Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong giai đoạn hiện nay, hòa chung với sự đổi mới sâu sắc toàn diện
của đất nớc, của cơ chế quản lý kinh tế, hệ thống cơ sở hạ tầng của nớc ta đã có
những bớc phát triển mạnh mẽ tạo tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nớc. Những thành tựu đó chính là nhờ những đóng góp vô cùng to lớn của
ngành xây dựng cơ bản nớc nhà.
Sản xuất xã hội càng phát triển thì vai trò và vị trí của công tác xây dựng
co bản ngày càng đợc nâng cao nhất là hiện nay, khi mà các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế đều chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế thị
trờng: quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu... thì buộc các
doanh nghiệp phải lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu để không những có thể
tồn tại mà còn ngày càng phát triển. Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lợng tổng hợp
nói lên kết quả toàn bộ của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó chịu ảnh hởng trực
tiếp của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, mà thực chất chi phí sản xuất là
đầu vào của quá trình sản xuất, vì vậy tiết kiệm chi phí là tiền đề để hạ giá thành
sản phẩm đảm bảo cho đầu ra của quá trình sản xuất đợc xã hội chấp nhận và
tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Quá trình không ngừng tìm kiếm và tối đa hóa
lợi nhuận đặc biệt có ý nghĩa đối với các đơn vị xây lắp bởi đặc điểm nổi bật của
ngành là vốn đầu t lớn, thời gian thi công kéo dài, địa điểm thi công phức tạp.. ..
nên vấn đề đặt ra là phải quản lý vốn có hiệu quả đồng thời khắc phục đợc tình
trạng thất thoát, lãng phí trong quá trình sản xuất để giảm chi phí, hạ giá thành
nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Ra đời và phát triển cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nền sản xuất hàng hóa,
hạch toán là một phạm trù kinh tế khách quan, một công cụ quản lý có hiệu quả
không thể thiếu đợc trong hệ thống quản lý kinh tế trên toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Điểu đó tất yếu phải đòi hỏi công tác kế toán có sự đổi mới tơng ứng phù
hợp với nhu cầu quản lý mới với yêu cầu của nền kinh tế thị trờng là lấy thu bù
chi để hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi. Để đạt đợc yêu cầu đó, các doanh
nghiệp luôn xác định hạch toán chi phí và tính giá thành là khâu trung tâm của
công tác kế toán, do đó đòi hỏi công tác kế toán phải tổ chức sao cho khoa học,

chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp
A.Đặc điểm chung của ngành xây dựng cơ bản, của sản
phẩm xây lắp ảnh hởng đến công tác kế toán tập hợp chi phí
và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
I.Đặc điểm chung của ngành xây dựng cơ bản và của sản
phẩm xây lắp có ảnh hởng đến công tác hạch toán kế toán
1.Đặc điểm của hoạt động kinh doanh xây lắp
Xây dựng cơ bản là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng
mang tính chất công nghiệp, có chức năng xây dựng và lắp đặt, tái sản xuất tài
sản cố định tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân, tăng tiềm lực kinh tế,
quốc phòng cho đất nớc. Chính vì vậy, một bộ phận không nhỏ của thu nhập quốc
dân nói chung, của tích lũy nói riêng cùng với vốn đầu t, tài chính hỗ trợ của nớc
ngoài đợc sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
Trong quá trình đầu t xây dựng cơ bản các doanh nghiệp xây lắp giữ một
vai trò quan trọng. Cũng nh các ngành sản xuất khác, quá trình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp xây lắp thực chất là quá trình biến đổi đối tợng lao
động thành sản phẩm. Tuy nhiên, xây dựng cơ bản lại có những đặc điểm kinh tế
kĩ thuật đặc trng khác hẳn các ngành khác thể hiện rõ nét ở hoạt động kinh doanh
và sản phẩm của ngành đó là:
+Thông thờng, hoạt động xây lắp đợc thực hiện thông qua hình thức
nhận thầu. Vì vậy các doanh nghiệp muốn thắng thầu và kinh doanh có lãi thì
phải xây dựng đợc một giá đấu thầu hợp lý dựa trên các định mức, đơn giá xây
lắp cơ bản, giá thị trờng và khả năng của doanh nghiệp.
+Sản phẩm xây lắp đợc tạo ra bởi công nghệ xây lắp, đó là các công
trình, hạng mục công trình, vật kiến trúc... mang tính tổng hợp về mặt kinh tế
chính trị, kĩ thuật có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian
thi công xây lắp rất dài, địa điểm thi công phân tán... vừa mang tính đa dạng lại
vừa mang tính độc lập. Mỗi sản phẩm lại có một phơng thức kĩ thuật thi công
riêng biệt, gồm những giai đoạn nhất định dẫn đến giá trị từng công trình khác

trách nhiệm của các đơn vị thi công.
2.Đặc điểm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp
Về cơ bản, việc hạch toán các phần hành kế toán trong doanh nghiệp xây
lắp cũng tơng tự nh trong doanh nghiệp công nghiệp. Tuy nhiên, những đặc điểm
về hoạt động kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất và quản
lý ngành nói trên phần nào chi phối công tác kế toán trong các doanh nghiệp xây
lắp, dẫn đến những sự khác biệt nhất định, tạo nên đặc điểm đặc thù của kế toán
tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Đó là:
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+Chi phí nhân công trực tiếp của doanh nghiệp công nghiệp bao gồm cả
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên lơng nhng trong doanh nghiệp xây lắp,
các khoản trích này không nằm trong chi phí nhân công trực tiếp mà thuộc chi
phí sản xuất chung.
+Ngoài các khoản mục chi phí giống nh trong doanh nghiệp công
nghiệp, trong chi phí xây lắp còn có cả chi phí sử dụng máy thi công đợc tập hợp
vào tài khoản 623 hoặc trên các tài khoản 621, 622, 627 (chi tiết chi phí sử dụng
máy thi công) tùy theo hình thức sử dụng máy thi công.
+Đối với các công trình lắp đặt các thiết bị do bên chủ đầu t cung cấp
thì toàn bộ giá trị vật t thiết bị đó không đợc tính vào giá thành sản phẩm vì giá
thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp bỏ ra có liên quan
đến xây lắp công trình. Khi nhận thiết bị do bên chủ đầu t bàn giao để lắp đặt, giá
các thiết bị này đợc ghi vào bên Nợ tài khoản 002- Vật t hàng hóa nhận giữ hộ,
nhận gia công.
+Xuất phát từ quy định lập dự toán công trình xây dựng cơ bản là phải
lập theo từng hạng mục công trình và phải phân tích theo từng khoản mục chi phí
cũng nh đặc điểm tại các đơn vị nhận thầu, kế toán chi phí nhất thiết phải đợc
phân tích theo từng khoản mục chi phí, từng hạng mục công trình, từng công trình
cụ thể để qua đó thờng xuyên so sánh, kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí,

quản lý tài sản, vật t, tiền vốn, lao động có hiệu quả từ đó có biện pháp phấn đầu
hạ giá thành, nâng cao chất lợng sản phẩm, điều chỉnh hoạt động cho hợp lý hơn,
cụ thể gồm những công việc sau:
+Tổ chức các hóa đơn, chứng từ liên quan đến các loại chi phí của từng
công trình.
+Tổ chức cán bộ phụ trách từng mảng công việc một cách khoa học
nhất.
+Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm.
+Tổ chức kiểm tra đối chiếu số liệu giữa sổ cái và bảng tổng hợp chi
tiết chi phí, sổ theo dõi chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
+Tổ chức tổng hợp số liệu, lập các báo cáo tài chính kế toán nh: bảng
cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh cuối kỳ.
+Tổ chức lập các báo cáo chi phí sản xuất, định kỳ tổ chức phân tích
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp.
II.Chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
1.Nội dung kinh tế
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải
hội tụ đầy đủ 3 yếu tố cơ bản là:
+Lao động của con ngời
+T liệu lao động nh nhà xởng, máy móc thiết bị và các tài sản cố định khác.
+Đối tợng lao động nh nguyên vật liệu, nhiên liệu...
Sự tham gia của 3 yếu tố này vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp sẽ tạo ra
một lợng sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của con ngời.
Giá trị những sản phẩm dịch vụ đó gồm 3 bộ phận: C, V, M trong đó:
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
C: Là toàn bộ giá trị t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm, dịch vụ nh: khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, năng
lợng, công cụ, dụng cụ, nhiên liệu,... bộ phận này còn đợc gọi là hao phí lao động

- Chi phí là những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến khối l-
ợng sản phẩm xây lắp đợc tạo ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản
chi ra trong kỳ hạch toán.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật t, tài sản của doanh nghiệp
bất kể nó đợc dùng vào mục đích gì.
Về thời gian:
- Có những khoản chi tiêu của kỳ này nhng cha đợc tính vào chi phí và
cũng có những khoản tính vào chi phí nhng cha chi tiêu. Sỏ dĩ có sự
khác biệt trên là do đặc điểm, tính chất vận động và phơng thức di
chuyển giá trị của từng loại tài sản vào quá trình xây lắp và yêu cầu
chung của quản lý.
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có mối liên quan chặt
chẽ với nhau: chi phí sản xuất là một trong các yếu tố cơ bản cấu thành nên giá
thành sản phẩm, tuy nhiên giữa chúng lại có các điểm khác nhau:
Về mặt lợng:
- Chi phí sản xuất- kinh doanh bao gồm tất cả các chi phí bỏ ra trong kỳ
của hoạt động kinh doanh chính, hoạt động kinh doanh khác trong doanh
nghiệp.
- Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí liên quan đến khối lợng
sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ.
Trong quan hệ với kỳ hạch toán:
- Chi phí sản xuất kinh doanh gắn với một kỳ hạch toán nhất định
- Giá thành sản phẩm bao gồm cả chi phí dở dang đầu kỳ (là chi phí phát
sinh trong kỳ trớc) nhng không bao gồm phần chi phí phát sinh trong kỳ
này đợc phân bổ vào giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp kinh doanh
xây láp nói riêng có rất nhiều các khoản chi phí khác nhau, do đó việc quản lý chi
phí sản xuất không thể chỉ căn cứ vào số liệu tổng hợp mà phải theo dõi, tập hợp

ơng nh bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn mà doanh nghiệp phải
chịu.
Chi phí khấu hao tài sản cố định
Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định đợc sử dụng trong kỳ.
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Bao gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đã chi trả cho các loại dịch vụ
mà doanh nghiệp đã mua từ bên ngoài nh: tiền nớc, tiền điện, tiền bu phí... về
phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí khác bằng tiền
Bao gồm toàn bộ các chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất kinh
doanh ngoài 4 yếu tố trên.
Cách phân loại này giữ đợc tính nguyên vẹn của từng yếu tố cũng nh từng
khoản mục chi ra bất kể nó đợc chi ra ở đâu và có quan hệ nh thế nào đối với quá
trình sản xuất.
Việc phân loại chi phí theo tiêu thức này có ý nghĩa lớn trong quản lý chi
phí sản xuất, nó không chỉ cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí để
đánh giá phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất lập báo cáo chi phí
sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham
khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật t, kế hoạch quỹ l-
ơng, tính toán nhu cầu vốn lu động cho kỳ sau,mà còn cho phép xem xét mối
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quan hệ tỷ lệ giữa quá trình lao động sống và lao động quá khứ, từ đó tính toán
thu nhập, đánh giá khái quát tình hình tăng năng suất lao động của doanh nghiệp
2.2Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp tập hợp chi phí và mối
quan hệ với đối tợng chịu chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất đợc chia làm hai loại:
Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí có liên quan trực tiếp đến quá
trình sản xuất tạo ra sản phẩm hoặc thực hiện một giai đoạn công việc nhất định.
Những khoản chi phí này có thể đợc tập hợp theo từng công trình, hạng mục công

Chi phí sản xuất chung:là những khoản chi phí phục vụ cho sản xuất
của đội, công trình xây dựng nhng không đợc tính trực tiếp bao gồm tiền lơng cho
nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lơng phải trả cho công nhân trực tiếp
xây lắp, nhân viên điều khiển máy thi công, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí
bằng tiền khác.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ quản lý sản xuất theo định mức,
cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực
hiện giá thành từ đó làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí và kế hoạch
giá thành cho kỳ sau.
Xuất phát từ đặc điểm của sản xuất kinh doanh xây lắp và phơng pháp
lập dự toán trong kinh doanh xây lắp là lập dự toán cho từng đối tợng theo khoản
mục giá thành nên phơng pháp tập hợp chi phí này đợc sử dụng phổ biến nhất
trong các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp.
Ngoài các cách phân loại trên thì tùy thuộc vào yêu cầu sử dụng thông tin
và yêu cầu quản trị doanh nghiệp mà kế toán doanh nghiệp còn phải phân loại chi
phí theo những tiêu thức khác nhau:
- Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản
xuất và quy mô sản xuất thì chi phí sản xuất đợc chia làm hai loại là chi
phí cố định và chi phí biến đổi.
- Phân loại chi phí theo nội dung cấu thành chi phí thì chi phí
sản xuất đợc chia làm hai loại là chi phí đơn nhất và chi phí biến đổi.
Cách phân loại này giúp nhận thức vị trí của từng loại chi phí trong việc
hình thành sản xuất để tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
thích hợp với từng loại.
Tóm lại, mỗi cách tập hợp chi phí sản xuất đều có ý nghĩa riêng phục vụ
cho từng đối tợng quản lý, từng đối tợng cung cấp thông tin cụ thể nhng giữa các
cách phân loại này luôn bổ sung cho nhau nhằm quản lỳ có hiệu quả toàn bộ chi
phí phát sinh trong phạm vi từng doanh nghiệp, trong từng thời kỳ nhất định.
III. Giá thành sản phẩm xây lắp
1. Nội dung kinh tế

hợp lý công nhân để từ đó tăng vòng quay của vốn, tăng năng suất lao động...
nhằm đạt mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Nh vậy, giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa, phản
ánh lợng giá trị của lao động sống và lao động vật hóa đã thực sự chi ra cho sản
xuất sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí chi ra trực
tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất phải đợc bồi hoàn để tái sản xuất ở
doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh
của doanh nghiệp. Những chi phí đa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh đợc
giá trị thực của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản
chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống. Mọi
cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành
đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá- tiền tệ, không xác định đợc
hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng.
2.Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá
thành cũng nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành đợc xem xét dới
nhiều góc độ khác nhau và có nhiều phạm vi tính toán khác nhau, do đó kế toán
cần phân biệt các loại giá thành khác nhau theo các tiêu thức sau:
2.1. Căn cứ vào nguồn số liệu và thời điểm tính giá:
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm xây lắp đợc chia làm ba
loại:
Giá thành dự toán là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành một khối
lợng xây lắp. Giá dự toán đợc xác định trên cơ sở các định mức theo thiết kế đợc
duyệt và khung giá quy định đơn giá xây lắp áp dụng vào từng vùng lãnh thổ,
từng địa phơng do cấp có thẩm quyền ban hành và dựa theo mặt bằng giá cả thị
trờng.
Giá dự toán đợc tính theo công thức sau:

định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm.
Việc tính giá thành định mức đợc thực hiện trớc khi chế tạo sản phẩm.
Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thớc đo để
xác định chính xác kết quả sử dụng tài sản, vật t, lao động trong sản xuất, giúp
cho doanh nghiệp đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế, kỹ thuật đã thực hiện,
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp là giá thành đợc xây dựng trên cơ sở
chi phí sản xuất kế hoạch và sản lợng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do
bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và đợc tiến hành trớc khi bắt đầu
quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu
của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
Giá thành kế hoạch công
tác xây lắp
=
Giá thành dự toán công
tác xây lắp
-
Mức hạ giá dự
toán kế hoạch
Đối với những doanh nghiệp không có giá dự toán thì giá thành kế hoạch
đợc xác định trên cơ sở giá thành thực tế của năm trớc và các định mức kinh tế,
kỹ thuật của doanh nghiệp, là cơ sở để phấn đấu hạ giá thành trong kế hoạch.
Giá thành thực tế là giá thành đợc tính dựa trên cơ sở chi phí sản xuất
thực tế phát sinh để hoàn thành bàn giao khối lợng xây lắp mà đơn vị đã nhận
thầu. Nó bao gồm các chi phí theo định mức, vợt định mức, không định mức (bao
gồm: thiệt hại ngừng thi công, thiệt hại phá đi làm lại, lãng phí vật t tiền vốn,...),
tập hợp trong kỳ và sản lợng thực tế đã sản xuất trong kỳ, giá thành thực tế chỉ có
thể tính đợc sau khi đã kết thúc quá trình sản xuất.
Giá thành sản phẩm thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả

Giá thành toàn bộ = Giá thành sản xuất + Chi phí ngoài sản xuất
Do yêu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản trị doanh nghiệp mà kế
toán còn phải tính toán và cung cấp thông tin thêm về các loại giá thành khác nh:
giá thành hoàn thành của khối lợng xây lắp hoàn chỉnh và giá thành của khối lợng
xây lắp hoàn thành quy ớc.
Giá thành khối lợng xây lắp hoàn chỉnh là giá thành của công trình, hạng
mục công trình bảo đảm chất lợng, kỹ thuật đúng thiết kế, đúng hợp đồng bàn
giao đợc bên A chấp nhận thanh toán.
Giá thành khối lợng xây lắp hoàn thành là giá thành của một khối lợng
xây lắp hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và thỏa mãn các điều kiện:
+ Phải nằm trong thiết kế và bảo đảm chất lợng kỹ thuật.
+ Khối lợng phải đợc xác định cụ thể và đợc bên chủ đầu t chấp nhận
thanh toán.
+ Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý.
2.3. Các loại giá thành khác:
Trong điều kiện hiện nay, để thi công xây lắp một công trình thì đơn vị
thờng tham gia đấu thầu. Đơn vị thắng thầu là những đơn vị có giá thầu hợp lý
bảo đảm chất lợng thi công công trình. Do vậy, giá thành dự toán của công trình,
hạng mục công trình đợc chia làm 2 loại là giá thành đấu thầu công tác xây lắp và
giá thành hợp đồng công tác xây lắp.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Giá thành đầu thầu xây lắp là loại giá thành dự toán do chủ đầu t đa ra
để các doanh nghiệp xây lắp căn cứ vào đó tính toán giá thành của mình.
Giá thành hợp đồng công tác xây lắp là giá dự toán ghi trong hợp đồng
ký kết giữa chủ đầu t và doanh nghiệp xây lắp sau khi thỏa thuận giao nhận thầu.
Đó chính là giá thành của đơn vị xây lắp thắng thầu.
Trong đó:
Giá thành hợp đồng công tác xây lắp Giá thành đấu thầu công tác xây lắp
2.4. Đối tợng tính giá thành sản phẩm

Hay:
Tổmh giá thành sản
phẩm
=
CPSX dở dang
đầu kỳ
+
CPSX phát sinh
trong kỳ
-
CPSX dở
dang cuối kỳ
Nh vậy, nếu chi phí sản xuất là tổng hợp những chi phí phát sinh trong một
thời kỳ nhất định thì giá thành sản phẩm lại là tổng hợp những chi phí chi ra bất
kỳ ở kỳ nào nhng gắn liền với việc sản xuất và hoàn thành một khối lợng công
việc xây lắp nhất định đợc nghiệm thu, bàn giao, thanh toán. Giá thành sản phẩm
không bao gồm chi phí cho khối lợng dở dang cuối kỳ, những chi phí không liên
quan đến hoạt động sản xuất, những chi phí đã chi ra nhng chờ phân bổ cho kỳ
sau, nhng nó lại bao gồm những chi phí sản xuất cuối kỳ trớc chuyển sang, những
chi phí trích trớc vào giá thành nhng thực tế cha phát sinh và những chi phí của
kỳ trớc phân bổ cho kỳ này.
Về mặt kế toán, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là
hai bớc công việc liên tiếp gắn bó hữu cơ với nhau, tập hợp chi phí sản xuất là cơ
sở để tính giá thành sản phẩm. Do vậy, sự chính xác của công tác hạch toán chi
phí sản xuất quyết định tính chính xác của công tác tính giá thành.
Từ mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nh ta đã
phân tích ở trên thì việc quản lý giá thành nhất thiết phải gắn liền với quản lý chi
phí sản xuất và hạch toán chi phí sản xuất sao cho hợp lý, đúng đắn là một yêu
cầu có tính chất quyết định đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.

+Tập hợp đầy đủ các hóa đơn, chứng từ có liên quan tới quá trình sản
xuất.
+Phản ánh kịp thời, chính xác toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong quá
trình sản xuất vào các tài khoản quy định.
+Phân bổ hợp lý các chi phí sản xuất theo những tiêu thức đúng đắn theo
từng khoản mục vào những đối tợng chịu chi phí thích hợp.
+Tính toán chính xác giá thành xây lắp cho từng đối tợng, theo phơng
pháp đã lựa chọn.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+Kiểm tra tình hình thực hiện định mức về từng loại chi phí, từ đó phát
hiện kip thời các khoản mục chi phí có chênh lệch nhiều với định mức để có biện
pháp sử lý thích hợp.
+Kiểm tra việc tính toán giá thành theo từng đối tợng để tìm biện pháp
hạ giá thành mà vẫn đảm bảo chất lợng công trình.
+Đánh giá hiệu quả, lập báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanhcủa
doanh nghiệp; Tổ chức phân tích chi phí sản xuất và tính giá thành tại doanh
nghiệp.
2.2. Nhiệm vụ
Để đáp ứng đợc đầy đủ những yêu cầu trên thì nhiệm vụ đặt ra với hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp là:
+ Xác định đúng đối tợng, lựa chọn đúng phơng pháp tập hợp, phân bổ
đúng chi phí sản xuất cho từng đối tợng phù hợp theo tiêu thức đã chọn.
+ Xác định đúng đối tợng tính giá thành và lựa chọn phơng pháp tính giá
thành phù hợp.
II. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp
1.Đối t ợng và ph ơng pháp hạch toán chi phí sản xuất
1.1. Đối tợng tập hạch toán chi phí sản xuất
Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là một giới hạn nhất định về địa

nhất của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong tất
cả các loại hình doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp xây lắp.
1.2. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất
Phơng pháp hạch toán chi phí là một phơng pháp hay một hệ thống ph-
ơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí sản xuất theo đối tợng hạch
toán chi phí. Tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp, phơng thức sản
xuất...mà phơng pháp tập hợp chi phí có sự khác nhau.
Trong doanh nghiệp xây lắp có những phơng pháp tập hợp chi phí sau:
+Phơng pháp tập hợp chi phí theo công trình, hạng mục công trình:
Theo phơng pháp này, chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến công trình,
hạng mục công trình nào sẽ đợc tập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó.
+Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng:
Theo phơng pháp này, chi phí sản xuất phát sinh sẽ đợc tập hợp và phân
loại theo từng đơn đặt hàng, khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí phát
sinh kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành đợc tập hợp theo đơn đặt hàng, đó
chính là chi phí thực tế của đơn đặt hàng đó.
+Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn vị thi công:
Theo phơng pháp này, các đơn vị thi công thực hiện công tác kế toán nội
bộ, các chi phí phát sinh đợc thực hiện theo từng đơn vị thi công và trong từng
đơn vị đó chi phí lại đợc tập hợp theo từng đối tợng chịu chi phí nh công trình,
hạng mục công trình. Cuối cùng, toàn bộ chi phí phát sinh thực tế ở từng đơn vị
thi công đợc so sánh với dự toán để xác định kết quả hạch toán kế toán nội bộ.
Khi việc xây lắp hoàn thành thì phải tính riêng giá thành cho từng công trình hay
hạng mục công trình bằng phơng pháp thích hợp.
2.Trình tự hạch toán chi phí sản xuất
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Việc tập hợp chi phí sản xuất phải đợc tiến hành theo một trật tự hợp lý,
khoa học thì mới có thể tính giá thành một cách chính xác. Trình tự hạch toán chi
phí sản xuất là thứ tự các công việc cần tiến hành nhằm tập hợp chi phí sản xuất

vụ, lao vụ trong kỳ, chi phí này đợc thờng đợc xây dựng theo định mức chi phí và
tổ chức quản lý theo định mức. Nó không bao gồm chi phí nguyên vật liệu sử
dụng máy thi công. Giá của vật liệu trong khoản mục này là giá tới tận chân công
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trình tức là bao gồm cả chi phí thu mua, chi phí vận chuyển, hao hụt trong định
mức, hao hụt trong quá trình vận chuyển.
Chi phí nguyên vật liệu chính thờng chiếm tỷ trọng lớn từ 70%-80% giá
thành sản xuất. Toàn bộ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng vào thi công công
trình nào thì hạch toán vào công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc theo giá thực tế
của nguyên vật liệu và theo khối lợng thực tế đã sử dụng. Đến khi công trình hoàn
thành thì phải kiểm kê số nguyên vật liệu còn lại để ghi giảm chi phí nguyên vật
liệu đã tính cho đối tợng này. Còn đối với những nguyên vật liệu không thể tính
trực tiếp mà liên quan tới nhiều công trình nh vật liệu luân chuyển (chi phí về
giàn giáo, khuôn...) thì kế toán phải áp dụng phơng pháp phân bổ thích hợp để
xác định chi phí cho từng đối tợng.
Ta có tiêu thức phân bổ nh sau:
Chi phí vật liệu phân bổ cho
từng đối tợng
=
Tổng chi phí vật liệu cần
phân bổ
x
Tỷ lệ (hệ số) phân
bổ
Trong đó:
Tỷ lệ (hệ số) phân bổ =
Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tợng
Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tợng
Tuỳ theo đặc điểm hạch toán của từng doanh nghiệp mà lựa chọn một

+Trờng hợp mua nguyên vật liệu sử dụng ngay không qua kho phục
vụ cho hoạt động sản xuất trong kỳ thuộc đối tợng chịu thuế giá trị gia tăng, kế
toán ghi
Nợ TK 621 (chi tiết đối tợng): Giá cha có thuế
Có TK 111,112,331...: Giá thanh toán
-Khi tạm ứng chi phí để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ (trờng hợp
đơn vị nhận khoán không tổ chức hạch toán kế toán riêng), khi bản quyết toán
tạm ứng về giá trị khối lợng xây lắp hoàn thành đã bàn giao đợc duyệt, kế toán
ghi:
Nợ TK 621 (chi tiết đối tợng): Giá cha có thuế
Nợ TK133: Thuế GTGT đợc khấu trừ (nếu có)
Có TK 141: Tạm ứng
-Trờng hợp số nguyên vật liệu xuất ra không sử dụng hết vào hoạt động
sản xuất xây lắp, cuối kỳ nhập lại kho hoặc bán thu hồi, kế toán ghi:
Nợ TK 152: Nhập lại kho
Nợ TK111,112,331...: Bán thu hồi
Có TK 621 (chi tiết đối tợng)
-Cuối kỳ hạch toán, khi kết chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
để tính giá thành kế toán ghi:
Nợ TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 621 (chi tiết đối tợng)
Ta có thể khái quát trình tự hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
theo sơ đồ sau:
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ hạch toán chi phí nvl trực tiếp (kktx)
TK 152 TK 621 TK154
Giá trị NVL xuất kho Kết chuyển chi phí NVL

dùng trực tiếp cho sản xuất trực tiếp

bổ chi phí nhân công trực tiếp có thể là chi phí tiền công định mức, giờ công định
mức, khối lợng sản phẩm sản xuất... Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ căn
cứ vào tỷ lệ trích quỹ.
Hạch toán thời gian lao động: đợc tiến hành theo từng loại công nhân
viên, theo từng công việc đợc giao và cho từng đối tợng hạch toán chi phí và tính
giá thành sản phẩm. Theo dõi thời gian lao động đợc tiến hành trên Bảng chấm
công. Chứng từ này sau khi đợc kiểm tra xác nhận ở đội sản xuất và các phòng
ban có liên quan thì đợc chuyển về phòng kế toán. Kế toán tiền lơng lấy đây làm
căn cứ để tính lơng và theo dõi trên tài khoản chi phí có liên quan.
Hạch toán khối l ợng công việc giao khoán : Chứng từ ban đầu đợc sử
dụng để hách toán là Hợp đồng giao khoán. Hợp đồng giao khoán đợc ký theo
từng phần công việc, giai đoạn công việc, theo hạng mục công trình hoàn thành
và đợc xác nhận kết quả rồi chuyển về phòng kế toán làm căn cứ để tính lơng.
Tính l ơng, trả l ơng và tổng hợp, phân bổ tiền l ơng: Hàng tháng, căn cứ
vào Bảng chấm công, Hợp đồng giao khoán và các chứng từ có liên quan khác để
lập chứng từ thanh toán lơng và kiểm tra việc thanh toán lơng cho cán bộ công
nhân viên. Bảng thanh toán tiền lơng đợc lập hàng tháng theo từng đội sản xuất,
bộ phận thi công và phòng ban. Việc tổng hợp, phân bổ tiền lơng vào các tài
khoản chi phí cho các đối tợng sử dụng đợc thực hiện trên Bảng phân bổ tiền lơng
và BHXH.
Do những đặc điểm đặc thù của xây lắp nên các doanh nghiệp thờng áp
dụng hình thức trả lơng theo ngày, lơng công nhật, lơng theo khối lợng công việc
giao khoán đối với công nhân trực tiếp sản xuất , cụ thể nh sau:
-Lơng ngày: là tiền lơng trả cho ngời lao động theo mức lơng ngày và
số ngày làm việc trong tháng theo công thức sau:
Tiền lơng phải trả trong
tháng
= Mức lơng một ngày x
Số ngày làm việc
trong tháng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status