giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội, tiến bộ xã hội và bảo vệ
môi trờng sinh thái, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tất cả
phục vụ con ngời trên tầm vĩ mô. Nhà nớc vừa là đại biểu cho toàn bộ nền kinh tế,
vừa là chủ thể của kinh tế Nhà nớc. Do đó nhà nớc phải vừa tôn trọng tính bình
đẳng của các chủ thể kinh tế, vừa phải có ý thức đầy đủ đến việc phát triển kinh tế
nhà nớc để nó thực sự có vai trò chủ đạo. Để giữ đợc vai trò chủ đạo, kinh tế nhà
nớc phải nắm giữ những khâu, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế nhà nớc phải là kiểu mẫu về năng suất, chất lợng, hiệu quả và chấp hành
pháp luật để lôi cuốn các thành phần kinh tế khác theo quỹ đạo của CNXH. Kinh
tế Nhà nớc phải có giá trị tổng sản lợng hàng hoá ngày càng tăng, đóng góp tỷ lệ
cao trong ngân sách nhà nớc, không ngừng nâng cao trình độ và đời sống của mọi
ngời lao động
3) Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà
nớc.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cơ chế thị trờng là gì? Mọi nền kinh tế đều đợc tổ chức bằng cách này hay
cách khác để huy động tối đa các nguồn lực của xã hội và sử dụng có hiệu quả các
GDP hoặc GNP, kèm theo các giao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và lạm
phát.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhà nớc cần cố gắng làm dịu những giao động lên xuống chu kỳ kinh
doanh thông qua chơng trình hoá kinh tế, chính sách tài chính và chính sách tiền
tệ. Chẳng hạn, chính phủ có thể giảm thuế trong cơn suy thoái với hy vọng tăng
chi tiêu của dân chúng, nhờ đó sẽ nâng cao GDP. Ngân hàng Trung ơng là ngời
kiểm soát khối lợng tiền tệ có thể áp dụng các biện pháp nới lỏng tiền tệ trong
cơn suy thoái; Khi lạm phát cao, ngân hàng Trung ơng áp dụng các biện pháp
thắt chặt tiền tệ nhằm giảm lạm phát. Nh vậy, thông qua chính sách tài chính và
chính sách tiền tệ Nhà nớc cố gắng ổn định nền kinh tế duy trì nền kinh tế càng sát
càng tốt đối với tình trạng có đầy đủ việc làm và lạm phát thấp.
Ba là, đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến tính kém hiệu quả của cả hoạt động thị trờng là những tác
động, mà các nhà kinh tế gọi là tác động bên ngoài, mà các nhà kinh tế gọi là tác
động bên ngoài. Các doanh nghiệp vì lợi ích tối đa của mình có thể lạm dụng tài
nguyên xã hội, gây ô nhiễm môi trờng sống của con ngời mà xã hội phải gánh
chịu. Chẳng hạn, một doanh nghiệp sản xuất hoá chất, tống chất thải ra hồ gây ô
nhiễm nguồn nớc địa phơng, làm chết cá, Chính phủ có thể buộc các doanh nghiệp
phải trả tiền cho những thiệt hại do ô nhiễm, mà doanh nghiệp đã gây ra. Sự can
thiệp của Chính phủ nhằm ngăn chặn những tác động bên ngoài để nâng cao hiệu
quả.
Một nguyên nhân khác dẫn đến tính kém hiệu quả của hoạt động thị trờng
là sự xuất hiện của độc quyền. Các tổ chực độc quyền có thể không tăng thậm chí
giảm số lợng hàng hoá mà chỉ tăng giá để tăng lợi nhuận. Một nền kinh tế đợc
thúc đẩy bởi cạnh tranh hoàn hảo sẽ đạt hiệu quả cao, nhng cạnh tranh làm hạn
chế khả năng đạt lợi nhuận độc quyền nên các doanh nghiệp thờng giảm bới cạnh
tranh. Vì vậy, Nhà nớc có một nhiệm vụ rất cơ bản bảo vệ cạnh tranh và chống
độc quyền để nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thị trờng.