Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đặt vấn đề
Với bất kỳ quốc gia nào, nền kinh tế hàng hoá cũng đóng vai trò chủ đạo chi
phối đáng kể vào hoạt động của nền kinh tế quốc dân.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của nền kinh tế hàng hoá cũng nh những đặc điểm
cơ bản của nó, Đảng và Nhà nớc ta đã và đang có nhiều chủ trơng,đờng lối để phát
triển nền kinh tế hàng hoá.
Chính từ thực tế đó, ngời viết mạnh dạn đa ra nhận định của mình với đề tài :
Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về nền kinh tế hàng hoá và liên hệ thực tế ở
Việt Nam .
Bài viết đợc chia ra làm hai phần: Phần I: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về
nền kinh tế hàng hoá; phần2: Liên hệ thực tế ở Việt Nam.
Xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo Phan Văn Tiệm. Rất
mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của ngời đọc.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Giải quyết vấn đề
I/ Lý luận của Chủ nghĩa Mac-Lênin về Kinh tế hàng hoáá:
1. Tính tất yếu của nền kinh tế hàng hoá:
Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội trong đó sản phẩm đều do
những sản xuất ra, mỗi ngời chuyên làm ra một sản phẩm nhất định,thành thử muốn
thoả mãn các nhu cầu của xã hội thì cần phải có mua bán sản phẩm (vì Vậy sản
phẩm trở thành hàng hoá trên thị trờng.
( Lênin toàn tập, tập1, trang 106)
Nh vậy, cơ sở kinh tế hàng hoá của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là
phân công lao động xã hội và chế độ t hữu về t liệu sản xuất.
Phân công lao động xã hội là điều kiện cần của sản xuất hàng hoá. Có thể nói
phân công lao động xã hội đã tạo ra những ngành nghề khác nhau. Một khi đã có
phân công lao động xã hội thì mỗi ngời chỉ chuyên sản xuất ra một loại hàng
hoá( hoặc mấy loại sản phẩm nào đó). Song nhu cầu tiêu dùng của họ lại khác nhau.
Ví dụ: Ngời nông dân thì sản xuất ra lúa gạo, ngời thợ dệt sản xuất ra vải vóc.
Nhờ các phát minh ra công cụ bằng kim thuộc, các nghề nông cũng phát triển
mạnh, sự phân công lao động xã hội lần hai xảy ra: thủ công tách khỏi nghề nông.
Chính cuộc phân công lao động xã hội này đã làm cho kinh tế hàng hoá tức nền kinh
tế nhằm mục đích trao đổi ra đời. Đây chính là nền kinh tế hàng hoá giản đơn. Nh
vậy nền kinh tế hàng hoá giản đơn ra đời vào cuối thời công xã nguyên thuỷ, trong
thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến nó đóng vai trò phụ thuộc,bổ sung.
Tính u việt của sản xuất hàng hoá giản đơn so với nền sản xuất hàng hoá tự
nhiên là sản phẩm làm ra bằng chính t liệu lao động của ngời sản xuất, sản phẩm sản
xuất ra là sở hữu của ngời sản xuất.Tuy nhiên, nền sản xuất hàng hoá giản đơn vẫn
còn tồn tại rất nhiều hạn chế, sản xuất bị phân tán, quy mô nhỏ.
Khi lực lợng sản xuất phát triển với một tâm cao hơn nữa, kích thích kinh tế
hàng hoá phát triển hơn nữa và thúc đẩy kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển sang nền
kinh tế hàng hoá t bản chủ nghĩa. Quá trình chuyển biến này diễn ra trong thời kỳ
quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội t bản chủ nghĩa. Đây là loại sản xuất hàng
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hoá dựa trên bóc lột lao động làm thuê. Chủ t bản nắm trong tay toàn bộ t liệu sản
xuất, sản phẩm làm ra là của chủ t bản. Mục đích của nền kinh tế hàng hoá t bản chủ
nghĩa là tạo ra giá trị thặng d càng nhiều càng tốt. Để chạy theo lợi nhuận, các nhà t
bản liên tục đầu t khoa học kỹ thuật, tính chuyên môn hoá ngày càng cao, sản xuất
theo dây chuyền công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển. Nhng nguồn
gốc của giá trị thặng d là bóc lột sức lao động của công nhân làm thuê. Ngời lao
động tuy đợc tự do về thân thể song không có t liệu sản xuất nên phải bán sức lao
động của mình cho các nhà t bản. Chủ nghĩa t bản đã thực hiện đợc một bớc tiến bộ
trong lịch sử, lợi dụng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động để phục vụ túi
tiền của các nhà t bản, vì vậy đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa t bản và lao động làm
thuê.
Trong điều kiện lịch sử mới, nền kinh tế hàng hoá đợc phát triển với mức độ cao
hơn. Hàng hoá không chỉ tập trung vào tay một số nhà t bản lớn. Với nhiều thành
phần kinh tế mới, nền kinh tế hàng hoá ngày nay đã thu hút đợc rất nhiều lao động tự
Vậy giá trị của hàng hoá là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra hàng
hoá đó. Sản phẩm nào không chứa đựng lao động của con ngời thì không có giá trị.
Khi giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cung thay đổi, giá trị trao đổi chính là hình
thức biểu hiện của giá trị.
Nh vậy, trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào giá trị. Đây chính là nội dung của
quy luật giá trị. Quy luật giá trị là quy luật của sản xuất hàng hoá. ở đâu có sản xuất
hàng hoá thì ở đấy có quy luật giá trị tác động. Quy luật giá trị chi phối việc sản xuất
và trao đổi trong nền kinh tế hàng hoá. Nội dung của quy luật này đợc biểu hiện
trong sản xuất và lu thông. Trong sản xuất, đối với thời gian hao phí cá biệt thì đại bộ
phận là tơng đơng với thời gian lao động cần thiết, một số ít nhỏ hơn thì lại có một số
lớn hơn; đối với toàn xã hội thì tổng thời gian hao phí cá biệt bằng tổng thời gian lao
động xã hội cần thiết. Trong lu thông, đối với một loại hàng hoá giá cả có thể lên
xuống nhng phải xoay quanh trục giá trị (nguyên nhân la do tác động của qua hệ
cung cầu); đối với tổng hàng hoá trên phạm vi xã hội thì giá trị của nó đợc biểu hiện
là: tổng giá cả hàng hoá bằng tổng giá trị hàng hoá.
5