UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
HỌC SINH CHƯA NGOAN Ở CÁC TRƯỜNG THCS
TRỂN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN - AN
GIANG: NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
IV Phương pháp nghiên cứu
V. Khả năng, triển vọng của đề tài
PHẦN THỨ HAI
Chương I Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
I. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
II. Khái niệm học sinh chưa ngoan.
III. Đặc điểm tâm , sinh lý của học sinh THCS
IV. Đặc điểm tâm lý học sinh chưa ngoan
Chương II. Kết quả nghiên cứu
I Một số đặc điểm chủ yếu về tự nhiên và xã hội của thành phố Long
Xuyên
II Tình hình học sinh chưa ngoan ở các trường THCS trên địa bàn thành
phố Long Xuyên
III.. Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh chưa ngoan
IV Những biện pháp giáo dục đối với loại học sinh chưa ngoan
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN ĐỀ XUẤT
Tài kiệu tham khảo
PHẦN PHỤ LỤC
.
41
1 LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi lọt lòng, qua lời ru của mẹ, trẻ đã thực sự học tập, noi theo các hành vi chuẩn mực của
người lớn, của cộng đồng mà góp phần xây dựng sáng tạo các chuẩn mực, khuôn mẫu xã hộI
( được xã hội chấp nhận), và liên tiếp trong suốt cuộc đời của mỗi con người, quá trình xã hội
hoá diễn ra, trong đó con người sống và phát triển cả
hai phương diện: vừa là một cá thể, vừa
là một thành viên của xã hội.
Tuy vậy, trong bất cứ xã hội nào cũng có tỷ lệ nhất định những con người, trong hoạt động
I. Tính cấp thiết của đề tài
.
1. Trong thực tiễn hoạt động giáo dục, học sinh luôn luôn có sự phân hoá phức tạp về mức độ
phát triển trí tuệ, phẩm chất đạo đức, thể chất khác nhau của quá trình tiếp thu giáo dục và quá
trình tự giáo dục của mỗi người. Trong sự phân hoá đó có một tỷ lệ rơi vào tình trạng trì trệ ,
chậm phát triển, thậm chí có một số học sinh quậy phá bướng bỉnh… nếu không được quan
tâm giúp đỡ
kịp thời, rất dễ rơi vào tình trạng suy thoái nhân cách, thậm chí có thể dẫn đến
tình trạng có thể trượt dài vào vòng tội lỗi. Chính nghị quyết trung ương II khoá VIII của
Đảng cộng sản Việt Nam, đã đề cập: “Đặc biệt đáng lo ngại là trong một bộ phận học sinh,
sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng,
thiếu hoài bảo lậ
p thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và của đất nước”. Qua tiếp xúc
với một số đ/c hiệu trưởng và một số giáo viên ở các trường THCS trên địa bàn thành phố
Long Xuyên, chúng tôi được biết ở các trường THCS trên địa bàn Long Xuyên, đều có loại
học sinh chưa ngoan. Từ trước tới nay ở nước ta, vấn đề giáo dục học sinh chưa ngoan được
nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học và các nhà giáo ở các trường phổ thông r
ất quan tâm tìm
hiểu, nghiên cứu để tìm ra biện pháp giáo dục thích hợp, nhằm đưa các em học sinh thuộc
dạng chưa ngoan thành học sinh tốt. Vì vậy, điều tra, nghiên cứu, để nắm được số lượng và
nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh chưa ngoan ở các trường THCS trên địa bàn Long
Xuyên, từ đó chỉ ra được biện pháp giáo dục đặc thù đối với đối tượng học sinh chưa ngoan là
một sự cần thi
ết.
2. Vấn đề giáo dục học sinh “ chưa ngoan”, từ trước đến nay là một công việc vô cùng khó
khăn và phức tạp. Tuy số lượng loại học sinh này không nhiều, nhưng nó lại làm mất nhiều
thời gian và sức lực, làm đau đầu các nhà giáo dục, quản lý cũng như phụ huynh học sinh.
Nhiều trường vì sợ ảnh hưởng đến thành tích chung nên tìm cách đuổi các em cho rảnh nợ.
trong thực tế, có ông chủ tịch công
đình, kinh tế gia đình, gia đình hoàn thiện hay thiếu, quan hệ giữa cha,mẹ với nhau và quan hệ
giữa cha, mẹ với con cái., mẫu 3 nhằm nắm được mối quan hệ của học sinh chưa ngoan, như
:quan hệ của các em với lớp, với trường, với giáo viên chủ nhiệm và với bạn bè cũng như
môn học mà em ưa thích. mẫu 4,5. nhằm tìm hiểu mức độ quan tâm của phụ huynh đối với
các em học sinh thuộc dạng chưa ngoan.
3. Phương pháp trò chuyện. Thông qua trò chuyện trực tiếp với ban giám hiệu các trường
THCS, giáo viên, học sinh và một số bậc phụ huynh để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình
trạng “ chưa ngoan” của học sinh.
V.
Khả năng, triển vọng ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài.
- Phục vụ cho công tác giảng dạy môn giáo dục học và môn PPNCKHGD ở hệ đào tạo giáo
viên THCS.
- Góp phần vào công tác giáo dục “ học sinh chưa ngoan” ở các trường THCS trên địa bàn
thành phố Long Xuyên.
Vấn đề học sinh “ chưa ngoan” hoặc “ khó giáo dục”, từ lâu đã được nhiều nhà giáo dục
nghiên cứu.
Ngay từ thế kỹ XVII, Cômenxki, đã xem cung cách đối xử cá biệt với học sinh là phương tiện
đấu tranh với nhà trường kinh viện. Ông quan niệm rằng : “ Trẻ em là thứ báu vật vô cùng
quý giá, thậm chí quý giá hơn bất cứ loại vàng nào; nhưng nó cũng là một thứ tấm gương dễ
vỡ hoặc bị hư
hỏng dẫn đến tác hại không sao sửa chữa được nữa!” [ 1]
Dựa vào thực trạng của học sinh đương thời, để phân loại trẻ trên những đặc điểm cá tính
khác nhau của các em biểu hiện ra các hành vi trong học tập, sinh hoạt, phản ánh các khía
cạch khác nhau trong nhân cách của chúng. Chẳng hạn: Chất lượng trí tuệ : Thông minh hay
ngu đần.
Nhịp điệu hoạt động trí tuệ: Nhanh, chậm hoặc uể oải.
Thái
độ học tập: Có khát vọng hiểu biết hoặc nhu nhược trong học tập; hiếu học hoặc thờ ơ
với tri thức.
Biểu hiện các đặc điểm, tính cách trong học tập: Vâng lời hay bướng bỉnh; trẻ bình tỉnh hay
không tự kiềm chế được, nhân hậu hay độc ác…
. Trên cơ sở tạm phân loai như vậy, thì đối với mỗi loại cần phải dùng phương pháp giáo dục
thích h
ợp, đặc biệt. Chẳng hạn, đối với học sinh thông minh, có khát vọng hiểu biết, có khả
năng học tập thì cần bồi dưỡng bằng tri thức khoa học và phải đối xử thận trọng đối với
chúng; không tham lam nhồi nhét kiến thức làm cho chúng kiệt sức trước lứa tuổi. Trẻ thông
minh nhưng chậm chạp thì phải gợi mở và “thục dục” chúng. Còn đói với trẻ thông minh
như
ng bướng bỉnh, không tự kiềm chế thì phaỉ nhẩn nại, bền bỉ kiên trì uốn nắn giáo dục…
Với đối tượng chậm chạp, uể oải cần phải tính đến các đặc điểm, nhược điểm của chúng,
không vội vã và nêu lên các yêu cầu quá khắt khe; trái lại phải khoan dung, độ lượng, khuyến
khích chúng, nâng đỡ từng tiến bộ nhỏ của chúng.
Theo Cômenxki, để giúp mỗi học sinh đạt
Thời kỳ thứ tư : hình thành các tình cảm xã hội.
Trong quá trình phát triển của con người, thiên nhiên và sự vật ( mà con người tiếp xúc hàng
ngày) giữ một vai trò rất lớn. nhưng vấn đề là phả
i xuất phát từ bản tính tự nhiên của trẻ để
phát triển đúng hướng.
So với các bậc tiền bối, nguyên tắc đối xử cá biệt mà Rutxô đề ra được xem như là một thành
phần hữu cơ của quá trình giáo dục. Theo ông, nhiệm vụ giáo dục là nhằm phát triển những
khả năng về tiềm năng học tập sẵn có của con người. Phải đối xử cá biệt để khai thác và phát
huy những đặc điểm riêng của mỗi đứa trẻ. So với Cômenxki, Rutxô đi xa hơn trong việc dựa
vào sự khác biệt về cá tính để phân loại trẻ và tiến hành giáo dục thích hợp trong các lứa tuổi
nhất định.
Ông chủ trương nghiên cứu tỷ mĩ, sâu sắc, những đặc điểm tự nhiên của trẻ, đấu tranh chống
rập khuôn, máy móc trong công tác giáo dục, tìm ra nét độc đáo trong thế giới nội tâm c
ủa trẻ,
để có cách giáo dục thích hợp.
Một nhà giáo dục khác là Petxtalôgi cũng rất coi trọng vấn đề giáo dục “cá biệt”, nhưng ông
còn đi sâu hơn Rutxô, đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng của giáo dục, như sự kết hợp giữa
việc đảm bảo tự do và sự vâng lời của trẻ, việc chuẩn bị cho trẻ tâm lý sẳn sàng tiếp thu các
yêu cầu giáo dục của thầ
y giáo, ý nghĩa và vai trò của lòng tin trong quan hệ qua lại với học
sinh…, ông cho rằng, nghiên cứu học sinh là nghiên cứu “ một cá nhân riêng lẻ không trùng
lập”, bằng cách quan sát chúng – đó là điều kiện quan trọng nhất để đạt tới kết quả thật sự của
quá trình giáo dục dựa trên cứ liệu rút ra được từ quan sát trên.
Đixtecvec, là người rất chú trọng đến việc giáo dục “cá biệt” trong “ bất cứ giai đoạn dạy học
nào” và ông c
ũng nhấn mạnh rằng học sinh chỉ thấy hạnh phúc khi được thầy giáo không bỏ
qua những điểm mạnh và yếu của mình”.
Trãi qua một quá trình lịch sử lâu dài vấn đề giáo dục “cá biệt” vẫn được nhiều nhà giáo dục
tìm tòi cách giải quyết. Đặc biệt sau Cách mạng Tháng Mười Nga, các nhà giáo dục XôViết
đã kế thừa và phát triển những cơ sở phương pháp luận và phương pháp giáo dục mới trong
định đến sự hình thành nhân cách xã hội của trẻ, đó là cuộc sống xã hội, hoạt động lao động
sản xuất và hoạt động thực tiễn nói chung. Ông
đã chứng minh rằng: yếu tố tư tưởng trong sự
hình thành nhân cách chịu nhiều ảnh hưởng của các yêu cầu xã hội, tuy nó có ý nghĩa sâu xa
nhưng phải gắn với các nhân tố vật chất.
Hệ thống này luôn luôn phát triển và phụ thuộc vào sự thay đổi các nhiệm vụ, các yêu cầu xã
hội trong từng thời kỳ phát triển của xã hội.
Điều cần ghi nhớ là sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ luôn luôn đượ
c xác định bởi
các nhu cầu phát triển về vật chất và tinh thần của thời đại, biểu lộ ra ở hệ thống các yêu cầu
trong giáo dục; con người ta dù ở lứa tuổi nào cũng tiếp thu các yêu cầu của xã hội một cách
chủ động, tích cực trên cơ sở kết hợp hài hoà, thích ứng với lợi ích riêng và yêu cầu riêng của
mình, nghĩa là có sắc thái riêng.
Thực tế cho thấy không chỉ xã hội đặ
t ra yêu cầu đối với nhân cách mỗi người mà mỗi cá
nhân cũng đặt ra cho xã hội( một cách có ý thức) các nhu cầu của mình, và do đó, con người
phải luôn luôn tự điều chỉnh, tự hoàn thiện..
Cả Crupxkaia và Macarencô đều xuất phát từ tác động tương hỗ và sự thống nhất giữa cá
nhân và xã hội trong quá trình hình thành nhân cách. Con đường hình thành nhân cách thông
qua tính tích cực của cá nhân, qua kinh nghiệm và hoạt động độc đáo, riêng của từng người.
Vì vậy, nhiệm v
ụ chính của cách thức đối xử cá biệt là phải chuẩn bị cho mỗi cá nhân thực
hiện các yêu cầu của tập thể, của cộng đồng, của xã hội nói chung mà tất nhiên phải thông qua
các hoạt động, qua đó chúng sẽ tự sáng tạo, đúc rút được kinh nghiệm, hình thành vốn sống
có tính riêng, độc đáo của mỗi cá nhân.
Những nét mới của nhân cách sẽ hình thành và phát triển khi con người thật sự sống và hoạt
độ
ng trong thực tiễn với tất cả tính tích cự xã hội, tính sáng tạo, năng động trong quá trình tự
giáo dục, tự hoàn thiện và từ đó bên cạnh những phẩm chất, tính cách chung nhất sẽ hình
thành những nét độc đáo, riêng biệt của cá nhân và kể cả các phẩm chất mới mẻ của con
ngoan trên địa bàn thành phố Long Xuyên.
II
. Khái niệm về học sinh “chưa ngoan
”.
1..Về lý luận, trong phạm vi nhà trường các học sinh có “trục trặc” trong sự phát triển thường
được gọi với những tên khác nhau. Tuỳ theo mức độ, quan điểm nhận thức của các nhà giáo
dục, từng cơ sở giáo dục. Có nơi gọi đối tượng này là học sinh chậm tiến, có nơi gọi là học
sinh “khó giáo dục” hay học sinh “chưa ngoan”. Thậm chí có nơi gọi là học sinh “ cá biệt”.
Tuy cách gọi khác nhau nhưng nội dung và tích ch
ất của các biểu hiện loại học sinh này
thường giống nhau. Có lúc, có nơi người ta gọi thẳng đối tượng này là “học sinh hư” và xếp
vào loại phải giáo dục lại, nghĩa là phải được giáo dục theo yêu cầu, nội dung, phương pháp
giáo dục có tính đặc thù. Do đó trong đề tài này, đôi khi chúng tôi cũng dùng những thuật ngữ
như : “học sinh cá biệt”, “ học sinh hư”, ‘ học sinh chậm tiến”… đều ám chỉ loại họ
c sinh
chưa ngoan, rất mong quý vị và bạn đọc thông cảm. Những điều dễ nhận thấy ở loại đối
tượng này là:
Né tránh việc thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm theo khuôn mẫu chung ( về đạo đức, lối
sống, nội quy, quy chế…) nghiêm trọng hơn các em có những biểu hiện gây rối trật tự xã hội,
làm mất an ninh cho những người xung quanh và của toàn xã hội, như các em có những tác
phong và hành vi thấp kém: tr
ộm cắp, phá phách, sa vào các tệ nạn xã hội, sống cẩu thả, thậm
chí chà đạp lên mọi giá trị đạo đức văn hoá… có học sinh đánh thầy, cô giáo.
2.Theo thông tư số 29/TTGD, ngày 16/10/90 của bộ giáo dục và đào tạo, thì: Xếp loại hạnh
kiểm yếu là những học sinh không đạt tới mức trung bình theo tiêu chuẩn; có những biểu hiện
yếu, kém, chậm tiến bộ…những biểu hiện của loại họ
c sinh yếu về hạnh kiểm là :
- Có hành vi vô lễ, xúc phạm tương đối nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của thầy cô giáo
trong và ngoài trường.
- Quá lười học, được nhắc nhở nhiều lần nhiều lần nhưng không tiến bộ, nhiều lần quay cóp
ngóng vụng về.
- Dung tích của tim tăng gấ
p đôi mà dung tích của hệ huyết quản chỉ tăng gấp 1,5 lần,
hệ tuần hoàn tạm thời bị rối loạn gây ra hiện tượng thiếu máu từng bộ phận trên vỏ
não. Do đó thiếu niên dễ có cảm giác mệt mỏi, dễ bị kích động và có tâm trạng thất
thường.
- Hai quá trình thần kinh cơ bản không cân bằng nhau thường hưng phấn mạnh hơn ức
chế, nên các em thiếu niên dễ
có phản ứng mạnh mà không biết tự kiềm chế, khiến các
em không làm chủ được bản thân.
Chính vì vậy, tuổi thiếu niên có một vị trí đặc biệt trong chu kỳ phát triển tâm lý của trẻ
được phản ánh trong các tên gọi
khác nhau như : “thời kỳ quá độ”, “ tuổi khó khăn”, “thời kỳ khủng hoảng”, những tên
gọi đó đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của quá trình phát triển diễn ra ở lứa tuổi
này.
- Tuổi thiếu niên được gọi là tuổi “ Quá độ” vì ở tuổi này có sự tồn tại song song vừa
“tính trẻ con” , vừa “tính người lớn” các em rất muốn mọi người coi mình là người lớn
nhưng lại lòi cái đuôi trẻ con của mình khi thích chơi trò chơi
của trẻ con.
- Thời kỳ thiếu niên được coi là thời kỳ khó khăn và khủng hoảng vì:
+ Thời kỳ này diễn ra vô số những biến đổi v
ề chất, những biến đôi khi những đặc điểm
những hứng thú và quan hệ đã có trước đó ở trẻ.
+ Những biến đổi thường kèm theo một mặt là sự xuất hiện ở bản thân thiếu niên những khó
khăn chủ quan đáng kể, mặt khác là những khó khăn trong việc giáo dục thiếu niên, cá em
không chịu sự tác động của người lớn, tỏ ra bướng bỉ
nh chống đối và phản kháng (ương
bướng, thô bạo, phủ nhận, ngang ngược kín đáo, lầm lì.)
2. Sự thay đổi trong hoàn cảnh sống và hoạt động.
2.1 Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ
Trong gia đình cha mẹ các em không còn coi các em làø hoàn toàn bé bỏng nữa mà đã bắt
đầu giành cho các em nhiều quyền sống độc lập hơn: các em có thể tự bao tập, tự viết nhản
v
ở, tự bố trí góc học tập …
Mặt khác gia đình cũng đề ra cho các em những yêu cầu cao hơn, nhiều em được giao những
trọng trách nặng nề như chăm sóc, giáo dục em nhỏ. Quản lý việc ăn uống chi tiêu trong gia
đình. Ở nông thôn, những hộ lao động nghèo hoặc đơn chiếc có em trở thành lao động chính.
Dần dần, trong cuộc sống các em muốn tách khỏi sự phụ thuộc vào cha mẹ. Thiếu niên
thường không muố
n được hưởng sự chăm sóc quá tỉ mỉ, thậm chí còn ngại đi chơi chung với
ba mẹ, sợ người khác coi mình là trẻ con theo đuôi người khác .Trong gia đình các em muốn
được cha, mẹ tôn trọng hơn là chiều chuộng.
-Ở nhà trường.
Học sinh THCS là đội viên đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, một số em lớn đã là đoàn
viên thanh niên CS HCM.
Đối với thầy cô giáo các em vẫn rất kính trọng nhưng không còn “ sùng bái” như hồi còn ở
ti
ểu học
Do được tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo có phong cách ứng xử khác nhau, có trình độ khác
nhau, các em dễ có sự so sánh
+Do cương vị của thiếu niên trong hoạt động đặc biệt là vai trò của thiếu niên tiền phong
trong xã hội, thành tích trong sản xuất, công tác…nên người lớn xung quanh đã chú ý đến vai
trò của các em.
+Các em rất phấn khởi, sung sướng khi được người lớn, anh chị phụ trách, thầy, cô giáo, các
bác lãnh đạo địa phương đánh giá đúng thành tích và vai trò của các em.
+ Gần gủi với người lớn xung quanh, các em có khuynh hướng học tập người lớn về vốn hiểu
biết và cách cư xử. Nhưng do còn hạn chế về mặt nhận thức, nên đôi khi các em bắt chước
những tính xấu như hút thuốc lá, uống rượu đua đòi các kiểu ăn mặc càn quấy… các em lại
nhầm tưởng đó chính là dấu hiệu, những đặc tính của người lớ
n.
chị phụ trách ghét bỏ.
-Đối với bạn bè.
+ Thiếu niên khát khao tình bạn. Bạn Xuân Quyên 12 tuổi, kể: “Cha mẹ, Anh chị em
trong gia đình chưa đủ để mình cảm thấy mình không cô đơn, không có bạn thì em không
thể sống được”
+ Các em có nhu cầu tình bạn theo đúng nghĩa, tình bạn là để giúp đỡ nhau và cùng nhau
tâm sự
. Chúng ta thấy có hiện tượng: “ Hai đứa học sinh gái nói chuyện huyên thuyên suốt
dọc đường, về nhà, lại còn ba hoa thêm nửa giờ nữa trước cửa nhà rồi mới chia tay với
nhau. Thế mà vừa vào nhà chúng đã vội gọi giây nói cho nhau để thổ lộ những điều thầm
kín”.
+ Các em đã có một số yêu cầu đối với bạn bè, vì vậy các em có sự lựa chọn bạn, cho nên
tình bạn của thiếu niên tương đối b
ền vững, có khi các em chơi thân với nhau đến già.
+ Quan hệ tình bạn của thiếu niên, cởi mở tin tưởng hiểu nhau và sẳn sàng giúp đỡ lẫn
nhau.
+ Quan hệ tình bạn của thiếu niên rất bình đẳng.
+Tình bạn của các em được xây dựng trên cở sở cùng hứng thú, cùng sở thích, cùng hoạt
động. Tình cảm của các em có nội dung phong phú.
3.3 Quan hệ với các em nhỏ tuổi hơn.
+Bước vào tuổi thiếu niên, các em thấy mình không còn trẻ con nữa. Trong quan hệ với
trẻ nhỏ hơn, thiếu niên thấy mình lớn hơn hẳn. Cho nên khi chơi với trẻ nhỏ hơn, thiếu niên
thường tỏ ra “ bề trên” và hơn hẳn chúng về mọi mặt.
+ Thiếu niên rất sợ người khác xem mình lẩn vào đám trẻ con, nên cố tình tìm cách tách
mình ra khỏi đám trẻ.
Chẳng hạn, Nhiều đội viên lớn tuổi không chịu đeo khăn quàng đỏ, chỉ vì sợ giống các đội
viên nhi đồ
ng. Hoặc tại một khu phố nọ,người ta đã tổ chức khám bệnh cho trẻ em dưới 15
tuổi, nhưng chỉ sau không đầy một tiếng đồng hồ các em thiếu niên đã lần lượt rút sổ y bạ của
mình ra, trong phòng khám chỉ còn trẻ nhỏ.
+Cách ghi nhớ của các em cũng phong phú, các em đã biết chọn lựa cách ghi nhớ thích
hợp.
+Ghi nhớ trừu tượ
ng của học sinh THCS hơn hẳn học sinh tiểu học. Khi cùng ghi nhớ một
tài liệu cụ thể, học sinh lớp 8 hơn học sinh lớp 5 là 1,6 lần, nhưng đối với tài liệu trừu tượng
thì hơn 2,8 lần.
+Những tiến bộ đáng kể của thiếu niên là khả năng các em có khả năng ghi nhớ có ý nghĩa.
Tuỳ theo yêu cầu, nhiệm vụ của bài học, các em biết chọn cách ghi nhớ thích h
ợp… do vậy
các em nhớ lâu hơn, đúng hơn so với học sinh tiểu học.
+Mặt khác, ghi nhớ của các em cũng thể hiện tính mâu thuẫn. Mặc dù có khả năng ghi nhớ
có ý nghĩa, nhưng các em vẫn rất tuỳ tiện trong việc ghi nhớ: khi gặp khó khăn là các em từ
bỏ việc ghi nhớ có ý nghĩa. Đồng thời các em chưa hiểu đúng về ghi nhớ máy móc, coi đó là
học vẹt, coi thường việc ghi nh
ớ chính xác…do vậy, không phải lúc nào các em cũng nhớ
đúng những tài liệu cần nhớ chính xác. Vì thế, giáo viên cần chú ý giúp các em kết hợp cả
hai cách ghi nhớ trong mỗi môn học.
-Đặc điểm về tư duy.
Trên cơ sở của vai trò hệ thống tín hiệu thứ hai được nâng cao và do tính chất trừu tượng
của hệ thống kiến thức ở bậc THCS làm cho tư duy của thiếu niên được phát triển.
+Khả năng t
ư duy trừu tượng của thiếu niên được phát triển nhanh. Trong quá trình học tập
nhiều khái niệm trừu tượng được hình thành.
+Khả năng vận dụng các thao tác tư duy có những tiến bộ hơn so với nhi đồng. Song sự
tiến bộ diễn ra dần dần suốt quá trình học tập ở bậc THCS, càng lên lớp cao, các em càng đi
sâu vào bản chất của khái niệm hơn. Chẳng han, lúc đầu thiếu niên vẫn có xu hướng dự
a
vào hình ảnh cụ thể, những dấu hiệu dễ thấy nhưng không bản chất , như học sinh lớp 6 vẫn
xếp cây rau muống là cây lương thực, hoặc góc đối đỉnh là góc kề nhau. Dần dần đến cuối
lứa tuổi này, những khái niệm trở nên chính xác hơn, phong phú hơn, các em đã biết áp
em, viết và nói sai ngữ pháp và cẩu thả, nhất là những t
ừ có âm đầu là; “ v”. “d”,
“r”…chẳng hạn rõ ràng thì các em lại nói “gõ gàng”. Vì vậy thì các em lại nói “ dzì dzậy”
…
- Sự phát triển chú ý của thiếu niên
+Sự phát triển chú ý của thiếu niên cũng có nhiều mâu thuẩn, một mặt,chú ý có chủ định của
các em phát triển rõ nét; mặt khác, những ấn tượng và rung động mạnh mẽ, phong phú của
thiếu niên khiến cho sự chú ý của các em không bền vững.
+Một tiến bộ của thiếu niên là chú ý của các em có tính lựa chọn r
ất rõ. Các em có khả năng
tập trung làm việc nghiêm chỉnh nếu các em thấy vấn đề là cần thiết và hứng thú.
+Khối lượng chú ý, khả năng di chuyển của chú ý của các em cũng tăng lên rõ rệtù.
Do vậy, cần tổ chức giờ học sao cho có nội dung cụ thể rõ ràng, đòi hỏi học sinh phải hoạt
động nhận thức tích cực.
4.2 Sơ lược sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi họ
c sinh THCS
4.2.1. Sự hình thành tự ý thức của học sinh THCS
Cá tính của con người được hình thành và phát triển, biển đổi được xãy ra ở mọi lứa tuổi.
Ngay cả người trưởng thành cũng có những nét tính cách mới được hình thành,và từ bỏ
những nét tính cách củ không phù hợp. Song, ở mỗi lứa tuổi thì sự hình thành cá tính có
những nét đặc thù.-
-Một trong những đặc điểm quan trọng của sự phát triển nhân cách ở tuổi thiếu niên là s
ự
hình thành tự ý thức.
Do mối quan hệ xã hội của thiếu niên ngày càng phong phú và phức tạp đã thúc đẩy quá trình
hình thành tự ý thức khiến cho thiếu niên nhận thức được mình.
+ Thiếu niên đánh giá về mình dựa vào ý kiến đánh giá của những người xung quanh.
Do đó, đòi hỏi những người xung quanh khi nhận xét các em phải suy nghĩ chín chắn và
thống nhất ý kiến. Nếu không các em sẽ khó khăn trong việc tự đánh giá mình thậm chí có thể
Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp một số thiếu niên đứng ngẫm nghĩ một mình, hay viết nhật ký,
tự phân tích về ý nghĩ, tình cảm, hành vi của mình.
Vì vậy, chúng ta cần cố gắng, tạo điều kiện cho các em tự giáo dục, tự tu dưỡng nhưng phải
gắn liền với việc xây dựng tập thể lớn mạnh, với sự tiến bộ củ
a bạn bè.
-Tính độc lập được phát triển mạnh ở tuổi thiếu niên.
Bước vào tuổi thiếu niên, các em nhận rõ những biến đổi về thể chất và đời sống tâm lý của
mình. Các em có khuynh hướng đánh giá cao những biến đổi đó và tự cho mình đã lớn để có
thể sống độc lập.
-Do có nhu cầu tự khẳng định mình và xu hướng muốn vươn lên làm người lớn, thiếu niên đòi
h
ỏi mọi người xung quanh công nhận quyền làm người lớn của mình.
-Trong thực tế,so với tiểu học, thiếu niên đã có nhiều khả năng để tự lập cuộc đời mình, tuy
nhiên các em thường đánh giá mình quá cao, dẫn đến tình trạng bảo thủ, không chịu nghe
người khác, nên các em dễ vi phạm những quy tắc ứnh xử và kỹ luật tập thể.
-Trong công tác giáo dục thiếu niên, việc tôn trọng tính độc lập củ
a thiếu niên không có nghĩa
là buông lỏng các em, mà phải thường xuyên kiểm tra để kịp thời uốn nắn những lệch lạc và
đề ra cho các em những yêu cầu ngày càng cao trong học tập, lao động, xử thế.
4.2.2 Sự hình thành đạo đức, lý tưởng của học sinh THCS:
- Do sự phát triển mạnh mẽ của tự ý thức… mà đạo đức của các em được phát triển mạnh
mẽ. Sự hình thành ý thức đạo đức nói chung, sự lỉnh h
ội tiêu chuẩn hành vi đạo đức nói
riêng là đặc điểm tâm lý quan trọng trong lứa tuổi thiếu niên.
- Cũng bước vào tuổi thiếu niên, sức lực và khả năng của các em được phát triển. Nhiều em
đã có ý thức sáng tạo, năng khiếu được hình thành tương đối rõ nét. Đó là cơ sở để các em
đặt ra những ước mơ về tương lai.
+ Tính chất ước mơ của các em nói chung là trong sáng . chẳng hạn, có em mơ ước sau này
trở thành nhà khoa học, nhà thơ, phi công…Song mơ ước của các em còn nặng tính viễn vông
xa thực tế. Thường các em ít gắn những ước mơ của mình với việc học tập, rèn luyện hàng
Đặc điểm này do ảnh hưởng của sự phát dục và sự thay đổi một số cơ quan nội tạng gây nên,
nhiều khi còn do hoạt động thần kinh không cân bằng, thường hưng phấn mạnh hơn ức chế,
khiến các em không kiềm chế được bản thân.
- Thiếu niên dễ xúc cả
m khi tham gia bất cứ hoạt động nào: học tập, lao động hay vui chơi
giải trí, các em đều thể hiện tình cảm rất rõ rệt & mạnh mẽ.
Đặc biệt, những lúc xem phim, xem kịch, các em có những biểu hiện xúc cảm rất đa dạng,
khi hồi hộp, cảm động, lúc thì phấn khởi vui tươi, khi lại la hét om xòm.
- Thiếu niên có tâm trạng thay đổi dể dàng và nhanh chóng.
Có lúc đang vui nhưng chỉ vì một cớ gì đó lại sinh ra buồ
n ngay. Do đó chúng ta thấy , các em
thiếu niên lúc thì vui quá trớn, lúc lại buồn ủ rủ, khi thì quá hăng say, lúc lại chán nản u sầu.
- Do sự thay đổi quá dễ dàng trong xúc cảm, nên thái độ của các em thiếu niên đối với
những người xung quanh cũng có nhiều mâu thuẩn. Chẳng hạn, đối với các em nhỏ, có lúc
thiếu niên tỏ ra trìu mến, nhưng có lúc lại vô cớ bắt nạt, đe doạ, trêu trọc. Đối với những
người già yếu, tàn tậ
t cũng vậy có lúc các em giúp đỡ tận tình, có lúc lại tỏ ra vô lễ, thô
tục.
Tóm lại, những biểu hiện tình cảm của thiếu niên mang tính đôïc đáo. Đó là tính bồng bột,
sôi nổi dễ bị kích động và dễ thay đổi do những biến đổi về sinh lý gây ra. Tuy nhiên, tình
cảm của thiếu niên đã bắt đầu biết phục tùng ý chí và đã trở nên chiều sâu và chiều rộng. Tính
bột phát trong tình cảm dần dần bị
mất đi, nhường chỗ cho tình cảm có ý thức phát triển. Nhờ
giáo dục và dạy học cũng như mối quan hệ xã hội của các em ngày càng phong phú và phức
tạp hơn.
IV. Đặc điểm tâm lý học sinh chưa ngoan
.
1. Trẻ “chưa ngoan” có nhiều biểu hiện lệch lạc trong sự phát triển nhân cách và về đời sống
tâm lý. Toàn bộ hành vi của trẻ khó giáo dục đều do các nhu cầu gây ấn tượng, nhu cầu tự
khẳng định ( một cách bất bình thường) quyết định. Những biểu hiện của tính khó giáo dục
suy nghĩ -hành vi này trở thành yếu tố thống trị mọi hành vi của chúng. Chi phối tất cả các
nhu cầu khác. Tiến thêm một bước nữa, sự khó giáo dục trở thành đường hướng hướng phát
triển tiêu cực chủ đạo tâm lý và trở thành yếu tố định hướng mọi hành vi, mọi suy nghĩ của trẻ
hư. Trong phạm vi giáo dục lại tr
ẻ chưa ngoan, khái niệm “ đường hướng phát triển tiêu cực
chủ đạo của tâm lý”, bao gồm :
-Gồm một phức hợp các nhu cầu phản xã hội, giữ vai trò thống trị trong thế giới đạo đức, từ
đó quyết định mục đích, động cơ hành vi của trẻ, kết quả là hình thành ở chúng một kiểu
hành vi ương bướng, trái với lẽ thông thường: trẻ hư làm tất cả m
ọi việc theo kiểu phản ứng,
trêu ngươi, trái với những điều được giáo dục, trái với mong đợi của mọi người.
-Là phức hợp những phẩm chất tiêu cực và những khuyết điểm ( so với các chuẩn mực đạo
đức thông thường) nhưng đảm bảo đem lại sự thoả mãn nhanh chóng và đầy đủ các nhu cầu
lệch lạc của chúng; chính do những nhu cầu sai trái đó, chúng c
ự tuyệt các phẩm chất tốt,
ngày càng sa vào những thiếu sót và khuyết điểm.
-Đôi lúc trong thâm tâm chúng vẫn lờ mờ cảm thấy sự không bình thường trong phẩm chất
đạo đức, trong tính cách của mình nên mọi cách che đậy những khuyết điểm, những sai trái;
biện hộ cho các hành vi phản xã hội của mình.
- Ở trẻ chưa ngoan còn bộc lộ cách suy nghĩ và hành vi là sự thiếu tính xu hướng xã hội lành
mạnh, sự không ổn
định của tính cách. Sự thiếu tính xu hướng xã hội cuối cùng dẫn tới tính
vô nguyên tắc và hình thành tính liều lĩnh, tuỳ tiện, nhưng lại nhát gan, nhu nhược trước
những khó khăn thử thách; và do đó mà đạo đức phẩm hạnh của chúng, theo thời gian, dần
thoái hoá suy đồi.
3. Một trong những nét tính cách đặc trưng của học sinh chưa ngoan là thái độ bất chấp tất cả
mọi ảnh hưởng của giáo dục, coi thường ho
ặc phủ nhận các thầy cô giáo, các nhà giáo dục.
Lúc đầu trẻ có biểu hiện coi thường cha mẹ và người lớn xung quanh, khi chúng đến trường
trong tình cảm và tâm tư như vậy mà lại gặp phải sự lạnh nhạt, bất công của thầy cô thì các “