Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH BÙI THỊ NGÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG CHI NHÁNH PHÚ THỌ Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
nhánh Phú Thọ buộc phải hoạt động kinh doanh hiệu quả. Đặc biệt, trong bối cảnh
hiện nay, thị trường tài chính phát triển mạnh mẽ, các ngân hàng thành lập ngày
càng nhiều, mức độ cạnh tranh ngày càng cao làm cho hoạt động kinh doanh càng
trở nên khó khăn hơn, thì hiệu quả kinh doanh cao là mục tiêu phấn đấu có ý nghĩa
quyết định sự thành công của mỗi ngân hàng nói chung và ngân hàng phát triển nhà
đồng bằng sông cửư long chi nhánh Phú Thọ nói riêng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân cả chủ quan và khách quan, hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển
nhà đồng bằng sông cửư long chi nhánh Phú Thọ thời gian qua còn nhiều khiếm
khuyết và hiệu quả chưa cao, cần phải được nghiên cứu thấu đáo và tìm ra các giải
pháp khắc phục.
Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh,
từ thực trạng của doanh nghiệp, tôi đã lựa chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
quả kinh doanh tại ngân hàng phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long chi nhánh
Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận cơ bản về hiệu quả kinh
doanh, các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng hoạt động và hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long chi nhánh Phú Thọ, tìm ra nguyên
nhân của tình hình và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tuợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những kiến thức lý luận cơ bản về hiệu
quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại và thực trạng hoạt động cũng như
hiệu quả kinh doanh của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long chi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
1.1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thƣơng mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh tiền tệ,
tín dụng, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Ở mỗi nước có một cách
định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại.
Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp
các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính.
Ở Pháp: Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân
hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là
nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác
và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng
và tài chính”
Ở Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay
hay tài trợ và đầu tư.
Ở Thổ Nhĩ Kì: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập
vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò
là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và
lãi suất cho vay góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và
người đi vay. Nếu không có khâu trung gian này thì những người có tiền nhàn rỗi
rất khó khăn để gặp gỡ người có nhu cầu vay và cũng khó biết phải đầu tư như thế
nào cho có lợi.
Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ
cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách
hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ
hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu từ bán hàng và các khoản
thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện
thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán,
thẻ tín dụng Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể lựa chọn cho mình phương thức
thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có
thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy,
các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí tiền, thời gian, lại đảm bảo
thanh toán an toàn. Chức năng này đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc
độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản
chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho
sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính
đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức
năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng,
ngân hàng sử dụng vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được
hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy
tín và khả năng tài chính của mình đối với bên nhận bảo lãnh.
Chiết khấu: Các NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác khi các cá nhân, tổ chức có yêu cầu.
Cho thuê tài chính: Các NHTM có thể hoạt động cho thuê tài chính nhưng
phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng nhưng phải thực hiện theo Nghị định
của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
1.1.3.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
- Cung cấp các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và ngoài nước cho khách hàng.
- Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ.
- Thực hiện các dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên
ngân hàng.
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho
phép.
1.1.3.4 Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động kể trên các NHTM còn thực hiện một số hoạt động khác
bao gồm:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Góp vốn và mua cổ phần: Các NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ
để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong
nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn được góp
vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng
liên doanh.
Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thương mại được tham gia thị
trường tiền tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các hình thức
- Vốn và tiền vừa làm phương tiện, vừa làm mục đích kinh doanh nhưng
đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh của NHTM. Và chính đặc điểm này sẽ bao
trùm hơn và rộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác.
- Ngân hàng Thương mại kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác. Vốn
tự có của NHTM chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc
kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp
nhận với một mức độ bảo hiểm nhất định. Bởi vì trong hoạt động kinh doanh hằng
ngày của mình, NHTM không những phải đảm bảo nhu cầu thanh toán, chi trả như
mọi loại hình doanh nghiệp khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi
cho khách hàng. Từ đó cho thấy tính thanh khoản của NHTM có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng.
- Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh
vực hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Do đó, tình hình tài chính
của NHTM có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp, tâm lý người dân, cũng như của cả nền kinh tế. Chính vì vậy, việc phân tích
đánh giá thực trạng tài chính của NHTM không chỉ là nhu cầu cấp thiết phục vụ cho
hoạt động quản lý của chính nhà quản trị ngân hàng mà còn là đòi hỏi mang tính bắt
buộc của ngân hàng trung ương
- Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó
tổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của
loại loại hình doanh nghiệp nào vì tính chất lây lan có thể rung chuyển toàn bộ hệ
thống kinh tế. Do đó, trong quá trình hoạt động của NHTM phải thường xuyên cảnh
giác, nghiên cứu phân tích, đánh giá, dự báo và có những biện pháp phòng ngừa từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
xa có hiệu quả. Ngoài ra, điều này cũng đòi hỏi ngân hàng tự đánh giá được khả
năng chịu đựng rủi ro của mình.
Về mặt lượng: Hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa kết quả
thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đó. Ở góc độ
tài chính, hiệu quả kinh doanh chính là lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, là
chênh lệch giữa doanh thu đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được doanh thu đó
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là việc áp dụng các giải pháp, biện pháp có
thể để nâng cao doanh thu, tiết kiệm chi phí để nâng cao lợi nhuận của doanh
nghiệp.
Về mặt chất: Việc đạt được hiệu quả kinh doanh cao phản ánh năng lực và
trình độ quản lý, đồng thời đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được những mục tiêu
kinh tế với việc đạt được những mục tiêu xã hội.
1.2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu so sánh giữa kết quả kinh doanh và nguồn
lực đầu vào. Kết quả của hoạt động kinh doanh bao gồm: Số lượng sản phẩm tiêu
thụ, doanh thu và lợi nhuận, nguồn lực đầu vào của hoạt động kinh doanh bao gồm:
Lao động, tài sản, nguồn vốn.
Như vậy, hiệu quả kinh doanh được đánh giá bằng 2 nhóm chỉ tiêu sau:
+ Nhóm chỉ tiêu sinh lợi
Lợi nhuận sau thuế
Sức sinh lợi vốn =
chủ sở hữu(ROE) Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này thể hiện trong thời gian nhất định cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu sẽ
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn tự
có, đo lường tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có của các Ngân hàng.
Đánh giá ROE thế nào là tốt còn phụ thuộc vào cách mà doanh nghiệp sử
dụng để đạt được nó, vì nếu sử dụng đòn bẩy tài chính cao để nâng cao ROE thì
mức độ rủi ro sẽ cao, dưới giác độ ngân hàng, có thể chỉ chấp nhận ROE thấp hơn
Doanh thu
Năng suất tài sản =
(sức sản xuất, vòng quay) Tổng tài sản bình quân
1.2.2 Hiệu quả kinh doanh trong các ngân hàng thƣơng mại
1.2.2.1 Thực chất hiệu quả kinh doanh trong các ngân hàng thƣơng mại
Hoạt động của NHTM về cơ bản cũng giống như các đơn vị kinh doanh
khác, do vậy hiệu quả kinh doanh được đo bằng kết quả đầu ra so với nguồn lực đầu
vào.
+ Kết quả đầu ra của NHTM là số lượng doanh thu và lợi nhuận; lợi
nhuận giống như các đơn vị kinh doanh khác, song do đặc thù của NHTM có nhiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
loại hình dịch vụ khác nhau, mỗi loại hình dịch vụ có kết quả đầu ra khác nhau do
đó phải xem xét cụ thể trường hợp này:
- Dịch vụ cho vay: Đây là dịch vụ mà trong đó NHTM thỏa thuận với khách
hàng (qua hợp đồng tín dụng) để khách hàng sử dụng một khoản tiền nhất định,
trong một thời gian nhất định, có lãi suất và phải hoàn trả. Đây là dịch vụ truyền
thống mà tất cả các NHTM đều thực hiện, dịch vụ này tạo ra nguồn thu nhập chính
cho các ngân hàng. Kết quả đầu ra của hoạt động cho vay bao gồm:
* Số tiền cho vay
* Doanh thu cho vay = ∑số tiền cho vay x lãi suất cho vay
* Số tiền thu hồi và nợ xấu: trong đó “Nợ xấu” (NPL) của ngân hàng được
quy định là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5. Tức là nó bao gồm các nhóm nợ: nợ
dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn.
- Dịch vụ thanh toán - Ngân quỹ:
- Dịch vụ kinh doanh ngoại hối
Tỷ lệ thu nhập lãi =
Tổng tài sản có sinh lời Tỷ số này cho biết một đồng tài sản có sinh lời sẽ thu về được bao nhiêu
đồng thu nhập sau khi đã trừ chi phí lãi sử dụng vốn.
Thu nhập ròng = Tổng doanh thu lãi – Tổng chi phí lãi
+ Nhóm chỉ tiêu năng suất:
- Năng suất lao động, năng suất (vòng quay) tổng tài sản.
- Chỉ tiêu Nợ xấu / tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu =
Nợ xấu x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ
chức tín dụng. Theo quy định hiện hành thì tỷ này không vượt quá 3%.
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh có vai
trò quan trọng trong việc đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động. Nhìn chung
chúng ta đề cập một số nhân tố chủ yếu sau:
Nhân tố bên ngoài ngân hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
+Khách hàng: Khách hàng là một trong những nhân tố bên ngoài có sự
ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, số lượng khách hàng
tăng lên sẽ làm tăng quy mô kinh doanh, làm tăng doanh số và gia tăng lợi nhuận
cho đơn vị. Một ngân hàng mạnh không chỉ mạnh về tài chính, uy tín thương hiệu
mà còn có một lực lượng khách hàng hùng mạnh. Nếu như, ngân hàng đó mạnh và
để tạo khả năng cạnh tranh về lãi suất, chất lượng sản phẩm, chủng loại cũng như
tiện ích của sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy đối thủ cạnh
tranh làm cho các ngân hàng phải giảm lãi suất, chia nhỏ thị phần, tăng chi phí cho
việc quảng cáo tiếp thị làm ảnh hưởng đến lợi nhuận từ đó ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả kinh doanh, nhưng đối thủ cạnh tranh càng nhiều thì càng tạo ra động lực
phát triển cho các ngân hàng, buộc các ngân hàng luôn phải cải tiến nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch vụ, tiết kiệm chi phí nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo
ra năng lực cạnh tranh với các đối thủ. Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng đối
thủ lại phụ thuộc vào các yếu tố như: năng lực quản trị; năng lực tài chính; chính
sách marketing. Vì vậy, ngân hàng nào có được các yếu tố này tốt hơn sẽ tạo ra sức
mạnh cạnh tranh tốt hơn và trở thành đối thủ mạnh hơn trên thị trường.
+ Nhân tố môi trường vĩ mô: Có thể nói các yếu tố ngoại lai có những
tác động hết sức lớn đối với hoạt động ngân hàng. Ngân hàng có mối quan hệ hết
sức phức tạp với các thành phần kinh tế khác, do đó mọi hành vi diễn ra trong nền
kinh tế đều có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp ở các cấp độ khác nhau tới ngân hàng.
Trong đó, có môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường chính trị xã hội…
- Tăng trƣởng kinh tế: Môi trường kinh tế bao gồm trình độ phát triển của
nền kinh tế, sự tham gia của mọi thành viên vào hoạt động của thị trường với trình
độ phát triển nhất định của sức sản xuất. Sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc vào
đường lối phát triển kinh tế của một đất nước. Đường lối phát triển kinh tế đúng đắn
sẽ tạo cho nền kinh tế phát triển đúng hướng, tăng trưởng cao, hoạt động sản xuất
kinh doanh ngày càng hiệu quả. Nền kinh tế ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả hơn, ngân hàng yên tâm đầu
tư tín dụng cho nền kinh tế, phát triển dịch vụ mới, cụ thể:
* Khủng hoảng kinh tế: Khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng hoặc suy
thoái thì đời sống của người dân giảm xuống, các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh
trở nên khó khăn, họ phải thu hẹp quy mô để cầm cự hoặc ngưng hoạt động kinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
* Lãi suất: Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản
và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi;
Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước
quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng
với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng.
* Nghiệp vụ thị trường mở: Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị
trường mở thông qua việc mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng; Ngân
hàng Nhà nước quy định loại giấy tờ có giá được phép giao dịch thông qua nghiệp
vụ thị trường mở.
* Thắt chặt tín dụng: Để giảm lạm phát buộc nhà nước phải thắt chặt đầu tư
và giảm lượng cung tiền ra thị trường bằng chính sách thắt chặt tín dụng, như tăng
lãi suất cho vay, hạn chế cho vay một số lĩnh vực ngành nghề đang nóng, tăng tỷ lệ
dự trữ bắt buộc Như vậy khi hoạt động tín dụng bị thắt chặt sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng.
Các nhân tố bên trong ngân hàng
+ Năng lực quản trị
Đối với mọi doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng thì
nhân tố quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh. Nó tác động tới hoạt động kinh doanh qua nhiều yếu tố như cơ cấu lao
động, cơ sở vật chất, công nghệ, quản lý Công tác quản trị doanh nghiệp được tiến
hành tốt sẽ giúp ngân hàng tiết kiệm được chi phí, khai thác nguồn lực sẵn có một
cách hợp lý, có hiệu quả, đồng thời định hướng, xác định đúng chiến lược kinh
doanh nhằm đạt được các mục tiêu của mình, cụ thể:
- Năng lực quản trị trong việc hoạch định chiến lược: Nhà quản trị có năng
lực quản trị tốt sẽ giúp cho việc hoạch định chiến lược, xây dựng mục tiêu và lập kế
hoạch kinh doanh được đúng đắn, phù hợp với tiềm lực của ngân hàng và xu thế
hàng, trên cơ sở đó phân tích, đáp ứng nhu cầu cho từng nhóm đối tượng khách
hàng đó. Chính sách marketing hợp lý còn tạo ra các kênh phân phối dịch vụ và bán
hàng tốt nhất, có hiệu quả, tạo ra nền tảng cho sự cạnh tranh và chiếm lĩnh thị
trường, cụ thể:
* Loại hình dịch vụ: Do nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng và có
nhiều nhóm đối tượng khách hàng khác nhau cũng có nhu cầu đa dạng khác nhau,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
nên các ngân hàng luôn phải đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu
cầu của khách hàng, nhưng cung và cầu luôn phải gặp nhau thì mới thực hiện được
giao dịch. Vì vậy, chính sách marketing sẽ giúp cho ngân hàng quảng bá, giới thiệu
về tất cả các loại sản phẩm dịch vụ của mình, với những lợi ích vượt trội luôn đáp
ứng được nhu cầu của khách hàng. Từ đó, khách hàng có được thông tin về các loại
hình sản phẩm dịch vụ nhiều hơn, hiểu biết được lợi ích của sản phẩm nhiều hơn.
Điều này sẽ giúp cho ngân hàng kinh doanh được nhiều loại hình dịch vụ của mình
một cách tốt nhất và hiệu quả nhất. Nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại
chính là bản thân sản phẩm dịch vụ của ngân hàng.
* Giá dịch vụ: là một trong 4 yếu tố cơ bản trong chính sách marketing và là
yếu tố duy nhất tạo ra doanh thu, giá dịch vụ góp phần làm cho khách hàng quyết
định giao dịch hay không giao dịch với ngân hàng. Vì vậy các ngân hàng phải thực
hiện tốt chiến lược về giá để thu hút khách hàng về mình.
* Hệ thống phân phối: Hiện nay, hầu hết các NHTM đều sử dụng các trung
gian phân phối để cung cấp các sản phẩm dịch vụ của mình ra thị trường. Những
trung gian phân phối này là các chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch hợp
thành một hệ thống của ngân hàng. Hệ thống phân phối sẽ giúp cho ngân hàng tiếp
cận với khách hàng dễ dàng hơn, cung cấp dịch vụ tới khách hàng đảm bảo về chất
lượng, thời gian, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về sự thuận lợi và kịp thời.
* Xúc tiến bán hàng: là hoạt động truyền thông từ phía ngân hàng, tác động
thông tin ngày càng phát triển. Một số các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cần phải
có sự hỗ trợ của các thiết bị kỹ thuật, như dịch vụ chuyển tiền, thẻ ATM, kinh
doanh sàn vàng, sàn chứng khoán, thiết bị kỹ thuật quản lý toàn hệ thống…Vì vậy,
thiết bị kỹ thuật tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm dịch vụ, năng suất lao
động, khả năng cạnh tranh, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của đơn vị.
+ Năng lực tài chính: Trong tất cả các doanh nghiệp nói chung, các NHTM
nói riêng, năng lực tài chính là yếu tố quyết định rất lớn đến hiệu quả kinh doanh.
Năng lực tài chính tạo ra sức mạnh để phát triển về quy mô, mở rộng thị trường, đầu
tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa các sản phẩm, tạo ra
sự cạnh tranh mạnh mẽ với các đối thủ trên thị trường để chiếm lĩnh thị phần, thu
hút và lôi kéo khách.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
1.3 Cơ sở thực tiễn về hoạt động ngân hàng
1.3.1 Thực tiễn hoạt động ngân hàng ở một số quốc gia trên thế giới
1.3.1.1 Trung Quốc
Trước khi gia nhập WTO, chính phủ Trung Quốc đã ban hành, sửa đổi, bổ
sung hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về tài chính, ngân hàng theo quy
định của hiệp định về thương mại - dịch vụ (GATS); Tiến hành đổi mới hệ thống
ngân hàng theo lộ trình riêng, tạo ra sự cạnh tranh “hạn chế” trong khu vực này và
kết quả là hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã khá tự tin để chuẩn bị cho việc thực
hiện cam kết tại GATS. Cụ thể:
Năm 1987 – 1988: Cho phép TCTD nước ngoài thành lập tại một số thành
phố và đặc khu kinh tế.
Năm 1987 – 1991: Phát triển nhanh các trung gian tài chính phi ngân hàng và
hợp tác xã tín dụng, cho phép các ngân hàng cạnh tranh theo cơ chế thị trường có
kiểm soát.
tăng cường đào tạo …Tất cả những thay đổi, cải tiến đó đều nhằm phù hợp với quy
định của WTO, hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh
doanh của các NHTM của nước này.
1.3.1.2 Một số nƣớc trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN)
Phần lớn các nước ASEAN là thành viên WTO từ 1995, nhưng hầu như
không phải thực hiện các nghĩa vụ của Hiệp định về thương mại - dịch vụ (GATS).
Trong cuộc khủng hoảng tài chính (năm 1997) đã buộc phải tiến hành cải cách hệ
thống ngân hàng theo các quy định của GATS và đã được những kết quả đáng kể.
Nhờ đó, hệ thống ngân hàng trong các nước này đã giữ được vai trò chủ đạo trong
việc huy động tiết kiệm ở mức rất cao. Mặt khác các nước ASEAN đã tiến hành đổi
mới mạnh mẽ cơ chế hoạt động ngân hàng theo hướng mở rộng cửa, xoá bỏ rào cản
cho các ngân hàng nước ngoài và các nhà đầu tư nước ngoài; nhờ vậy, đã thu hút
một lượng đáng kể vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nợ vay chính thức của Chính
Phủ; giúp nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và phát triển nhanh chóng.
Chính Phủ các nước này đã thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng một cách
triệt để, tạo ra môi trường thuận lợi cho các sở hữu khác nhau về ngân hàng phát
triển, đồng thời thâm nhập nhanh chóng vào thị trường thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Mặc dù mỗi nước có đặc thù riêng, nhưng các nước ASEAN đã thực hiện
một số giải pháp tương tự nhau để nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân
hàng. Cụ thể là “giảm thiểu sự can thiệp về chính trị trong việc phân bổ tín dụng của
hệ thống ngân hàng tạo ra hiệu quả tín dụng tối đa, xoá bỏ tín dụng đối với các
doanh nghiệp nhà nước hoặc các doanh nghiệp có quan hệ riêng với điều kiện tín
dụng dễ dãi, xoá bỏ sự ràng buộc chặt chẽ giữa Chính Phủ và các ngân hàng về
quản trị, điều hành, kinh doanh tại các NHTM lớn, tăng cường vai trò độc lập trong
việc thanh tra, giám sát các định chế tài chính, loại bỏ triệt để tư duy cho rằng
Chính Phủ là người cho các ngân hàng vay cuối cùng và rằng Chính Phủ không thể