[Type text]
Mục lục
A: Cơ sở lý thuyết. …………………………………………………………2.
I. Văn bản quy phạm pháp luật………………………………… 2.
II. Văn bản áp dụng pháp luật…………………………………… 5.
B: So sánh giữa 2 loại văn bản: văn bản áp dụng pháp luật và văn bản quy
phạm pháp
luật………………………………………………………………7.
I. Giống nhau………………………………………………………7.
II. Sự khác nhau…………………………………………………… 7.
C: Đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quá trình ban hành 2 loại văn bản
pháp luật này.
1.Đối văn bản quy phạm pháp luật ……………………………… 11.
2.Đối với văn bản áp dụng pháp luật………………………………15.
Tài liệu tham khảo
[Type text] Page 1
[Type text]
A: cơ sở lý thuyết
I .Văn bản quy phạm pháp luật
a) Khái niệm :
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử
sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. (Điều 1 Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật năm 1996).
- ví dụ: Luật, pháp lệnh.
b.Theo khái niệm trên đây thì pháp luật phải đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu
đặc trưng sau:
• Là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo
thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục. Dấu hiệu này đặt ra yêu cầu chỉ
có các cơ quan nhà nước được quy định trong Luật năm 2008 hoặc Luật
quan nhà nước trung ương hay các cấp chính quyền địa phương ban
hành) thì chúng đều phải được tuân thủ và thực hiện.
• Những văn bản quy phạm pháp luật của việt nam như:
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội thông qua
ngày 03 tháng 6 năm 2008 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009) quy
định hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước và
người có thẩm quyền ban hành như sau:
[Type text] Page 3
[Type text]
STT Cơ quan ban hành Tên gọi văn bản
1 Quốc hội Hiến pháp, luật, nghị quyết
2 Ủy ban thường vụ Quốc hội Pháp lệnh, nghị quyết
3 Chủ tịch nước Lệnh. Quyết định
4 Chính phủ Nghị định
5 Thủ tướng Chính phủ Quyết định
6 Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ Thông tư
7 Tổng kiểm toán nhà nước Quyết định
8 Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao Nghị quyết
9 Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao
Chánh án tòa án nhân dân tối cao
Thông tư
10 Giữa các cơ quan của nhà nước có thẩm
quyền với nhau, giữa các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền với tổ chức chính trị- xã hội
Nghị quyết liên tịch, thông tư
liên tịch
11 Hội đồng nhân dân các cấp Nghị quyết
12 ủy ban nhân dân các cấp Quyết định, chỉ thị
II .Văn bản áp dụng pháp luật
1.Khái niệm :
3.Phân loại :
Căn cứ vào nội dung và nhiêm vụ của văn bản áp dụng pháp luật có thể chia
thành 2 loại:
• Văn bản xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý theo hướng tích cực. Loại
văn bản này là văn bản trong đó xác định cụ thể ai có quyền chủ thể, ai
mang nghĩa vụ pháp lý bằng con đường cá biệt hóa phần quy định của
quy phạm pháp luật.
• Văn bản bảo vệ pháp luật. Loại văn bản này chứa đựng những biện pháp
trừng phạt, cưỡng chế nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm
pháp luật.
4.Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật:
Việc tổ chức thực hiện trên thực tế văn bản áp dụng pháp luật là giai đoạn
cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật. Cũng ở giai đoạn này, cần tiến hành
các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành quyết định áp dụng pháp luật. Đó
là một trong những đảm bảo quan trọng để quyết định đó được thực hiện
nghiêm chỉnh trong đời sống.
B: so sánh giữa 2 loại văn bản quy phạm pháp luật và văn bản ấp
dụng pháp luật
I. Giống nhau :
[Type text] Page 6
[Type text]
1. Đều là văn bản pháp luật tức là văn bản do các cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ban hành.
2. Đều có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức
hoặc cá nhân có liên quan.
3. Đều được ban hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
4. Đều được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp mang tính
quyền lực nhà nước.
5. Đều được dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
[Type text]
chức cụ thể. Quyền và
nghĩa vụ pháp lý cụ thể
của các chủ thể phấp
luật hoặc những biện
pháp trách nhiệm pháp
lý đối với người vi
phạm được ấn định .
3.Nội dung ban
hành
Chứa đựng các quy tắc
xử sự chung được nhà nước
bảo đảm thực hiện, tức là
các quy phạm pháp luật nên
không chỉ rõ chủ thể cụ
thể cần áp dụng và được
thực hiện nhiều lần trong
thực tế cuộc sống, được thực
hiện trong mọi trường
hợp khi có các sự kiện pháp
lý tương ứng với nó xảy
ra cho đến khi nó hết hiệu
lực.
Xác định rõ quyền và
nghĩa vụ pháp lý cụ
thể, hoặc các hình thức
khen thưởng cụ thể,
hoặc cácbiện pháp
cưỡng chế nhà nước
cụ thể đối với các cá
có tính áp dụng chung, tính
trừu tượng, không đặt ra cho
người này, người kia một
cách xác định mà nhằm tới
phạm vi đối tượng ít nhiều
rộng hơn,áp dụng cho tất cả
mọi người
Văn bản áp dụng pháp
luật có tính chất cá biệt,
thực hiện một lần đối
với các cá nhân, tổ
chức liên quan
7.Sự xuất hiện Là cơ sở để ban hành các
văn bản áp dụng pháp luật.
Được ban hành trên cơ
sở các văn bản quy
phạm pháp luật.
8.Hình thức thể
hiện
• Văn bản luật: hiến
pháp,luật ,nghị quyết .
• Văn bản dưới luật:
Pháp lệnh ,nghị
quyết ,lệnh ,quyết
định, nghị định ,chỉ
thị,thông tư,văn bản
Bản án, quyết định
,lệnh ,quy định …
[Type text] Page 9
[Type text]
[Type text]
hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra văn bản áp dụng
pháp luật phù hợp. Trong thời gian vừa qua, việc xây dựng hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả. Một khối
lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành. Các văn bản quy
phạm pháp luật đã bao quát một phạm vi rộng lớn các quan hệ xã hội cần điều
chỉnh. Quy trình xây dựng được thực hiện đúng luật và dân chủ hơn. Chất lượng
các văn bản được nâng cao hơn.Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra một số đề xuất kiến
nghị nhằm hoàn thiện hơn quy trình ban hành các loại văn bản này như sau:
I . Đối với văn bản quy phạm pháp luật
1.Trong sáng kiến xây dựng VBQPPL:
Ngay từ khâu xác định vấn đề để đưa vào chương trình xây dựng VBQPPL đòi
hỏi phải có sự tham gia của đầy đủ các tầng lớp xã hội. Vì sao? Vấn đề được lựa
chọn điều chỉnh có thể chưa phản ánh nhu cầu bức thiết nhất trong xã hội, hoặc
có chăng chỉ mới phản ánh nhu cầu của một bộ phận, một tầng lớp, một nhóm
lợi ích nào đó chứ chưa đại diện cho tiếng nói của toàn dân chúng. Theo các quy
định của pháp luật hiện hành và trong thực tế, phần lớn chương trình xây dựng
VBQPPL do các cơ quan quản lý (bộ, cơ quan ngang bộ) xây dựng. Bộ, ngành
chủ quản chủ động trong việc đưa ra sáng kiến xây dựng VBQPPL. Điều đó có
thể chưa phản ánh được đầy đủ ý nguyện của toàn xã hội trong việc lập chương
trình xây dựng VBQPPL. Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan về nhu cầu xây
dựng pháp luật thì ngay trong khâu lập chương trình xây dựng VBQPPL, chúng
ta cần có quy định về việc tiếp thu qua các kênh thông tin khác (bên cạnh thông
tin của bộ, ngành) với sự tham gia, góp ý của các cá nhân, tổ chức khoa học hay
đại diện cho lợi ích của các nhóm xã hội khác. Việc tham gia đề xuất chương
trình xây dựng VBQPPL của các chủ thể nói trên và kể cả của các đoàn thể, của
đại biểu Quốc hội cũng cần có các cơ chế bảo đảm hiệu lực thực tiễn. Phương
thức khác nhằm đảm bảo tính khách quan và đúng đắn trong sự lựa chọn các
[Type text] Page 11
[Type text]
thức, các thông tin phải nhiều chiều, từ phía các nhà quản lý và những người bị
quản lý. VBQPPL được ban hành phải kết hợp hài hoà quan điểm, lợi ích của tất
cả các nhóm đối tượng bị quản lý trong xã hội và thuận lợi cho việc quản lý.
Việc khảo sát nên được làm song song với việc lấy thông tin thực tiễn từ các
nhà quản lý, tổ chức các hội thảo, hội nghị, lấy ý kiến từ các cơ quan hữu quan.
Ngoài ra, cơ quan soạn thảo cần tổ chức lấy ý kiến từ các nhóm dân chúng có
liên quan, đặc biệt là cần tổ chức các cuộc điều tra thực tế, có mục tiêu, đi sâu
vào các nhóm đối tượng là dân cư. Khi khảo sát thực tế, hoàn toàn có thể sử
dụng các hình thức như thuê khoán chuyên gia hoặc các tổ chức có kinh nghiệm
thực hiện.
3.Kỹ thuật soạn thảo VBQPPL
Thu thập thông tin nhiều chiều, phong phú, phản ánh đầy đủ tình trạng xã hội và
xác định những vấn đề còn bất cập trong xã hội, các nguyên nhân nảy sinh
chúng, từ đó đề xuất các giải pháp để thiết kế nên QPPL, đó là các yêu cầu đầu
tiên cho việc soạn thảo một VBQPPL. Tuy nhiên, quá trình xử lý thông tin khó
tránh khỏi một số yếu tố chi phối khiến dự thảo không thể hiện được đầy đủ các
mặt của thực tiễn xã hội hay bị lệch lạc dưới những góc nhìn chủ quan, vì lợi
ích cục bộ. Điều này đòi hỏi cần có những kỹ thuật cần thiết trong phân tích
thông tin. Trước khi soạn thảo VBQPPL, nhà soạn thảo cần có một báo cáo
nghiên cứu chi tiết. Báo cáo nhằm đảm bảo cho việc soạn thảo đã dựa trên các
dữ liệu của thực tiễn, tránh tình trạng cán bộ soạn thảo làm việc chỉ dựa vào
kinh nghiệm và kiến thức bản thân mà không chú trọng cơ sở thực tiễn. Mặt
khác, thông qua báo cáo này, cơ quan thẩm tra và cơ quan ban hành VBQPPL
có căn cứ để đánh giá sự cần thiết và tính hiệu quả của một dự thảo.Nội dung
chính của báo cáo là: nêu vấn đề cần giải quyết (mô tả kỹ các hành vi của các
chủ thể), nguyên nhân dẫn đến các hành vi xấu của các chủ thể và đề xuất giải
pháp để loại trừ các hành vi đó. Trong các thao tác nói trên, người soạn thảo
[Type text] Page 13
[Type text]
phải lý giải các hành vi xấu của chủ thể, nguyên nhân dẫn đến chúng bằng
nên có trường hợp, họ dành cho các công việc đó sự quan tâm nhiều hơn. Vì
vậy, cần thiết phải có chế độ đãi ngộ hợp lý và lượng hoá, đồng thời xác định
trách nhiệm cụ thể cho các chuyên viên trong công tác soạn thảo VBQPPL -
một hoạt động có tầm ảnh hưởng rộng lớn đến xã hội
II .Đối với văn bản áp dụng pháp luật
• Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền. Chỉ có
các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật ban
hành ra
• Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành có cơ sở pháp lý đúng,
dựa vào những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể ban hành
• Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành có cơ sở thực tế. Chính vì
thế những chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật cần phải được
nghiên cứu, được xây dựng từ những căn cứ đánh giá đúng yêu cầu thực
sự của thực tiễn trên các phương diện: sự cần thiết, mức độ điều chỉnh
để quyết định
• Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục
theo quy định của pháp luật. Các cơ quan thẩm định cần hoàn chỉnh các
văn bản pháp luật từ nội dung đến ngôn ngữ pháp lý trước khi trình Quốc
hội hay Chính phủ và phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định này. Về
mặt nguyên tắc, các văn bản dù cấp thiết đến đâu cũng phải được xây
dựng đạt chất lượng tốt nhất mới trình Chính phủ hoặc Quốc hội thông
qua, nếu chuẩn bị chưa tốt, chất lượng kém thì dù cấp thiết đến đâu cũng
nên để lại tiếp tục hoàn chỉnh.
[Type text] Page 15
[Type text]
[Type text] Page 16