LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư là một hoạt động kinh tế và là một bộ phận hoạt động sản xuất kinh
doanh của các đơn vị, doanh nghiệp. Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm
lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh của các đơn vị nói riêng.
Mỗi hoạt động đầu tư được tiến hành với rất nhiều công việc có những đặc
điểm kinh tế - kỹ thuật đa dạng. Nguồn lực huy động cho hoạt động đó thường rất
lớn. Thời gian thực hiện và kết thúc đầu tư, nhất là việc thu hồi đầu tư vốn đã bỏ ra,
hoặc đem lại những lợi ích cho xã hội, là một quá trình có thời gian dài. Do đó, để sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực đã chi cho công cuộc đầu tư, đem lại lợi ích kinh tế
xã hội lớn nhất cho đất nước, ngành và các đơn vị, một trong những vấn đề quan
trọng có tính chất quyết định của mọi công cuộc đầu tư là những nhừng trực tiếp
quản lý điều hành quá trình đầu tư và thực hiện đầu tư phải được trang bị đầy đủ các
kiến thức về hoạt động đầu tư và dự án đầu tư.
Để có cái nhìn khái quát về các nguyên tắc trong quản lý hoạt động đầu tư ở
Việt Nam nói chung và ở các nước khác nói riêng, chúng em đã lựa chọn đề tài:
“Trình bày các nguyên tắc quản lý hoạt động đầu tư và sự tuân thủ các nguyên tắc
này khi quản lý đầu tư ở Việt Nam”. Nội dung đề tài gồm 03 chương:
Chương 1: Khái niệm chung về quản lý hoạt động đầu tư
Chương 2: Các nguyên tắc trong quản lý hoạt động đầu tư
Chương 3: Sự tuân thủ các nguyên tắc trong quản lý đầu tư ở Việt Nam
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc trình bày, nhưng chắc chắn bài làm
của chúng em không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được sự
góp ý của cô giáo để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!.
1 1
CHƯƠNG 1
Khái niệm chung về quản lý hoạt động đầu tư
1.1. Khái niệm quản lý đầu tư
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối
tượng quản lý để điều khiển đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng mục tiêu vào
và tiết kiệm chi phí…
Mục tiêu quản lý đầu tư đối với từng dự án
Nhằm thực hiện đúng mục tiêu của dự án, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
của đầu tư trên cơ sở thực hiện đúng thời gian đã định trong phạm vi chi phí được
duyệt và với tiêu chuẩn hoàn thiện cao nhất.
1.3. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đầu tư
Đầu tư là một trong những vấn đề quan trọng của đất nước, huy động các
nguồn lực tài chính trong và ngoài nước, vì thế các cơ quan chức năng của Nhà nước
đều có liên quan đến đầu tư, chịu trách nhiệm quản lý đầu tư và có các chức năng
khác nhau, được quy định cụ thể trong Luật đầu tư và các văn bản quy phạm pháp
luật của Nhà nước.
Sơ đồ hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đầu tư
3 3
Quốc hội
Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ
Các Bộ, ban, ngành, địa phương
Quốc hội là cơ quan cao nhất có quyền phê chuẩn và ban hành các luật pháp
có liên quan đến đầu tư, quyết định các chủ trương đầu tư lớn có tầm quan trọng đến
sự phát triển của đất nước.
Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư trong phạm vi cả
nước; chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát
triển theo ngành, lĩnh vực và vùng kinh tế; ban hành chính sách, văn bản quy phạm
pháp luật về đầu tư; phân cấp quản lý Nhà nước về đầu tư cho các Bộ, ngành và địa
phương.
4
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
- Bộ Tài chính;
- Bộ Xây dựng;
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
giữa kinh tế và chính trị,và tạo động lực đồng chiều cho mọi người dân trong xã hội,
là một trong những nguyên tắc cơ bản của việc quản lý kinh tế có căn cứ khoa học
trong phạm vi quốc gia. Phát triển luận điểm của Mác và Ănghen về sự tương quan
giữa chính trị và kinh tế, Lênin đã xác định sự thống nhất biện chứng và sự tác động
qua lại giữa hai hoạt động của con người: chính trị và kinh tế.
Chính trị là lĩnh vực của những quan hệ nhất định trong xã hội diễn ra như là
hoạt động có ý thức của con người. Đó là một hình thức nhận thức phản ánh mức độ
lớn nhất các quan hệ kinh tế của con người. Ngoài những yếu tố khách quan, chính
trị bao gồm cả yếu tố chủ quan.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa có hai đối sách đối lập nhau: Đối sách của Nhà
nước tư bản chủ nghĩa và đối sách của giai cấp công nhân do đảng cộng sản lãnh
đạo. Mối liên hệ và tác động qua lại giữa chính trị và kinh tế trong xã hội tư bản chủ
nghĩa được thực hiện qua sự đấu tranh thường xuyên giữa hai lực lượng đó.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa không có sự phân chia đó, vì nhân dân là người
chủ thực sự của tư liệu sản xuất, nắm quyền lực chính trị trong tay. Nhưng cũng
không dễ có chính sách thích nghi ngay với yêu cầu, khi chưa có cơ sở kinh tế xã hội
chủ nghĩa. Theo quan điểm của Lênin, sự thích nghi của chính trị với kinh tế không
thể tránh khỏi, nhưng không phải ngay tức khắc đã trơn tru, không phải giản đơn và
trực tiếp. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước này hay nước khác,vẫn
6 6
chưa giải quyết được vấn đề thích nghi đầy đủ giữa chính trị với nhu cầu phát triển
kinh tế trong khuôn khổ được chấp nhận của con người.
∗ Sự thống nhất và sự tác động khách quan khác nhau giữa chính trị và kinh
tế được thể hiện ở các đặc điểm sau:
Một là, sự thống nhất và mối liên hệ lẫn nhau giữa chính trị và kinh tế không
có nghĩa là sự đồng nhất giữa chúng, vì đó là hai phạm vi khác nhau của hoạt động
con người, tuy chúng được phát triển trong sự thống nhất và phụ thuộc lẫn nhau.
Không thể nhìn thấy ngay lợi ích kinh tế trực tiếp và đầy đủ trong mọi hành động
chính trị. Đôi khi muốn đạt được lợi ích kinh tế nào đó, cần có hàng loạt biện pháp
chính trị quá độ. Có thể có lợi ích chính trị trong những trường hợp mà lợi ích kinh
2. Nhà nước phải biến đổi các đường lối của đảng thành các kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
3. Nhà nước phải chăm lo giải quyết vấn đề cán bộ, vấn đề lao động, vấn đề
xã hội.
4. Nhà nước phải triển khai thực hiện kế hoạch đã vạch ra.
5. Nhà nước phải kiểm tra, tổng kết việc thực hiện kế hoạch, tìm tòi mọi giải
pháp có thể phát triển đất nước.
Vừa phát triển kinh tế, vừa phải quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng của
đất nước.
Trong phạm vi nhỏ hơn (các doanh nghiệp), nguyên tắc kết hợp lãnh đạo
chính trị và kinh tế là sự ràng buộc mà các doanh nghiệp phải tuân thủ về luật pháp,
thông lệ kinh doanh trong quá trình hoạt động. Còn trong quan hệ làm ăn kinh tế
trước mắt mà mất cảnh giác thì dễ bị thôn tính về mặt chính trị, bị hòa tan vào chủ
nghĩa tư bản.
8 8
2. Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp quản lý theo địa phương và
vùng lănh thổ
Nhà nước phải có một thể chế thống nhất. Bộ máy Nhà nước được tổ chức
hoạt động theo các cấp hành chính nhàn nước và theo quy định là cấp dưới phải phục
tùng cấp trên. Địa phương phải phục tùng Trung ương. Đó là quản lý lãnh thổ của
chính quyền địa phương.
Các đơn vị thuộc các ngành kinh tế - kỹ thuật đều nằm trên một địa bàn lãnh
thổ nhất định. Các đơn vị đó phải chịu sự quản lý lãnh thổ của Ngành (Bộ), đồng
thời nó cũng phải chịu quản lý lãnh thổ của chính quyền địa phương trong một số
mặt theo chế quy định. Hai mặt đó tạo nên sự thống nhất giữa cơ cấu kinh tế ngành
với cơ cấu kinh tế lãnh thổ trong một cơ cấu kinh tế chung.
Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ phải phối
hợp, gắn bó với nhau trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, có trách nhiệm chung trong
việc hoàn thành kế hoạch Nhà nước của ngành cũng như lãnh thổ, có trách nhiệm,
nghĩa vụ và quyền lợi của từng bên và của cả hai bên theo luật định.
− Thông qua công tác kế hoạch hóa để vạch ra mục tiêu phát triển đất nước.
− Thông qua và thực thi hệ thống pháp luật quản lý kinh tế.
− Thực hiện chế độ một thủ trưởng ở tất cả các đơn vị, các cấp.
∗ Biểu hiện của dân chủ là:
− Xác định rõ vị trí, trách nhiệm, quyền hạn của các cấp.
− Hạch toán kinh tế.
− Chấp nhận cạnh tranh, chấp nhận mở cửa.
− Giáo dục, bồi dưỡng trình độ kiến thức cho quần chúng.
− Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo địa phương, vùng lãnh thổ.
Hiện nay ở Việt Nam, việc đầu tư công không được kiểm soát chặt chẽ trong
10 10
thời gian dài là một trong những nguyên nhân chính khiến lạm phát tăng cao. Trong
báo cáo kiểm toán năm 2007, Kiểm toán Nhà nước kết luận, đã có nhiều sai phạm,
thiếu sót trong đầu tư xây dựng cơ bản, diễn ra ở mọi khâu: từ khâu lập và giao dự
toán cho tới khâu giám sát, thực hiện; tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún diễn ra
trong những năm vừa qua vẫn chậm được khắc phục, dẫn đến việc bố trí vốn cho các
dự án vượt quá khả năng. Công tác quản lý nguồn vốn đầu tư lỏng lẻo đã tạo các kẻ
hở gây thất thoát vốn đầu tư ngân sách và vốn tín dụng đầu từ Nhà nước.
Đầu tư còn dàn trải, số lượng dự án duyệt chờ ngân sách cấp vốn có xu hướng
tăng thực tế đang là áp lực lớn đối với ngân sách Nhà nước trong điều kiện ngân
sách còn hạn hẹp như hiện nay. Do đó vấn đề đặt ra là cần xác định rõ mục tiêu ưu
tiên đầu tư, lĩnh vực, công trình cần đầu tư để tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực
thiết yếu đó phát triển; đồng thời mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế tư
nhân. Việc làm này không những giúp cơ quan chức năng quản lý tốt hơn nguồn vốn
đầu tư mà còn tận dụng được mọi nguồn lực để phát triển.
Bên cạnh đó, việc phân cấp quản lý trong đầu tư và xây dựng cần cụ thể, rõ
ràng hơn, từ khâu thẩm định, đấu thầu, bố trí nguồn vốn cho đến quản lý, thực hiện
các dự án đầu tư. Phân cấp quyết định đầu tư cần được gắn liền với trách nhiệm huy
động vốn thực hiện, trách nhiệm khi để xảy ra thất thoát, lãng phí và không hiệu quả
của mỗi cá nhân, cơ quan cụ thể khi đã được phân cấp.
kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành. Nhà nước giúp hợp tác xã đào
tạo cán bộ, ứng dụng khoa học công nghệ, nắm bắt thông tin, mở rộng thị trường,
xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, giải quyết nợ tồn đọng. Khuyến khích
12 12
việc tích lũy, phát triển có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã. Tổng kết việc
chuyển đổi và phát triển hợp tác xã theo Luật hợp tác xã.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu
dài. Nhà nước tạo diều kiện giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ
chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.
Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề
sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. tạo môi trường kinh doanh thuận lợi
về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu
tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh
nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với
kinh tế tạp thể và kinh tế Nhà nước. Xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và
người lao động.
Phát triển đa dạng kinh tế tư bản Nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên
kết giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước,
mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh.
Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng
vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ
hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút
mạnh vốn đàu tư nước ngoài.
Chú trọng phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp
nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong và ngoài
nước. Phát triển mạnh hình thức tổ chức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng
rộng rãi vốn đầu tư xã hội. Nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết công nghiệp và nông
nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước và kinh tế hộ nông thôn. Phát triển các loại hình
trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa bàn.
13 13
hợp đồng lao động, huy động làm thêm giờ, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động và chế
độ đối với lao động nữ. Đối với người lao động, thiệt thòi sau mỗi vụ đình công nhẹ
thì phải làm cật lực để bù lại tiền lương, năng suất công việc của những ngày nghỉ
làm; nặng thì mất thời gian đi tìm việc làm mới. Đối với các công ty, thiệt hại còn
lớn hơn nhiều. Ông Yoo Jae Sung, TGĐ Công ty Taekwang Vina cho biết: "Vụ đình
công trong 5 ngày cuối năm 2007 đã gây thiệt hại cho công ty tới 4 triệu USD”.
Tương tự, ông Kitahashi Akihiko, TGĐ Công ty Mabuchi Motor cũng than thở: "Chỉ
trong gần 5 ngày đình công đầu năm 2008, công ty bị ngừng trệ sản xuất đã thiệt hại
tới 3,5 triệu USD”.
6. Nguyên tắc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý
hoạt động đầu tư
Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức và hoạt động quản lý Nhà nước phải dựa trên
cơ sở pháp luật của Nhà nước. Nguyên tắc này không cho phép các cơ quan Nhà
nước thực hiện việc quản lý Nhà nước một cách chủ quan, tùy tiện mà phải dựa vào
pháp luật, làm đúng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước. Để
thực hiện nguyên tắc này phải có ba điều kiện: xây dựng và hoàn chỉnh pháp luật,
giáo dục pháp luật cho toàn dân, phải xử lý một cách nghiêm minh mọi hành vi
phạm pháp luật (kể cả nhân dân và viên chức Nhà nước).
7. Nguyên tắc mở rộng đầu tư với các nước
Nguyên tắc nhất quán của Đảng ta là: mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế theo nguyên tắc các bên cùng có lợi, không xâm phạm độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa
nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân
15 15
tộc, bảo vệ môi trường. Chính phủ cùng các Bộ, Ngành và các doanh nghiệp khẩn
trương xây dựng và thực hiện kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế với lộ trình hợp lý
và chương trình hành động cụ thể, phát huy tính chủ động của các cấp, các ngành và
doanh nghiệp; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh
đầu tư nứơc ngoài.
Thứ hai: Ngoài các chương trình hợp tác đa phương, Chính phủ Việt Nam đã
ký hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 50 nước và vùng
lãnh thổ trên thế giới, tích cực đàm phán gia nhập WTO. Các cam kết quốc tế của
Việt Nam đều hướng tới mục tiêu chung là nhằm mở cửa thị trường, tự do hóa hoạt
động đầu tư nước ngoài.
Thứ ba: Tiếp tục thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà
nước, đồng thời đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước với phạm vi
rộng lớn hơn, bao gồm cả một số tổng công ty, doanh nghiệp lớn làm ăn có hiệu quả,
kể cả các ngành trước nay Nhà nước giữ độc quyền như: Điện lực, Bưu chính Viễn
thông, Ngân hàng, Các nhà đầu tư nước ngoài đều được mua cổ phiếu của các
doanh nghiệp trong nước.
Thứ tư: Chính phủ đã cho phép chuyển đổi một số Doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, và đang có chủ trương mở
rộng tỉ lệ mua cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp.
8. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả
Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt của cùng một vấn đề, đó là làm sao để với
một cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn tài nguyên, lực lượng lao động xã hội hiện có và
17 17
sẽ có trong một giai đoạn phát triển kinh tế nào đó, có thể sản xuất ra được một khối
lượng của cải vật chất và tinh thần nhiều nhất, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
vật chất và tinh thần của xã hội, chứng minh tính hơn hẳn của hệ thống quản lý kinh
tế xã hội chủ nghĩa so với hệ thống quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Nguyên tắc này đòi hỏi mọi tính toán doanh nghiệp đều phải đạt được các
mục tiêu đề ra một cách thiết thực và an toàn, thể hiện ở các chỉ tiêu có hiệu quả kinh
tế cao:
e =
E = -
Trong đó:
e: Hiệu quả so sánh (tương đối)
kiệm nguồn vật tư tương đương với việc mở rộng cơ sở nguyên vật liệu trong công
nghiệp khai thác mà không cần đầu tư thêm cho xây dựng cơ bản. Nó còn đảm bảo
cho việc tiết kiệm lao động sống vì nó giảm bớt nhu cầu về sức lao động cần cho
việc bốc dỡ, vận chuyển và bảo quản các vật tư đang sử dụng, giảm bớt thời gian
công chúng, do đó làm giảm giá thành.
∗ Việc tiết kiệm vật tư được thực hiện bằng cách:
− Áp dụng kỹ thuật mới và quy trình công nghệ tiên tiến
− Cải tiến kết cấu sản phẩm, giảm trọng lượng
− Nâng cao chất lượng sản phẩm
− Sử dụng vật liệu thay thế và phế phẩm
∗ Tiết kiệm lao động sống. Tuy nguồn dự trữ về sức lao động ở nước ta rất
lớn nhưng không vì thế mà không có biện pháp quan trọng để sử dụng hợp lý và tiết
kiệm chúng, đặc biệt là vấn đề nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động, kể
cả lao động quản lý một cách khoa học.
Để tiết kiệm lao động có hiệu quả phải cải tiến bộ máy quản lý, giảm bớt chi
phí hành chính theo hướng gọn nhẹ, thạo việc và linh hoạt
Phải đầu tư có trọng điểm, tránh phân tán tản mạn, coi trọng tính đồng bộ,
tính hệ thống của đầu tư xây dựng cơ bản.
19 19
∗ Tiết kiệm trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Cần có biện pháp bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn tài nguyên. Tránh
tình trạng rừng bị chặt đốn bùa bãi, các hầm mỏ bị khai thác ẩu, đất đai sử dụng
không hợp lý trở thành đất bạc màu, hoặc bị lãng phí trong xây dựng làm mất nhiều
đất, động vật quý hiếm bị đánh bắt vô tổ chức, các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị
mai một dần đi và sức khỏe con người cũng bị tổn hại nghiêm trọng.
20 20
KẾT LUẬN
Thực hiện tốt các nguyên tắc trong quản lý hoạt động đầu tư sẽ đáp ứng tốt nhất
việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ
của quốc gia. Huy động tối đa sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư